IPB

Chào mừng khách viếng thăm diễn đàn ( Đăng nhập | Đăng ký thành viên )

Loading

Nội quy diễn đàn

 
Reply to this topicStart new topic
> GS. Lưu Hữu Phước, cây đại thụ của nền âm nhạc Cách mạng Việt Nam
post Mar 19 2008, 01:30 AM
Post #1



Administrator
***

Group: Root Admin
Posts: 685
Thank(s): 3089
Joined: 20-04-07
Member No.: 1




Có lẽ không phải ai cũng được biết nhạc sĩ Lưu Hữu Phước xưa kia lại là sinh viên Trường Y - Dược, một thành viên của Đại học Đông Dương vào những năm 1940 - 1944 và cũng chính tại nơi đây ông bắt đầu tham gia cách mạng trong phong trào thanh niên - sinh viên yêu nước để rồi trở thành một trong những cây đại thụ của nền âm nhạc cách mạng Việt Nam. Ông đă cống hiến cả cuộc đời, tài năng cho đất nước và đă để lại cho chúng ta một sự nghiệp âm nhạc lớn lao, đa dạng, bao gồm nhiều thể loại từ những bài hát lịch sử hào hùng, những hành khúc hoành tráng, những ca cảnh, những bản nhạc múa cho đến những vở nhạc kịch cuối đời...

Sinh ngày 12.9.1921, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước lớn lên tại quê nhà - huyện Ô Môn, tỉnh Cần Thơ. Thuở nhỏ được cha cho học đàn ḱm, về sau có chơi cả mandoline, guitare và tự học lư thuyết âm nhạc. Vào năm 1940 khi c̣n là học sinh Trường Trung học Pétrus Kư (nay là Trường Lê Hồng Phong, thành phố Hồ Chí Minh), Lưu Hữu Phước đă sáng tác "Hành khúc của thanh niên Nam Kỳ" với mục đích cổ vũ tinh thần đoàn kết yêu nước nhân phong trào học sinh đang được phát động.

Bước ngoặt của cuộc đời ông bắt đầu từ sau khi đỗ tú tài, Lưu Hữu Phước cùng với người bạn nổi tiếng Mai Văn Bộ lên tàu hoả ra Hà Nội để học tiếp bậc đại học. Dọc đường, ông có dịp được ngắm nh́n nhiều phong cảnh của đất nước và thực sự chưa bao giờ ông cảm nhận được tâm hồn và cái đẹp của quê hương một cách sâu sắc đến như vậy. Tinh thần yêu nước, yêu đồng bào lại càng được khơi dậy trong tâm trí của người thanh niên miền Nam mới ra Bắc lần đầu tiên đă cảm thấy như ḿnh được trở về với quê nhà. Bắt đầu ư thức hướng về cội nguồn được nhen nhóm trong trái tim của ông qua kư ức ôn lại những chiến công oanh liệt của tổ tiên ta trong những cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, những địa danh linh thiêng: Thăng Long, Đông Đô, Bạch Đằng, Chi Lăng..., những di tích lịch sử vẻ vang rải khắp miền Bắc, tất cả đă đem lại cho ông những cảm xúc mănh liệt để từ đó sáng tạo nên những tác phẩm âm nhạc có sức lôi cuốn mạnh mẽ, thúc giục và động viên tinh thần yêu nước của nhân dân, đặc biệt là tầng lớp thanh niên, tiến lên theo con đường cách mạng giải phóng dân tộc v́ độc lập, tự do và thống nhất đất nước...

