Printable Version of Topic

Click here to view this topic in its original format

Nhac Cach Mang forum _ Chia sẻ nhạc _ Âm nhạc, Sự kiện & Nhân vật

Posted by: VuHungAnh Sep 2 2011, 10:09 AM


Nghiêm! Chào cờ! Quốc ca.

TIẾN QUÂN CA
Sáng tác: Văn Cao (1944)

1) Đoàn quân Việt Nam đi
Chung ḷng cứu quốc
Bước chân dồn vang trên đường gập ghềnh xa
Cờ in máu chiến thắng mang hồn nước,
Súng ngoài xa chen khúc quân hành ca.
Đường vinh quang xây xác quân thù
Thắng gian lao cùng nhau lập chiến khu
V́ nhân dân chiến đấu không ngừng
Tiến mau ra sa trường
Tiến lên – cùng tiến lên.
Nước non Việt Nam ta vững bền.

2) Đoàn quân Việt Nam đi
Sao vàng phấp phới
Dắt giống ṇi quê hương qua nơi lầm than
Cùng chung sức phấn đấu xây đời mới
Đứng đều lên gông xích ta đập tan
Từ bao lâu ta nuốt căm hờn
Quyết hy sinh đời ta tươi thắm hơn
V́ nhân dân chiến đấu không ngừng
Tiến mau ra sa trường
Tiến lên – cùng tiến lên
Nước non Việt Nam ta vững bền.

Nghe nhạc: Tiến quân ca (Văn Cao)


Cách đây đúng 66 năm, ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba đ́nh (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đă long trọng đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập tuyên bố với quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, chấm dứt hàng ngàn năm phong kiến và gần 100 năm bị thực dân Pháp đô hộ, đánh dấu một kỷ nguyên mới của dân tộc. Toàn văn Tuyên Ngôn Độc Lập xin mời xem ở đây:

http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30196&cn_id=119997

Và tiếng nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi Người đọc bản Tuyên Ngôn Độc Lập:



Cũng đúng ngày này 42 năm trước, vào hồi 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng Chín năm 1969 (tức ngày 21 tháng 7 âm lịch) Chủ tịch Hồ Chí Minh đă từ trần tại thủ đô Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi. Ngày mất của Bác ban đầu được Ban Chấp hành Trung Ương Đảng Đảng Lao động Việt Nam công bố là ngày 3 tháng 9. Đến năm 1989 mới công bố lại chính xác là ngày 2 tháng Chín.

CA NGỢI HỒ CHỦ TỊCH
Sáng tác: Đỗ Nhuận (1949)

1) Bừng sáng ánh sao vàng trên bóng cờ
Hồ Chí Minh thân yêu của ta!
Người đấu tranh lănh đạo cuộc kháng chiến trường kỳ
Mưu ấm no cho dân Việt Nam
Dắt d́u chúng ta vùng lên
Hồ Chí Minh v́ sao sáng ngời!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Ngời ánh vinh quang của giống ṇi!

2) V́ nước ra đi sục sôi mối thù
V́ cứu dân nô lệ lầm than
Thề sắt son nhân dân đoàn kết hướng theo Người
Quyết chống xâm lược giành tự do
Suốt đời đấu tranh v́ dân
Hồ Chí Minh v́ sao sáng ngời!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Ngời ánh vinh quang của giống ṇi!

3) Bừng sáng áo nâu đẹp sao bóng Người
Hồ Chí Minh thân yêu của ta!
Hồ Chí Minh đấu tranh v́ thế giới ḥa b́nh
V́ ấm no cho dân tự do
Hướng Người kính dâng niềm tin
Hồ Chí Minh v́ sao sáng ngời!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Hồ Chí Minh muôn năm!
Ngời ánh vinh quang Tổ Quốc ta!


Nghe nhạc: Ca Ngợi Hồ Chủ Tịch (Đỗ Nhuận) Quư Dương & Hợp xướng Đài TNVN


Bởi vậy hôm nay xin lập chuyên mục Những Trang Vàng để kỷ niệm những sự kiện, những cột mốc lịch sử của đất nước, của dân tộc và những sự kiện lớn khác trong các cuộc kháng chiến của dân tộc ta (những trận đánh lớn, những cuộc khởi nghĩa…) được phản ánh trong các tác phẩm âm nhạc, nhằm nâng cao hiểu biết và nhắc nhở chúng ta nhớ lại lịch sử của đất nước, của dân tộc. Đồng thời chuyên mục này cũng ghi lại những sự kiện lớn trong đời sống âm nhạc đất nước như sự ra đi của các tên tuổi lớn (các nhạc sĩ, nghệ sĩ lớn…) hay các kỳ Đại hội của Hội Nhạc sĩ Việt Nam…

Tôi mong các bác thành viên của trang nhaccachmang.net chúng ta cùng đông đảo bạn nghe nhạc xa gần... cùng tham gia để chuyên mục này làm tốt mục đích kể trên đồng thời giúp bạn nghe nhạc hiểu sâu hơn về lịch sử đất nước, qua đó càng hiểu sâu hơn về các bài hát cách mạng đă ăn sâu vào tiềm thức bao thế hệ người Việt ta…

Posted by: VuHungAnh Sep 2 2011, 11:10 PM


Cũng vào năm 1949, tác giả của Tiến quân ca, nhạc sĩ Văn Cao, cũng đă viết một ca khúc nữa ca ngợi Bác Hồ, cùng tên với tác phẩm của nhạc sĩ Đỗ Nhuận, với nét nhạc trang nghiêm ở nhịp 4/4, giai điệu b́nh dị và thành kính:

Ca ngợi Hồ Chủ Tịch
Sáng tác: Văn Cao (1949)

Người về đem tới ngày vui
Mùa thu nắng cỏ Ba Đ́nh
Với tiếng Người c̣n dịu dàng như tiếng đất trời
Người về đem tới xuân đời
Từ đất nước cằn từ bùn lầy cả cuộc đời vùng lên

1) Bao công nhân tiền phong
Đưa nhân dân vùng lên
Nhân dân theo từng bước Cha già
Ḥa b́nh vui ngàn năm
Cụ Hồ Chí Minh!
– Ánh dương vào trong ngục tù
Tay công nhân của thế giới mới lên
Cụ Hồ Chí Minh!
– Đế quốc tan tành hết
Trước sức dân trào cuốn
Vinh quang nhân dân Việt Nam

2) Bao đau thương miền Nam
Trong con tim Việt Nam
Đang dâng lên làn sóng căm hờn
Và niềm tin thành công
Cụ Hồ Chí Minh!
Ư muôn người trong một người
Tên quê hương hồn đất nước Bắc Nam
Cụ Hồ Chí Minh!
Đế quốc tan tành hết
Trước sức dân trào cuốn
Vinh quang nhân dân Việt Nam.