Những năm là sinh viên ở Hà Nội, Lưu Hữu Phước được sống trong bầu không khí sôi sục của cuộc đấu tranh chính trị giữa phong trào yêu nước của nhân dân ta với thực dân Pháp đang diễn ra, được chứng kiến những sự kiện trọng đại có liên quan đến vận mệnh dân tộc, từ việc Pháp đầu hàng phát xít Đức, thực dân Pháp ở Đông Dương đầu hàng phát xít Nhật đến hai cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn và Nam Kỳ bị đàn áp khốc liệt. Trong phong trào hưởng ứng chủ trương hướng về nguồn, sinh viên đă tổ chức nhiều đoàn xe đạp đi thăm viếng những di tích lịch sử nhằm bồi dưỡng nâng cao tinh thần dân tộc, đấu tranh chống ngoại xâm. Từ những chuyến đi thâm nhập thực tế độc đáo và đầy ư nghĩa ấy, Lưu Hữu Phước đă sáng tác được nhiều ca khúc nổi tiếng như "Bạch Đằng Giang", "Ải Chi Lăng", "Hát giang trường hận" (sau đổi tên là "Hồn tử sĩ"), "Hờn sông Gianh", "Người xưa đâu tá" và "Hội nghị Diên Hồng" là đỉnh cao của thể loại bài hát về đề tài lịch sử.

Một sự kiện quan trọng nữa là cuộc hành hương về Đền Hùng nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương (năm 1942), dấy lên phong trào sinh viên từ bỏ mộng học giỏi đỗ cao để làm quan cho thực dân Pháp, đồng ḷng quyết tâm trau dồi ư thức cứu dân, cứu nước, sẵn sàng tiến lên "đáp lời sông núi" khi Tổ quốc cần. Lần đầu tiên bài hát "Tiếng gọi sinh viên" tựa như một lời hiệu triệu đanh thép, hào hùng do một dàn hợp xướng mấy chục người tŕnh diễn được vang lên ở chân núi Nghĩa Lĩnh trong một đêm lửa trại lịch sử (Bài hát này chính gốc là "Bài hát kêu gọi khởi nghĩa" được sáng tác năm 1940 sau cuộc khởi nghĩa Nam Bộ bị thực dân Pháp đàn áp đẫm máu, về sau được đặt lời mới dành cho phong trào sinh viên để dễ được phổ biến).

"Tiếng gọi sinh viên" sau đổi tên thành "Tiếng gọi thanh niên" là một chính ca bất hủ nhanh chóng lan rộng từ Bắc chí Nam, theo sự lớn mạnh của phong trào sinh viên yêu nước, góp phần mạnh mẽ đánh bại mưu đồ của thực dân Pháp ḥng làm lung lạc ư chí cách mạng của thanh niên ta thời bấy giờ bằng bài hát có tên gọi "Maréchal, nous voilà!" (Thưa thống chế, có chúng tôi sẵn sàng)...

Một sự kiện gây ấn tượng mạnh đối với mọi người là trong khi các bản nhạc hùng tráng của Lưu Hữu Phước đang lần lượt vang lên trong khí thế cách mạng tràn ngập trên cả nước th́ vở ca kịch "Tục lụy" của ông được tŕnh diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội ngày 21.3.1943, minh chứng thêm tài năng của ông trong lĩnh vực âm nhạc trữ t́nh, lăng mạn, giàu bản sắc dân tộc, với bút pháp bay bổng độc đáo.

Năm 1944, Lưu Hữu Phước được Mặt trận Việt Minh giao nhiệm vụ vào Nam tham gia vận động cách mạng cùng với lúc nổ ra phong trào của đông đảo sinh viên ba miền Nam - Trung - Bắc rủ nhau bỏ học để trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng. Nhóm Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Đặng Ngọc Tốt trong một đêm đă tập trung soạn ba bài hát: "Xếp bút nghiên", "Mau về Nam" và "Gieo ánh sáng" để kịp thời cổ vũ cho phong trào này, c̣n được gọi là phong trào Xếp bút nghiên, rầm rộ kéo dài đến măi tận ngày khởi nghĩa tháng 8.1945 cùng với sự ra đời của bài ca "Khúc khải hoàn" của ông mang đậm phong cách ngợi ca, hoành tráng...