Nghe nhạc: Ca ngợi Hồ Chủ Tịch (Văn Cao) – tŕnh bày: Trung Kiên


Trước đó, vào năm 1948, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước cũng đă viết một tác phẩm có tên tương tự để ca ngợi Bác. Bài hát cũng được viết ở nhịp 4/4 – loại nhịp thể hiện sự trang nghiêm chậm răi chuyên dành cho thể loại ngợi ca lănh tụ.

Ca ngợi Hồ Chủ Tịch
Sáng tác nhạc: Lưu Hữu Phước – lời: Nguyễn Đ́nh Thi & Lưu Hữu Phước (1948)

1) Sao vàng phấp phới ánh hồng sáng tươi
Toàn Việt Nam đón chào ngày mới
Hồ Chí Minh dắt toàn dân nước ta
Vững bền tranh đấu cho đời chúng ta
Hồ Chí Minh muôn năm!
Giải phóng cho nhân dân
Xây dựng non nước Việt Nam.

2) Tiếng Người tha thiết kêu gọi bốn phương
Cờ vung lên quân thù gục xuống
Hồ Chí Minh sáng ngời gương đấu tranh
Vững bền đưa chúng ta vượt khó khăn
Hồ Chí Minh muôn năm!
Chỉ lối cho nhân dân
Đến ngày chiến thắng vẻ vang.

3) Muôn ḷng sung sướng muôn lời hát ca
Trời Việt Nam ḥa b́nh nở hoa
Hồ Chí Minh muốn toàn dân sướng vui
Vững bền xây đắp nên đời sáng tươi
Hồ Chí Minh muôn năm!
Ngời sáng soi tương lai
Ơn này ghi nhớ nào phai!
Hồ Chí Minh dắt toàn dân nước ta
Vững bền tranh đấu cho đời chúng ta
Hồ Chí Minh muôn năm!
Giải phóng cho nhân dân
Xây dựng non nước Việt Nam!


Nghe nhạc: Ca ngợi Hồ Chủ Tịch (Lưu Hữu Phước – lời: Nguyễn Đ́nh Thi & Lưu Hữu Phước) – Tŕnh bày: Hợp xướng Nhà hát Nhạc Vũ Kịch Việt Nam.


Cả ba bài hát Ca ngợi Hồ Chủ Tịch đều ngắn gọn, súc tích, dễ thuộc và dễ nhớ. Đầu tháng 9 năm 1969, từ mấy ngày trước radio liên tục phát đi các bản tin về t́nh h́nh sức khỏe của Bác. Không ai bảo ai mọi người cũng tự biết sắp phải đón chờ tin dữ. Ngày 2/9/1969 trôi đi trong không khí ảm đạm. Một tuần liền mưa tầm tă trên toàn miền Bắc. Khi đó tôi đang học lớp một ở nơi sơ tán. Cái radio suốt ngày và liền một tuần sau đó liên tục phát ba bài hát này và nhiều bài hát khác về Bác. Bọn trẻ buồn thiu c̣n người lớn th́ ra vào vật vờ như những cái bóng. Không được ra ngoài v́ trời mưa, đành ở trong nhà và nghe radio. Thế là thuộc tất cả các bài hát mà radio phát một cách rất tự nhiên. Bây giờ nghe lại cứ như về lại cái không khí ấy ở tuổi thơ và gặp lại người quen vậy…

Posted by: VuHungAnh Sep 23 2011, 12:46 AM

Hôm nay là ngày 23/9/2011. Cách đây 66 năm, mùa thu năm 1945, chỉ chưa đầy 1 tháng sau khi giành được độc lập, người dân miền Nam lại phải đối mặt với cuộc kháng chiến mới, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Được hậu thuẫn của đế quốc Anh, ngày 23/09/1945, chúng đă đánh úp các công sở và những vị trí chiến lược, mở đầu cuộc chiến xâm chiếm đất nước ta một lần nữa. Cả Nam Bộ vừa độc lập chưa bao lâu đă lại phải đứng lên bắt đầu cuộc trường kỳ kháng chiến kéo dài 30 năm của dân tộc:

Mùa thu rồi ngày hăm ba
Ta đi theo tiếng kêu sơn hà nguy biến.
Rền khắp trời lời hoan hô
Dân phương Nam nhịp chân tiến ra trận tiền.

Thuốc súng kém, chân đi không
Mà đoàn người giàu ḷng v́ nước.
Nóp với giáo mang ngang vai
Nhưng thân trai nào kém oai hùng.

Cờ thắm phấp phới ngang trời
Sao vàng xao xuyến khắp nơi bưng biền
Một ḷng nguyện với tổ tiên.
Thề quyết chống quân ngoại xâm!

Ta đem thân ta liều cho nước
Ta đem thân ta đền ơn trước
Muôn thu sau lưu tiếng anh hào
Người dân Việt lắm chí cao.

Thề quyết chống quân gian tham!
Ta đem thân ta liều cho nước
Ta đem thân ta đền ơn trước
Xây giang san hạnh phúc muôn đời
Nền độc lập khắp nước Nam.


Bối cảnh ra đời

Tháng Tám năm 1945, sau khi giành chính quyền trên toàn quốc, Việt Minh thành lập chính thể và chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa. Tại miền Nam Việt Nam, được sự giúp đỡ của Anh, quân Pháp có ư định chiếm miền Nam. Chính phủ Việt Minh và sau đó là Chính phủ liên hiệp có sự tham gia của một số đảng phái khác quyết tâm chống lại sự xâm lược của Pháp. Tại miền Nam, nhiều tổ chức vũ trang tự phát của các tổ chức, quần chúng thành lập đánh Pháp.

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, khi người dân Sài G̣n-Chợ Lớn tổ chức mít tinh chào mừng "Ngày độc lập" th́ lính Pháp trong các ṭa nhà bắn ra làm 47 người thiệt mạng.

Ngày 6 tháng 9, quân đội Anh với danh nghĩa giải giáp quân Nhật tới Sài G̣n. Lợi dụng sự kiện nổ súng ngày 2 tháng 9, quân Anh vu cho chính quyền Việt Nam không giữ được trật tự. Phái bộ Anh lệnh cho lính Nhật tước vũ khí và đ̣i chính quyền cách mạng ở đây phải giải tán các đơn vị tự vệ, cấm người dân biểu t́nh. Kèm theo đó, phía sau quân đội Anh là một lực lượng lính Pháp đang chờ để quay lại Đông Dương. Ngày 20 tháng 9, quân đội Anh thả các tù binh Pháp bị giam từ ngày Nhật đảo chính đồng thời ra lệnh đóng cửa tất cả báo chí ở Sài G̣n.

Ngày 21 tháng 9, quân Anh chiếm đóng trụ sở cảnh sát quận 3, thả tù binh Pháp và tái trang bị, đồng thời ra lệnh thiết quân luật, cấm người dân không được biểu t́nh, hội họp, đem theo vũ khí và đi lại ban đêm. Quyền tự do, độc lập của chính quyền và người dân Việt Nam mới giành được từ tay Nhật bị xâm hại nghiêm trọng. Và đến 0 giờ ngày 23, quân đội Anh đă làm ngơ cho quân Pháp tiến đánh Sài G̣n.

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, khoảng 6000 quân quân Pháp với 1 vạn quân Anh và 4 vạn quân Nhật bất ngờ đánh chiếm Nam Bộ và quân đội Việt Nam tại Sài G̣n-Chợ Lớn. Mảnh đất thân thương nơi phía Nam Tổ quốc đă “đi trước” trong cuộc kháng chiến trường kỳ, thần thánh của dân tộc, chủ động vùng lên tấn công địch. Chúng gặp phải sự kháng cự quyết liệt của các lực lượng Việt Minh ở đây, đặc biệt là Liên khu B́nh Xuyên do Dương Văn Dương (sau là Thiếu tướng) chỉ huy. Quân Pháp bị bao vây trong thành phố.

Ngay sáng 23 tháng 9, chính quyền Nam Bộ đă họp tại phố Cây Mai, Chợ Lớn. Tham dự có các nhân vật quan trọng như Ung Văn Khiêm, Trần Văn Giàu, Nguyễn Văn Nguyễn, Phạm Ngọc Thạch, Huỳnh Văn Tiểng... Hội nghị nhất trí điện ra Trung ương xin phép được kháng chiến và trên thực tế, quân dân Sài G̣n-Chợ Lớn đă buộc phải đứng lên kháng chiến v́ quyền lợi của quốc gia dân tộc. Hội nghị cũng thành lập Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ (do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch) và Ủy ban Kháng chiến Sài G̣n-Chợ Lớn (do Nguyễn Văn Tư làm Chủ tịch). Đến chiều, Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ ra tuyên cáo: "Sáng hôm 23 tháng 9, quân Pháp công nhiên chiếm trụ sở Ủy ban hành chính Nam Bộ. Chúng đă gây đổ máu ở đường phố Sài G̣n... Không lẽ chịu nhục hoài; v́ danh dự của dân tộc, chúng ta coi trọng quyền lợi của quốc gia, nên chúng tôi phải đánh điện ra Trung ương xin phép cho kháng chiến..."

Ngày 24 tháng 9, Chính phủ Việt Nam ra Huấn lệnh gửi quân dân Nam Bộ. Ngày 26 tháng 9, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư biểu dương "ḷng kiên quyết ái quốc của đồng bào Nam Bộ". Cùng ngày, Chính phủ lại ra lời hiệu triệu kêu gọi nhân dân "Hăy ủng hộ phong trào đấu tranh oanh liệt của đồng bào Nam Bộ".

Cùng với đó, chính phủ thành lập các đoàn quân Nam tiến, quỹ Nam Bộ Kháng chiến... và nhiều lần quyên góp ủng hộ, chi viện cho Nam Bộ. Các tướng lĩnh quan trọng được cấp tốc cử vào như Nguyễn B́nh, Nguyễn Sơn ... Trong cuộc chiến ở Sài G̣n, trước sự kháng chiến của quân dân Nam Bộ, quân Pháp xin đ́nh chiến từ ngày 30 tháng 9. Nhưng thực ra, họ đang chờ đợi quân tiếp viện từ Pháp sang. Và sau khi được bổ sung thêm 1 trung đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn cơ giới, 1 đội thủy quân, ngày 12 tháng 10, quân Pháp nổ súng trở lại và nhanh chóng phá ṿng vây.

Quân địch nhanh chóng mở rộng vùng chiếm đóng: ngày 25 tháng 10 chiếm Mỹ Tho và G̣ Công, ngày 29 tháng 10 chiếm Vĩnh Long, ngày 30 tháng 10 chiếm Cần Thơ. Trước đó, quân đội Anh chiếm Biên Hoà, Thủ Dầu Một và giao lại cho Pháp….

Bài hát Nam Bộ Kháng Chiến ra đời trong bối cảnh như thế. Ngay từ khi ra đời bài hát như một lời tuyên thệ, lời hiệu triệu toàn dân cùng đoàn kết lại, đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược.

Tác giả bài hát – nhạc sĩ Tạ Thanh Sơn

Theo lời kể của bà Tạ Thanh Lan (sinh năm 1931), em thứ mười của Tạ Thanh Sơn, cho biết th́ ông tuổi Canh Thân (1920), sinh tại làng Thiện Mỹ, quận Trà Ôn, tỉnh Cần Thơ trong một gia đ́nh thương gia. Cha ông là Tạ Thanh Sung, mẹ là bà Nguyễn Thị Chắc - chủ hăng rượu Quảng Đức An tại thị trấn Trà Ôn. Đó là hăng rượu lớn nhất ở miền Tây Nam bộ và cũng là gia đ́nh giàu nhất tại quê nhà lúc bấy giờ. Ông là người con thứ sáu (theo cách gọi Nam Bộ) trong gia đ́nh hơn chục anh em, tên thường gọi là Sáu Sơn. Ông vốn là học sinh Collège de Cantho, nổi tiếng điềm đạm, học giỏi, điển trai, mê văn nghệ, một cây đàn mandoline nổi tiếng, bạn học cùng thời với nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Nguyễn Mỹ Ca, Trần Bửu Kiếm, Ung Ngọc Ky…

Tạ Thanh Sơn được đi học và tốt nghiệp tú tài, ông đi dạy học ở Sa Đéc vừa làm nghề giáo. Ông tham gia nghiệp đoàn giáo học tư thục Việt Nam là nghiệp đoàn giáo viên yêu nước ngày đó. Cách mạng rải giáo viên đi các trường để làm ṇng cốt cho hoạt động, Tạ Thanh Sơn cũng đi dạy ở một số trường khác để tạo cơ sở. Ông cũng tham gia phong trào Thanh niên tiền phong. Cách mạng Tháng Tám nổ ra, ông tham gia công tác tại Ty Thông tin Tuyên truyền tỉnh Sa Đéc, cơ quan đóng ở Kinh Tư, Đồng Tháp Mười. Bài Nam Bộ kháng chiến được ông sáng tác vào ngày 25-9-1945, tại làng Mỹ Xương, trong chiến khu Đồng Tháp Mười. Bài hát được truyền miệng trong cán bộ, chiến sĩ và nhân dân… rồi nhanh chóng lan ra khắp đồng bằng và được in chính thức trên báo Độc Lập của Mặt trận Việt Minh.