Tháng 5.1946, Lưu Hữu Phước được điều động ra Hà Nội, đầu tiên lănh trách nhiệm thành lập Trung ương Nhạc viện (9.1946), sau đó ông cùng tập thể Hội Văn hoá Cứu quốc tản cư đi kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc. Ông được giao nhiệm vụ thành lập đội Thiếu nhi tuyên truyền xung phong, sau được đổi tên là Đoàn nhạc kịch Thiếu nhi kháng chiến thuộc Trung ương Nhạc viện. Đoàn đă lần lượt tŕnh diễn một số vở ca kịch do ông sáng tác như "Con thỏ ngọc", "Diệt sói lang", "Phá mưu bù nh́n", "Hai chàng lưng gù" và "Hái hoa dâng Bác" nhân kỷ niệm 60 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Sau đó Bác Hồ cho thành lập Trường Thiếu nhi Nghệ thuật và nhạc sĩ Lưu Hữu Phước được cử làm Giám đốc.

Trong kháng chiến chống Pháp, vẫn ông là tác giả của nhiều tác phẩm âm nhạc có giá trị như "Ca ngợi Hồ Chủ Tịch", "Đông Nam Á châu đại hợp xướng", "Tuổi hai mươi", "Thiếu nhi thế giới liên hoan", "Nông dân vươn ḿnh", "Hăngri Máctanh", "Em yêu chị Rây-mông", "Cả cuộc đời về ta"...

Sau kháng chiến chống Pháp, từ năm 1954 đến 1965, Lưu Hữu Phước được bổ nhiệm làm Trưởng Ban Nghiên cứu Nhạc - Vũ thuộc Vụ Nghệ thuật, Bộ Văn hoá, sau đó làm Vụ trưởng Vụ Âm nhạc và Múa, ngoài ra c̣n được bầu làm Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Ban Thư kư Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ông đă có công tổ chức các nhạc sĩ đi thực tế sưu tầm dân ca và đă cho ra đời công tŕnh nghiên cứu "Dân ca quan họ". Ông đă góp phần không nhỏ trong việc thành lập Trường Âm nhạc Việt Nam đầu tiên của nước ta (nay là Nhạc viện Hà Nội), Trường Múa, Trường Sân khấu Điện ảnh, Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc Vũ Kịch Việt Nam, trong đó có Dàn nhạc Giao hưởng đă biểu diễn thành công lừng lẫy tại thành phố Sài G̣n sau ngày miền Nam được hoàn toàn giải phóng (1975).

Từ tháng 2.1965, Lưu Hữu Phước được cử đi B công tác, trực tiếp tham gia cuộc chiến tranh giải phóng miền Nam vào thời điểm hết sức khốc liệt. Ông được cử làm Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng, sau đó Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hoá của Chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam. Dù ở cương vị lănh đạo nào, ông vẫn không quên sự nghiệp âm nhạc thiêng liêng của ḿnh. Lưu Hữu Phước đă sáng tác cho miền Nam một loạt các bài hát nổi tiếng như "Bài hát Giải phóng quân", "Giờ hành động", "Hành khúc giải phóng", "Xuống đường", "Tiến về Sài G̣n", đặc biệt là "Giải phóng miền Nam" là một đỉnh cao của thể loại hành khúc của âm nhạc cách mạng Việt Nam.

Sau ngày giải phóng miền Nam, ông trở về làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Âm nhạc (1978 - 1989), được phong học hàm Giáo sư và Viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm Nghệ thuật CHDC Đức, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Âm nhạc Quốc gia, Thành viên Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, ngoài ra c̣n là Chủ nhiệm Uỷ ban Văn hoá và Giáo dục của Quốc hội, Uỷ viên Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc, Phó chủ tịch Đoàn Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