Khoảng cuối năm 1947, trong một lần đi công tác, Tạ Thanh Sơn bị giặc Pháp bắt và giam tại bót Catinat (Khám lớn Sài G̣n), sau đó lưu đày sang Pháp. Ở đó ông tiếp tục liên hệ với lực lượng yêu nước, người Pháp tiến bộ để hoạt động. Năm 1949, ông trở về Việt Nam và dạy học ở Trường Huỳnh Khương Ninh, Sài G̣n và tiếp tục hoạt động trong phong trào yêu nước ở đô thành. Sau năm 1954, ông tiếp tục dạy học ở Sài G̣n. Do những ngày đó các hoạt động phong trào gặp nhiều khó khăn nên nhiều lực lượng yêu nước đă không liên lạc được với cách mạng, Tạ Thanh Sơn cũng trong trường hợp đó.

Theo bà Tạ Thanh Lan, năm 1969 cha ông mất, hăng rượu lao đao, ông về quê quản lư để lo cho mẹ và các em. Sau ngày miền Nam giải phóng, hăng rượu giải thể, vô hợp tác. Thời kỳ này kinh tế khó khăn quá, ông qua Campuchia làm ăn. Bà Lan kể, lúc qua Nam Vang ông bị bệnh viêm ruột thừa cấp, y tế bên ấy rất kém, nhờ biết tiếng Anh, tiếng Pháp ông được một bác sĩ người nước ngoài cứu sống. Năm 1980, ông về Cần Thơ sinh sống và giữ chức chủ tịch mặt trận Tổ Quốc phường Cái Khế, sau đó về hưu an hưởng tuổi già tại quê nhà và qua đời vào ngày 27-4-1986.

C̣n người vợ của nhạc sĩ th́ từ trần vào năm 2003 tại nhà riêng ở TPHCM. Tạ Thanh Sơn có ba người con, hai trai, một gái. Người con trai út là liệt sĩ Tạ Thanh Duy B́nh, chiến sĩ trinh sát, hy sinh tại chiến trường Campuchia, đến nay vẫn chưa t́m được hài cốt. Một người con trai ở quê nhà cùng với người cô ruột là Tạ Thanh Lan (em của nhạc sĩ), người con gái th́ làm ăn tại TPHCM.

Điều kỳ lạ là suốt mấy chục năm, bạn bè đồng nghiệp, vợ con, thân tộc, kể cả chính quyền địa phương của chế độ Sài G̣n lẫn chính quyền cách mạng không hề biết ông là tác giả bài Nam Bộ kháng chiến. Hiện nay, người dân chỉ biết ông “Sáu Sơn hăng rượu” mà thôi.

Bà Lan hiện đang thờ di ảnh của ông. Bà khoe cuốn tự điển nhỏ hơn gói thuốc lá, thời ông bị đày ở Pháp mang về tặng. Bà nói: “Anh tôi là người phúc hậu, vui vẻ, gần gũi mọi người. Nhưng cuộc đời anh từ lúc đi học, tham gia cách mạng, bị tù đày… đến cuối đời gia đ́nh không hề biết chút ǵ”. Bà c̣n cho biết, ngày 10-9-2002 Tỉnh ủy Vĩnh Long đă có quyết định công nhận cán bộ, đảng viên tham gia hoạt động cách mạng tiền khởi nghĩa cho nhạc sĩ Tạ Thanh Sơn.

Hằng năm, ngày 23-9, nhiều đoàn cán bộ trên tỉnh đến thắp hương cho ông, trong lúc ở địa phương ít ai biết ông chủ hăng rượu lại là tác giả bài hát sống măi với thời gian. Vinh dự thay nhà trí thức, người nhạc sĩ tài hoa ấy đă để lại trong kho tàng âm nhạc Việt Nam một áng hùng ca bất hủ.

Sinh thời, nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đánh giá rất cao bài hát này. Ông cho rằng “Nam Bộ kháng chiến” không chỉ có giá trị về lịch sử là ghi lại lịch sử đất nước bằng âm thanh, mà cả về giá trị âm nhạc. Qua tác phẩm nổi tiếng này, tác giả bài hát đă hé lộ một tài năng sáng tác bẩm sinh hiếm có. Chỉ tiếc ông không theo đuổi nghiệp âm nhạc mà sớm chuyển sang kinh doanh v́ sinh kế và sản nghiệp gia đ́nh nên sau này chúng ta đă không có một Tạ Thanh Sơn trong đội ngũ những nhạc sĩ Việt Nam. Nhưng “Nam Bộ kháng chiến” vẫn c̣n đó.

Nghe nhạc: Nam Bộ kháng chiến (Tạ Thanh Sơn) Đoàn ca nhạc ĐTNVN



Posted by: VuHungAnh Oct 9 2011, 10:21 AM

Xem “Khách của VTV3”

Sáng nay, 9/10/2011, chương tŕnh “Khách của VTV3” thật khéo chọn người để mà phỏng vấn vào dịp kỷ niệm ngày Giải phóng Thủ Đô 10/10 này. Đó chính là nhạc sĩ Trần Tiến. 64 tuổi, hơn người dẫn chương tŕnh là nhà báo Lại Văn Sâm đúng 10 tuổi, nhưng anh ăn vận nom thật là “thanh niên Hà Nội bụi”. Quần ḅ, áo phông, áo khoác ngoài phanh cúc không cài, mũ cát két ca rô xoay tứ phía trên cái đầu to tướng bù xù như tổ quạ. Khuôn mặt có tuổi rồi nhưng phong thái cứ như trẻ con. Tưng tửng, ngây thơ và hồn nhiên như Lăo Ngoan Đồng của Tra Lương Dung vậy. Không thể nào liên tưởng khác được.

Từ đầu đến cuối chương tŕnh anh toàn nói về các bài hát về Hà Nội của anh. Ấy vậy mà thành ra là thảy đều kể về Hà Nội. Hà Nội xưa và Hà Nội nay. Trong câu chuyện nói về tuổi tác, nhà báo Lại văn Sâm chợt hỏi:

- Anh sinh năm 47 th́ chắc không biết được về cuộc vượt sông vào đầu năm đó được mà sao trong ca khúc của anh có lần nói về chuyện này?

- À, đó là do bố tôi kể lại. Anh bảo khi người ta ra đi mà ngoái cổ lại thấy nhà ḿnh cháy, cả thành phố cháy…th́ anh thấy thế nào? Cái cảm giác rưng rưng của bố tôi khi đó nó ăn sâu vào tâm trí tôi khiến tôi không bao giờ quên được…

Cuộc vượt sông dưới gầm cầu Long Biên năm 1947

Như chúng ta đă biết, cách mạng Tháng Tám thành công vào năm 1945 cũng chính là thời gian mà quân Đồng Minh gồm Anh – Pháp – Mỹ theo đúng hiệp ước bại trận đă kư với phe trục Đức –Ư – Nhật sẽ giải giáp phe thua trận là quân Nhật ở Đông Dương. Nhưng phe thắng trận trong Đại chiến thứ II có quân Pháp mà Pháp lại là kẻ bại trận ở Đông Dương bởi chính tay Việt Minh. Thế nên, lợi dụng danh nghĩa “giải giáp quân Nhật”, Pháp đưa quân vào nước ta lần thứ hai với ư đồ thực sự là chiếm nước ta lần nữa. Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa và Hồ Chủ Tịch t́m mọi cách cứu văn ḥa b́nh, chí ít cũng làm chậm lại chiến tranh để chuẩn bị đối phó, đồng thời khéo léo t́m lợi thế bắt đầu chiến tranh tốt nhất có thể (hay là ít xấu nhất). Liên tiếp Hiệp định sơ bộ Việt – Pháp (6/3/1946) rồi Tạm ước Việt – Pháp (14/9/1946) lần lượt được kư kết, Chủ tịch HCM sang Pháp đàm phán. Quân Tưởng Giới Thạch phải theo các điều ước rút về nước.

Tuy nhiên mọi tŕ hoăn cũng không thể ngăn cản được dă tâm của thực dân Pháp. Thế là Kháng chiến Toàn quốc bùng nổ ngày 19/12/1946. Trong cuộc chiến này, Vệ quốc đoàn (tên gọi bộ đội lúc đó) đă đồng loạt tiến công vào các vị trí của quân Pháp tại các đô thị ở miền Bắc nước ta, bao vây quân Pháp trong nhiều tháng để cho các cơ quan chính quyền lui về chiến khu.

Ngày 6/1/1947, Đảng ủy và Ủy ban Kháng chiến Liên khu I quyết định thành lập Trung đoàn Thủ Đô do ông Siêu Hải làm Trung đoàn trưởng, ông Lê Trung Toản làm Chính ủy, ông Hoàng Phương làm Tham mưu trưởng. Những chiến sĩ trong đội Quyết tử của trung đoàn đeo khăn đỏ, làm lễ quyết tử tại rạp Tố Như, giơ nắm tay thề “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”. Tuy nhiên chiến cuộc diễn ra quá ác liệt, địch quyết tâm chiếm bằng được Hà Nội, quân ta thiệt hại rất nhiều nên Trung ương quyết định cho Trung đoàn Thủ đô vượt sông để bảo toàn lực lượng.

Công việc nguy hiểm nhất là làm sao vượt được sông. Sau bao nhiêu trăn trở và trinh sát hiện trường, quyết định được đưa ra là chỉ c̣n một cách duy nhất là vượt sông bằng cách ḅ dưới gầm cầu Long Biên. Nhưng ngay cả việc này cũng vô cùng nguy hiểm v́ khu vực đó địch kiểm soát rất gắt gao, hai bên đầu cầu đều có xe bọc thép, xe tăng trấn giữ, quân địch lại có đầy đủ vũ khí hiện đại xếp hàng trên thành cầu chĩa súng xuống dưới, đèn pha của chúng quét khắp nơi, kinh khủng nhất là những con chó săn được huấn luyện, ăn được thịt người, chỉ cần một tiếng động nhỏ phát ra, cả ngh́n chiến sĩ chết hết như chơi…

Công việc đưa Trung đoàn Thủ đô gần một ngàn người vượt sông được giao phó cho một đơn vị tinh nhuệ lúc đó gọi là Ban liên lạc gồm 16 chiến sĩ do Nguyễn Ngọc Nại làm tiểu đội trưởng. Ban liên lạc này c̣n có tên là Đội du kích Hồng Hà. Công việc vượt sông bắt đầu vào đêm 18/2/1947. Đến mờ sáng 19/2, khi Ban liên lạc đă đưa được gần hết Trung đoàn Thủ đô sang vùng tự do an toàn, chỉ c̣n số ít anh em chưa kịp qua đ̣ th́ bị địch phát hiện. Chúng tức tối điên cuồng nă đại bác và thả quân truy sát theo đoàn quân về tận hai làng Tầm Xá và Tứ Tổng. Trận đánh vô cùng ác liệt, tiểu đội trưởng Nại chỉ đạo phải để địch tiến giáp lá cà mới được bắn v́ đạn của ta ít, không được phung phí. Cuối cùng, khi nhiệm vụ đưa nốt số chiến sĩ c̣n lại sang đến làng Dâu, huyện Đông Anh an toàn th́ Ban liên lạc đă không c̣n ai sống sót. Sau khi bắn đến viên đạn cuối cùng và ném hết lựu đạn, các đồng chí đă anh dũng hy sinh tại băi Tầm Xá. Khoảng 11h trưa, địch rút về phía Hà Nội.

Khi địch rút đi, nhân dân lao về phía đồng chí Nại và tiểu đội chiến đấu nhưng không c̣n ai sống sót…Bọn ác ôn bắn nát người, mặt, xé rách quần áo anh em, trên cổ mỗi người đă hy sinh đều có một vết cắt sâu răng chó…Chỉ nhận ra mỗi người qua h́nh dáng…

… Năm 1996, Đội du kích Hồng Hà của Nguyễn Ngọc Nại được Nhà nước ta truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Tên ông được đặt cho một con phố ở Hà Nội, nối giữa phố Hoàng Văn Thái và phố Vương Thừa Vũ.

Cảm xúc Tháng Mười

Có rất nhiều bài hát viết về sự kiện quân ta tiến về giải phóng Thủ Đô nhưng theo tôi bài Cảm xúc Tháng Mười là bài hát giàu sức biểu cảm nhất và chứa trong đó những sự kiện bi hùng của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược mà đặc biệt là cuộc vượt sông dưới gầm cầu vào đầu năm 1947 kể trên.

Không thể nói trời không trong hơn
Và mắt em xanh khác ngày thường
Khi đoàn quân kéo về mùa thu ấy
Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường.

Đêm, cái đêm rút qua gầm cầu
Anh, anh đă hẹn ngày mai trở lại
Sóng sông Hồng vỗ bờ hát măi
Đỏ niềm tin là khúc khải hoàn ca

Không thể nói trời không xanh hơn
Và mắt em xanh khác ngày thường
Khi đoàn quân kéo về mùa thu ấy
Nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường.

Một sớm thu trong đất thắm sao vàng
Năm cửa ô x̣e năm cánh rộng
Đoàn quân về nhấp nhô như sóng
Những ngôi nhà dường muốn cao thêm

Tháng mười ấy là khúc ca xanh
Khúc ca mở những chiến công đầy!


Nhà thơ Tạ Hữu Yên đă kể về bài hát này là vào năm 1974 ông công tác cùng nhạc sĩ Nguyễn Thành ở Pḥng phát thanh binh vận thuộc Tổng cục Chính trị QĐND Việt Nam. Đă 20 năm trôi qua nhưng không khí ngày giải phóng Thủ đô lúc đó vẫn mới nguyên trong kư ức của đại úy Tạ Hữu Yên và thượng úy Nguyễn Thành. Lúc đó lại đang có cuộc thi viết về đề tài Hà Nội nên hai ông rủ nhau cùng sáng tác một bài hát chào mừng ngày giải phóng Thủ đô.