GS. Lưu Hữu Phước là một nhà hoạt động chính trị lỗi lạc, một trí thức lớn đă có nhiều công lao đóng góp cho sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, đặc biệt đă để lại cho đất nước một di sản văn hoá âm nhạc vô cùng quư giá, xứng đáng là một trong những con chim đầu đàn của nền âm nhạc mới Việt Nam. Những tác phẩm của ông, đặc biệt là những bài hát lịch sử, những ca khúc cách mạng kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, có tác dụng to lớn trong việc giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần đấu tranh bảo vệ đất nước của dân tộc ta từ ngàn xưa đến nay, làm cho chúng ta hiểu một cách sâu sắc những giai đoạn quan trọng của cách mạng Việt Nam ở thời đại Hồ Chí Minh vĩ đại từ thời kỳ tiền khởi nghĩa đến ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Ông đă được Đảng và Nhà nước tặng thưởng hiều Huân chương cao quư, trong đó có Huân chương Độc lập hạng Nhất (1987) và Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật (1996)./.




------------------------------

Lưu Hữu Phước (1921-1989) là một trong những nhạc sĩ tiên phong của tân nhạc Việt Nam.
Thời trẻ và bước đầu tham gia cách mạng

Lưu Hữu Phước c̣n có những bút danh khác: Huỳnh Minh Siêng, Long Hưng, Anh Lưu, Hồng Chí. Ông sinh ngày 12 tháng 9 năm 1921 tại Ô Môn, Cần Thơ (nay thuộc thành phố Cần Thơ. Thuở nhỏ được cha cho học đàn ḱm, về sau có chơi cả mandoline, guitare và tự học lư thuyết âm nhạc.

Khoảng cuối thập niên 1930, ông lên Sài G̣n học tại [Chuyên Lê Hồng Phong|trường Petrus Kư]. Trong thời gian này, ông kết thân với Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ, làm thành bộ 3 Huỳnh - Mai - Lưu, thành lập Câu lạc bộ Học sinh (Scholar Club) trường trung học Petrus Kư ... là đầu mối hội tụ những học sinh, sinh viên yêu nước. Cũng trong thời gian này, ông sáng tác bài hát La Marche des Étudiants vào cuối năm 1939, và được Mai Văn Bộ đặt lời tiếng Pháp để làm bài hát chính thức của Câu lạc bộ.

Sau khi đỗ tú tài, Lưu Hữu Phước ra Hà Nội học trường Y - Dược, thuộc Đại học Đông Dương (1940-1944). Thời này, do ảnh hưởng của phong trào Mặt trận B́nh dân nên phong trào đấu tranh chính trị của sinh viên Đông Dương rất mạnh mẽ. Lưu Hữu Phước nhanh chóng trở thành một trong những thủ lĩnh của phong trào, và có dịp tiếp xúc với một số thành viên của Việt Minh. Trong những đợt tổ chức các hoạt động về nguồn của sinh viên, Lưu Hữu Phước đă sáng tác được nhiều ca khúc nổi tiếng như "Bạch Đằng Giang", "Ải Chi Lăng", "Hát giang trường hận" (sau đổi tên là "Hồn tử sĩ"), "Hờn sông Gianh", "Người xưa đâu tá" và "Hội nghị Diên Hồng", được xem là đỉnh cao của thể loại bài hát về đề tài lịch sử của Việt mhf Nam, nhằm hun đúc t́nh thần dân tộc cho thanh niên Việt Nam.

Nhân cuộc hành hương về Đền Hùng nhân ngày Giỗ tổ Hùng Vương năm 1942, nhằm thức tỉnh sinh viên từ bỏ mộng học giỏi đỗ cao để làm quan cho thực dân Pháp, đồng ḷng quyết tâm trau dồi ư thức cứu dân, cứu nước, sẵn sàng tiến lên "đáp lời sông núi" khi Tổ quốc cần, ông đă sửa phần lời Việt của bài La Marche des Étudiants thành bài "Tiếng gọi sinh viên", biểu diễn dưới chân núi Nghĩa Lĩnh do một dàn hợp xướng mấy chục người tŕnh diễn. Không lâu sau, bài hát trở nên phổ biến từ Bắc chí Nam với tên gọi "Tiếng gọi thanh niên".