Để lấy cảm hứng, hai ông đă lên Cầu Giấy, cửa ô mà 20 năm trước Trung đoàn Thủ đô đă theo lối ấy trở về tiếp quản quê hương. Và trong bước chân trở về ấy, chắc chắn họ đă nh́n thấy những bà mẹ đứng ở hàng đầu rưng rưng nước mắt, nh́n thấy náo nức cờ hoa, nghe nhịp trống rung ba mươi sáu phố phường mà nhớ đêm rút qua gầm cầu vượt sông Hồng với những thương binh, với niềm đau chưa trả nợ cho những anh hùng khi phía sau là tiếng súng truy kích của giặc Pháp, nhớ những người trai Hà Nội măi không về... Quá khứ và hiện tại đan xen. Khải hoàn và bi thương xáo trộn. Chiến tranh và ḥa b́nh khởi sự và tiếp nối. Những người lính với những bà mẹ và những người em gái. Và Hà Nội, Thăng Long ngh́n năm trận mạc lại thanh b́nh như chưa hề có bóng giặc, chưa hề nghe c̣i báo động trên nóc Nhà hát Lớn...

Cứ đi, cứ đan xen trong bước chân hồi tưởng. Buổi chiều, đến trước hồ Gươm, thấy mùa thu Hồ Gươm dâng lên trời một màu xanh bất tuyệt. Đêm đó, trên một căn gác hai trong tập thể quân nhân thành Hà Nội (nay mở ra đường Nguyễn Tri Phương đi xuyên qua – VHA), Tạ Hữu Yên đă làm xong trọn vẹn bài thơ, hầu như chữ gọi chữ tuôn chảy, không phải dụng công sửa chữa v́ đó là sự thật, là t́nh cảm tha thiết ấp ủ bấy nay. Ngay sau đó Nguyễn Thành cũng phổ nhạc rất nhanh bài thơ vừa viết…

Bài hát đă đoạt giải cao nhất cuộc thi năm đó. Có nhiều ca sĩ thể hiện bài hát này nhưng nghệ sĩ thể hiện đầu tiên và cũng là người thể hiện hay nhất chính là Kiều Hưng. Xin cả nhà cùng nghe lại bài hát này từ trang nhạc Bài Ca Không Quên của vnmaths:

Cảm xúc tháng Mười (Nguyễn Thành & Tạ Hữu Yên) Kiều Hưng:


Posted by: Jan Oct 9 2011, 04:45 PM

diệt vi-zút mad.gif

Posted by: Jan Oct 9 2011, 04:46 PM

QUOTE (VuHungAnh @ Sep 23 2011, 12:46 AM) *
Nghe nhạc: Nam Bộ kháng chiến (Tạ Thanh Sơn) – Tŕnh bày: Đoàn ca nhạc ĐTNVN

http://baicakhongquen.net/nghe-bai-hat/6349/nam-bo-khang-chien.html

@bác VuHungAnh: ăn cơm mới, nói chuyện cũ tư, có một trang chủ 'xịn' viết thế ń

Chào anh giải phóng quân, chào mùa xuân đại thắng
Sáng tác: Tạ Thanh Sơn
Biểu diễn: Anh Thơ

Đúng là pó tay huh.gif

Posted by: huanhau Oct 9 2011, 05:40 PM

Chưa hết đâu cụ.
http://vietbao.vn/Kham-pha-Viet-Nam/Cua-o-Ha-Noi-O-Quan-Chuong/80100133/151/
http://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%94_Quan_Ch%C6%B0%E1%BB%9Fng_(ph%E1%BB%91_H%C3%A0_N%E1%BB%99i)
http://www.skydoor.net/place/%C3%94_Quan_Ch%C6%B0%E1%BB%9Fng

QUOTE
Đến thế kỷ XX th́ trên sách báo chỉ c̣n nhắc đến tên của năm cửa ô, với câu thơ nổi tiếng của Xuân Diệu khi nói về ngôi sao vàng “năm cánh x̣e trên năm cửa ô".

Posted by: VuHungAnh Oct 20 2011, 09:02 AM

Khi nghĩ về những người phụ nữ Việt Nam chúng ta, từ sâu thẳm trong tôi cứ hiện lên h́nh ảnh những bà những mẹ những chị tảo tần hôm sớm v́ chồng con v́ đất nước những năm tháng qua. Những người phụ nữ đáy thắt lưng ong giỏi việc nước đảm việc nhà của chúng ta là như thế đó:



1) Mềm mại tựa the nhung
Mịn màng như tơ lụa
Vững vàng như gang sắt
Xanh mát ấy t́nh trăng

Đôi ánh tay em
Đôi cánh tay tiên
Duyên dáng nhịp nhàng
Bên làng bên nước em gánh vác gọn gàng cả hai

Làng nước – chỉ có đôi tay
Đường kim cũng khéo đường cày cũng xinh
Tay chèo thoăn thoắt em vượt thác băng gềnh
Qua ḍng sông lửa nặng nghĩa nặng t́nh quê hương

Đôi tay em múa náo nức hội làng
Vươn cao tầm súng chiến trường cùng em
Đẹp thay đôi cánh tay tiên!
Hoa ngời thắm măi – hương thơm ngạt ngào

2) Mềm mại tựa the nhung
Mịn màng như tơ lụa
Vững vàng như gang sắt
Xanh mát ấy t́nh trăng

Đôi cánh tay em
Đôi cánh tay tiên
Duyên dáng nhịp nhàng
Bên làng bên nước em gánh vác gọn gàng cả hai

Làng nước – chỉ có đôi tay
Cái con em điệu – mẹ rày em đó
Tay nào vun xới cho lúa biếc cả chiêm mùa
Tay nào dệt vải. Dựng cửa làm nhà – tay anh

Bức thư em viết thắm nghĩa nặng t́nh
Rằng nơi hậu tuyến gia đ́nh mặc em
Đẹp thay đôi cánh tay tiên!
Ḱa xem non nước ngày thêm rực hồng!


Mặc dù bài hát về người phụ nữ Việt Nam th́ nhiều lắm. Có nhạc sĩ nào không viết về đề tài này? Có nhạc sĩ nào lại bỏ phí cơ hội ca ngợi một nửa dân tộc, bỏ phí cơ hội ca ngợi một nửa của ḿnh? Hầu như ai cũng viết cả…

Thế nhưng không hiểu sao tôi vẫn có một t́nh cảm đặc biệt với những vần thơ trên đây và đặc biệt là khi nó được nghệ sĩ Phan Huấn hát lên bằng giai điệu của Lê Yên:

Đẹp cánh tay em (sáng tác: Lê Yên – thể hiện: Phan Huấn):
http://www.mediafire.com/?ee9obdp23g4fa6t

Những vần thơ yêu thương về người những phụ nữ của chúng ta vừa cụ thể, vừa trừu tượng. Khi ta tự hỏi: “tay nào vun xới cho lúa biếc cả chiêm mùa” hay “tay nào dệt vải” không có nghĩa là một câu hỏi, mà là một câu khẳng định trong sự thán phục, không thể tin người phụ nữ của chúng ta chỉ có hai bàn tay mà có thể làm nhiều việc to nhỏ lớn bé đến thế! Thế th́ chúng ta chỉ c̣n biết lắc đầu mà thán phục người phụ nữ của ḿnh thôi: “Đôi cánh tay em – Đôi cánh tay tiên – Duyên dáng nhịp nhàng – Bên làng bên nước em gánh vác gọn gàng cả hai!”. Yêu lắm! Thương lắm! Các mẹ, các chị, các em!

Âm nhạc của bài hát này cũng là một thành công với sự tinh tế đặc biệt. Chúng ta thấy rơ sự hài ḥa và nhịp nhàng được điều tiết rất tài t́nh bởi dàn nhạc dây, thỉnh thoảng xen kẽ tiếng sáo (flute), tiếng mơ và tiếng tam thập lục rất phong phú và nhiều màu sắc như chính những sắc thái t́nh cảm của chúng ta vậy.

Lịch sử ngày Phụ Nữ Việt Nam 20/10 này cũng thật là đẹp. Chúng ta đều đă biết ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập. Trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đă ghi rơ: “Nam nữ b́nh quyền” bởi Đảng sớm nhận rơ phụ nữ là lực lượng quan trọng của cách mạng và đề ra nhiệm vụ: Đảng phải giải phóng phụ nữ, phải gắn liền sự nghiệp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp với giải phóng phụ nữ. Đảng đặt ra mục tiêu phụ nữ phải tham gia các đoàn thể cách mạng (công hội, nông hội) và cần phải thành lập tổ chức riêng cho phụ nữ để lôi cuốn các tầng lớp phụ nữ tham gia cách mạng.

Chính v́ vậy mà ngày 20/10/1930, Hội Liên hiệp Phụ nữ chính thức được thành lập. Sự kiện lịch sử này thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng đối với vai tṛ của phụ nữ trong cách mạng, đối với tổ chức phụ nữ, đối với sự nghiệp giải phóng phụ nữ. Năm 2000, Trung ương Đảng ra nghị quyết kỷ niệm ngày 20/10 và kể từ đó ngày 20/10 được lấy làm Ngày Phụ Nữ Việt Nam.

P/S: Theo người viết những ḍng này, chỉ qua thể hiện bài hát này thôi, nghệ sĩ Phan Huấn đă xứng đáng là nghệ sĩ ưu tú rồi. Tôi đă nghe ông hát bài này suốt mấy chục năm qua mà không thấy chán.

Posted by: VuHungAnh Nov 14 2011, 09:48 AM

Thế là VỊNH HẠ LONG của ta đă được bầu chọn là một trong bảy Kỳ quan Thiên nhiên mới của thế giới!



Khỏi phải nói, là người Việt Nam, chúng ta sung sướng và hănh diện như thế nào! Tất nhiên sau hai tháng kiểm phiếu chặt chẽ, số liệu cụ thể sẽ được công bố chính thức vào đầu 2012 nhưng số phiếu bầu cho Vịnh Hạ Long của ta quá cao, bứt phá khá xa với kỳ quan đứng sau nên khó có sự thay đổi nào nữa.

1) Mỗi lần tôi hát về biển Hạ Long
Là tôi như thấy xốn xang trong ḷng

Vùng biển ấy trời nước mênh mông
Những ngọn núi đá nhấp nhô bốn mùa nghe tiếng sóng
Sóng vỗ vào bờ – bài ca đại dương
Sóng vỗ vào bờ – điệp khúc quê hương

Ơ…ơ… biển Hạ Long
Đêm đêm những ngọn đèn gọi cá
Ngày ngày con tàu đi hối hả
Và xa xa cánh rừng cho ta gỗ
Tầng ḷ cho ta than

Biên giới yêu thương
Nghe vẫn lạc quan – tiếng hát tiếng đàn

2) Mỗi lần tôi hát về biển Hạ Long
Là tôi như thấy xốn xang trong ḷng

Vùng biển ấy trời nước mênh mông
Cánh buồm lướt gió ra khơi chói ngời lên sắc nắng
Nắng hát ngàn lời – đại dương đại dương
Gió hát cùng người – điệp khúc quê hương

Ơ… biển Hạ Long
Ta đi với bạn bè vượt sóng
Mùa về chói ngời lên ước vọng
Và em ơi chân trời ươm sắc nắng
Rực hồng thêm tương lai

Nghe giữa xa khơi
Non nước ngàn nơi ấm áp tiếng đời
Nghe giữa xa khơi
Non nước ngàn nơi ấm áp tiếng đời
Ấm áp tiếng đời
Ấm áp tiếng đời


Hát cùng trời nước Hạ Long (Tân Huyền) Tiến Thành:


Bức ảnh trên người viết chụp tại khu vực đảo Cát Bà vào mùa hè 2007. Đảo Cát Bà nằm trong vịnh Bái Tử Long, một vịnh nhỏ thuộc vịnh Hạ Long. Vào thời điểm chụp, nước biển xanh ngăn ngắt làm dịu mát cả ḷng người. Mặc dù chưa phải trung tâm của Hạ Long nhưng Bái Tử Long nom đă rất nên thơ rồi. Trước nay chúng ta đă ngắm Hạ Long nhiều, nay xin giới thiệu một lát cắt nhỏ bên ŕa Hạ Long nữa, ấy là Bái Tử Long.

Posted by: huanhau Nov 14 2011, 01:57 PM

Không nên dùng "Hạ Long ta đă được bầu" bác Vũ Hà Anh ạ. Phải viết là "ta đă bầu Hạ Long" mới đúng.

Posted by: VuHungAnh Nov 14 2011, 04:29 PM

QUOTE (huanhau @ Nov 14 2011, 01:57 PM) *
Không nên dùng "Hạ Long ta đă được bầu" bác Vũ Hà Anh ạ. Phải viết là "ta đă bầu Hạ Long" mới đúng.

Vâng, nhất trí với nhận định của bác huanhau.