Bên cạnh đó, ngày 21 tháng 3 năm 1943, vở ca kịch "Tục lụy" của ông được tŕnh diễn tại Nhà hát lớn Hà Nội. Cái tên Lưu Hữu Phước trở nên nổi tiếng trong giới thanh niên Việt Nam thời bấy giờ.

Năm 1944, Lưu Hữu Phước được Mặt trận Việt Minh giao nhiệm vụ vào Nam tham gia vận động cách mạng cùng với lúc nổ ra phong trào của đông đảo sinh viên ba miền Nam - Trung - Bắc rủ nhau bỏ học để trực tiếp tham gia hoạt động cách mạng. Nhóm Lưu Hữu Phước, Huỳnh Văn Tiểng, Mai Văn Bộ và Đặng Ngọc Tốt trong một đêm đă tập trung soạn ba bài hát: "Xếp bút nghiên", "Mau về Nam" và "Gieo ánh sáng" để kịp thời cổ vũ cho phong trào này, c̣n được gọi là phong trào Xếp bút nghiên, rầm rộ kéo dài đến măi tận ngày khởi nghĩa tháng 8 năm 1945 cùng với sự ra đời của bài ca "Khúc khải hoàn" của ông mang đậm phong cách ngợi ca, hoành tráng...

Tham gia công tác văn nghệ

Sau khi Pháp gây hấn ở Nam Bộ, Lưu Hữu Phước tham gia công tác tuyên truyền với chức vụ Giám đốc pḥng xuất bản Nam Bộ trong một thời gian ngắn. Tháng 5 năm 1946, Lưu Hữu Phước được điều động ra Hà Nội, nhận nhiệm vụ thành lập Trung ương Nhạc viện (tháng 9 năm 1946), sau đó ông cùng tập thể Hội Văn hoá Cứu quốc tản cư đi kháng chiến chống Pháp ở Việt Bắc. Ông được giao nhiệm vụ thành lập đội Thiếu nhi tuyên truyền xung phong, sau được đổi tên là Đoàn nhạc kịch Thiếu nhi kháng chiến thuộc Trung ương Nhạc viện. Đoàn đă lần lượt tŕnh diễn một số vở ca kịch do ông sáng tác như "Con thỏ ngọc", "Diệt sói lang", "Phá mưu bù nh́n", "Hai chàng lưng gù" và "Hái hoa dâng Bác" nhân kỷ niệm 60 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh. Năm 1950, ông được giao nhiệm vụ thành lập Trường Thiếu nhi Nghệ thuật và được cử làm Giám đốc.

Trong kháng chiến chống Pháp, ông là tác giả của nhiều tác phẩm âm nhạc như "Ca ngợi Hồ Chủ Tịch", "Đông Nam Á châu đại hợp xướng", "Tuổi hai mươi", "Thiếu nhi thế giới liên hoan", "Nông dân vươn ḿnh", "Hăngri Máctanh", "Em yêu chị Rây-mông", "Cả cuộc đời về ta"...

Từ năm 1954 đến 1965, ông làm Trưởng Ban Nghiên cứu Nhạc - Vũ thuộc Vụ Nghệ thuật, Bộ Văn hoá, sau đó làm Vụ trưởng Vụ Âm nhạc và Múa, ngoài ra c̣n được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Ban Thư kư Hội Nhạc sĩ Việt Nam. Ông cũng có công tổ chức sưu tầm dân ca và đă cho ra đời công tŕnh nghiên cứu "Dân ca quan họ"; thành lập Trường Âm nhạc Việt Nam đầu tiên của nước ta (nay là Nhạc viện Hà Nội), Trường Múa, Trường Sân khấu Điện ảnh, Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc Vũ Kịch Việt Nam.

Tháng 2 năm 1965, Lưu Hữu Phước được cử vào Nam, giữ chức Chủ tịch Hội Văn nghệ Giải phóng, sau đó Bộ trưởng Bộ Thông tin Văn hoá của Chính phủ Cách Mạng lâm thời miền Nam Việt Nam. Trong giai đoạn này, ông đă sáng tác các bài hát nổi tiếng như "Bài hát Giải phóng quân", "Giờ hành động", "Hành khúc giải phóng", "Xuống đường", "Tiến về Sài G̣n", đặc biệt là "Giải phóng miền Nam" được xem là bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Sau năm 1975, ông trở về làm Viện trưởng Viện Nghiên cứu Âm nhạc (1978-1989), được phong học hàm Giáo sư và Viện sĩ thông tấn của Viện Hàn lâm Nghệ thuật CHDC Đức, được bầu làm Chủ tịch Hội đồng Âm nhạc Quốc gia, Thành viên Hội đồng Âm nhạc Quốc tế, ngoài ra c̣n là Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa và Giáo dục của Quốc hội, Ủy viên Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc, Phó chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

Ông mất năm 1989 tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Sự nghiệp âm nhạc

Lưu Hữu Phước được xem là một trong những nhạc sĩ đầu đàn của giới nhạc sĩ Việt Nam, đại diện cho phái âm nhạc Nam Bộ trong thời điểm khởi đầu của nền tân nhạc. Sở trường của ông là về hành khúc, đặc biệt có rất nhiều tác phẩm của ông được sử dụng như là bài hát chính thức như:

* Tiếng gọi Thanh niên: Bài hát chính thức của tổ chức Thanh niên Tiền phong, sau được Việt Nam Cộng ḥa sửa lời và chọn làm Quốc ca với tên Tiếng gọi công dân.
* Lên đàng: Bài hát chính thức của Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam.
* Hồn tử sĩ: Bài hát được dùng trong các lễ tang theo nghi thức nhà nước của Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa và Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam. Bài hát này trước 1975 cũng được Việt Nam Cộng ḥa sử dụng trong các nghi thức lễ tang quân dội.
* Ca ngợi Hồ Chủ tịch: Được xem là bài Lănh tụ ca tại Việt Nam hiện nay.
* Giải phóng miền Nam: Bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Với những đóng góp của ông vào nền âm nhạc Việt Nam, ông đă được chính quyền Việt Nam tặng thưởng nhiều huân chương, huy chương, trong đó có Huân chương Độc lập hạng nhất (1987), giải thưởng Hồ Chí Minh (1996)

Các tác phẩm

* Ải Chi Lăng
* Bạch Đằng Giang
* Bài ca giải phóng quân
* Bạn đường đi hội đền Hùng
* Gieo ánh sáng
* Hội nghị Diên Hồng
* Hờn sông Gianh (1944)
* Hồn tử sĩ
* Hương Giang dạ khúc
* Hương Lộ tiểu khúc
* Khúc khải hoàn
* Kinh cầu nguyện
* Lên đàng
* Lục quân Trần Quốc Toản
* Lời ru chim Lạc
* Reo vang b́nh minh
* Thanh niên sẵn sàng
* Thiếu nhi thế giới vui liên hoan
* Tiếng gọi thanh niên.
* T́nh Bác sáng đời ta (1969)
* Tuổi 20
* Việt nữ gọi đàn
* Vui xuân

Nhạc kịch

* Tụy lụy (phổ theo Khái Hưng)
* Con Thỏ Ngọc


Theo wiki
Go to the top of the page
 
+Quote Post
The Following 2 Users Say Thank You to nguoi-linh-tre For This Useful Post:
doduclap2009, nhathong
post Feb 12 2009, 10:48 AM
Post #2



Cấp 1
*

Group: Members
Posts: 4
Thank(s): 0
Joined: 12-02-09
Member No.: 5,132



Gioi nhac sy Viet Nam co 1 nhac sy rat tuyet voi, voi nhung chinh ca bat hu la LUU HUU PHUOC. Nhung bai hat cua ong co suc manh ngang hang trieu qua ten lua, hang ngan xe tang, hang van dai bac gop phan dong vien ca dan toc vao cuoc chien tranh giai phong va bao ve to quoc. Chung ta va con chau chung ta mai mai biet on ong.


--------------------
H́nh như mục đích sáng tác của phần nhiều nhạc sỹ (đặc biệt là nhạc sỹ trẻ) bây giờ chỉ để kiếm tiền, nên các bài hát hiện nay (chủ yếu cũng chỉ để phục vụ cho giới trẻ nghe và hát) có nội dung cũng như nghệ thuật chẳng ra ǵ . Thể hiện: nó như là những bài đồng dao không hơn không kém mà ai cũng có thể (trở thành nhạc sỹ, không cần đào tạo vẫn có thể sáng tác được). Đă thế, nội dung (của những "tác phẩm" này chỉ làm vui, buồn cho người nghe, kẻ xem, đề cao lối sống hưởng thụ cá nhân vị kỷ ; người hưởng thụ ḍng ca nhạc này như là kẻ say rượu, vô ư thức, không làm chủ được ḿnh, không biết ḿnh đi đâu về đâu..) không phục vụ cho giáo dục (cái hay, cái đẹp, lư tưởng sống con người, cho đề cao nhân cách con người, cho việc xây dựng và phát huy văn hoá truyền thống cũng như chọn lọc những văn hoá tinh hoa của nhân loại; mà như là đang góp phần làm xói ṃn mỹ tục thuần phong làm mất định hướng lư tưởng sống của lớp trẻ. V́ kiếm tiền mà họ đă có thể vô t́nh (xin đừng coi là "nâng quan điểm") góp phần tiếp tay cho mưu đồ xấu: xâm lược, nô dịch văn hoá của các thế lực thù địch với dân tộc, góp phần làm hư hỏng thanh thiếu niên, làm lu mờ những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.
Trong bối cảnh đó cần phải khuyến khích các cơ quan truyền thông, văn hoá để nhạc cách mạng truyền thống c̣n măi với thời gian và luôn đi với thời gian. Phải làm cho cả người sáng tác và người nghe, xem thấy cái hay, cái tốt của ḍng nhạc này .
Lâu nay (đặc biệt là truyền h́nh) rất coi nhẹ việc làm này; tôi thấy thời lượng dành cho ḍng nhạc này rất ít, những lớp người (ngoài 40 tuổi trở đi) thật hiếm hoi mới được nghe và xem những bài hát này. Thật hơi quá khi nhiều người nhận xét rằng: các bài hát của thanh niên bây giờ nghe như đấm vào tai!, vô văn hoá!, vô lư trí!...
Chả trách bây giờ lư tưởng cao đẹp của thanh niên mờ nhạt.
Nói ra điều này, chắc mấy vị "nhạc sỹ" và mấy "sao" khó chịu lắm th́ phải; cũng phải thôi- "sự thật mất ḷng" mà!
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Mar 7 2009, 10:38 PM
Post #3



Cấp 1
*

Group: Members
Posts: 1
Thank(s): 0
Joined: 09-11-07
Member No.: 393



Adnin ơi, làm ơn cho xin link down các nhạc phẩm của Bác Lưu luôn đi. Em rất thích các tác phẩm của bác Lưu mà khó kiếm quá.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jul 21 2009, 08:48 AM
Post #4



Cấp 1
*

Group: Members
Posts: 1
Thank(s): 0
Joined: 21-07-09
Member No.: 7,918



xin link downloader bài " TUỔI HAI MƯƠI" của cố nhạc sĩ Lưu Hữu Phước.cám ơn nhiều.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Sep 12 2012, 07:48 AM
Post #5



Cấp 1
*

Group: Members
Posts: 31
Thank(s): 0
Joined: 21-04-08
Member No.: 1,572



Hôm nay, ngày 12 tháng 9. Ngày sinh cảu Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước. Chúng ta cùng hát những ca khúc của nhạc sỹ để tưởng nhớ ông,
Go to the top of the page
 
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
1 User(s) are reading this topic (1 Guests and 0 Anonymous Users)
0 Members:

 



Bản vắn tắt Giờ hiện tại:: 18th September 2019 - 09:48 AM
Skin IPB: Invisionpower.fr - IP.Board France