Trong cách nói th́ người Việt ta hay để ở thể chủ động. Ngược lại, người phương Tây lại hay dùng thể bị động. Cả hai cách nói đều có cái hay cái đẹp riêng. Có lẽ VHA hay đọc bài của các nhà báo phương Tây nên bị ảnh hưởng chăng? biggrin.gif

Posted by: huanhau Nov 14 2011, 04:51 PM

Trong nhiều trường hợp th́ hai cách nói chủ động và bị động có thể dùng lẫn mà không ảnh hưởng đến ư nghĩa của câu. Nhưng trong trường hợp này theo em th́ khác, v́ đây là thắng lợi của hệ thống chính trị, chủ yếu do "Nhân dân dũng cảm và cần kiệm" nên phải dùng chủ động, chứ nếu dùng bị động dễ làm người nghe hiểu nhầm thành "Các nước anh em giúp đỡ nhiều". Biết nói thế nào nhỉ, với em th́ vụ này như là "sống ở Vinh mà chẳng thấy vinh".

Posted by: Hậu sinh.2 Nov 14 2011, 06:10 PM

Bác huanhau tâm tư thật! Tay Bernard Weber quả thật có vớ bở, nhưng VN cũng có vài mối lợi.

Phần em, em nghĩ chỉ là trao đổi qua lại 2 bên cùng có lợi thôi mà. Nhu cầu về 7 kỳ quan mới là có thật, nhưng tiêu chí xác định nó th́ chắc có trời mới nghĩ ra (ngay cả 7 kỳ quan cũ cũng đâu có được đề cử hay công nhận một cách công bằng). Với cái khó khăn đó th́ mấy ông chính thức như UNESCO đời nào động tay động chân vào cho rắc rối. Dĩ nhiên phải là một anh tư nhân. Tư nhân th́ rơ ràng uy tín không ra ngô ra khoai ǵ, nhưng chịu khó làm rùm beng lên th́ về mặt truyền thông th́ cũng có ảnh hưởng nhất định. Đại khái sau này cứ quảng cáo th́ khi cần cứ tương lên "Vịnh Hạ Long - 1 trong 7 kỳ quan mới của thế giới", có cuộc thi thật, có tổ chức trung gian trọng tài quốc tế thật, v.v.... Dễ ǵ có du khách nào bỏ công sức ra lần lại xem chất lượng cuộc thi ra sao (cái này càng lâu dài th́ tông tích càng mù mịt). C̣n Việt Nam ḿnh thấy có một món sản phẩm không chất lượng lắm, nhưng giả cả th́ rẻ quá, lại do nhân dân tự nguyện chung tiền trả, th́ thực hiện thôi ạ.

Ăn mừng tiếp thôi các bác ơi!

Posted by: VuHungAnh Nov 15 2011, 08:37 AM

QUOTE (Hậu sinh.2 @ Nov 14 2011, 06:10 PM) *
Bác huanhau tâm tư thật! Tay Bernard Weber quả thật có vớ bở, nhưng VN cũng có vài mối lợi.

Phần em, em nghĩ chỉ là trao đổi qua lại 2 bên cùng có lợi thôi mà. Nhu cầu về 7 kỳ quan mới là có thật, nhưng tiêu chí xác định nó th́ chắc có trời mới nghĩ ra (ngay cả 7 kỳ quan cũ cũng đâu có được đề cử hay công nhận một cách công bằng). Với cái khó khăn đó th́ mấy ông chính thức như UNESCO đời nào động tay động chân vào cho rắc rối. Dĩ nhiên phải là một anh tư nhân. Tư nhân th́ rơ ràng uy tín không ra ngô ra khoai ǵ, nhưng chịu khó làm rùm beng lên th́ về mặt truyền thông th́ cũng có ảnh hưởng nhất định. Đại khái sau này cứ quảng cáo th́ khi cần cứ tương lên "Vịnh Hạ Long - 1 trong 7 kỳ quan mới của thế giới", có cuộc thi thật, có tổ chức trung gian trọng tài quốc tế thật, v.v.... Dễ ǵ có du khách nào bỏ công sức ra lần lại xem chất lượng cuộc thi ra sao (cái này càng lâu dài th́ tông tích càng mù mịt). C̣n Việt Nam ḿnh thấy có một món sản phẩm không chất lượng lắm, nhưng giả cả th́ rẻ quá, lại do nhân dân tự nguyện chung tiền trả, th́ thực hiện thôi ạ.

Ăn mừng tiếp thôi các bác ơi!

Qua những ḍng trên đây mới thấy Hậu Sinh thật là Khả Úy! Gần như toàn bộ tính chất, nội dung và ư nghĩa cuộc b́nh chọn này đă được gói gọn trong mấy ḍng trên!

Ngay dân số một nước có kỳ quan đă cho thấy sự bất b́nh đẳng lớn của một b́nh chọn kiểu này. Dân số Hàn Quốc làm sao so với dân số Brazil được. Mặc dù Rừng Amazon là quá - quá xứng đáng là kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới nhưng chắc chắn số phiếu bầu cho Amazon gấp nhiều lần bầu cho đảo Jeju của Hàn Quốc nhiều! Xét kỹ các danh thắng lần này th́ Vịnh Hạ Long của ta đứng thứ hai là hợp lư và xứng đáng!

Ở đây cũng cần nói cho rơ một ư nữa là, khi đă có kỳ quan thiên nhiên của thế giới rồi th́ liệu chúng ta (ngành du lịch) có làm ăn ra cái ǵ không th́ c̣n chưa biết được. Rất nhiều nước trên thế giới chẳng có kỳ quan nào của thế giới cả nhưng số người du lịch đến với họ vẫn nhiều hơn dân số cả nước họ đấy! Pháp, Hà Lan, Thụy Sĩ, Thụy Điển, Luychxemburg, Monaco...là những nước như vậy.

Posted by: huanhau Nov 15 2011, 11:01 AM

Em không có số liệu cụ thể nhưng HLB đứng thứ hai là theo thứ tự ABC, bác ạ. Cũng v́ thế mà Amazon đứng đầu danh sách đấy ạ.

Posted by: VuHungAnh Dec 26 2011, 10:53 PM

Cuối năm quá bận nhiều việc. Giữa Thủ Đô. Lại ngay trên đất ả đào xưa. Khâm Thiên đấy. Làm sao quên 12 ngày đêm 1972 được!!! Tượng đài tưởng niệm c̣n đấy. Lại từng khoác áo lính nữa. Hôm nay xin tiết lộ cùng bà con một bí mật mà không phải ai cũng biết.

Số là vào ngày thứ 13 của cuộc đánh trả trận oanh tạc bằng B52 chưa từng có trong lịch sử loài người, sau 12 ngày đêm bắn rụng B52 như ngả rạ mà với vận tốc rơi B52 như thế th́ chỉ vài tuần nữa thôi, Đế Quốc Mỹ sẽ hết B52. Ấy là vào đêm của ngày thứ 13, đêm 26/12/1972. Một sự thật mà cách đây ba hôm người viết mới biết là, chúng ta đă không c̣n một quả tên lửa nào cho lưới lửa pḥng không của ngày thứ 13! Cơ sở lắp ráp tên lửa ở Miếu Môn đă hết sạch phụ tùng để mà lắp ráp. Hàng lại chưa cập cảng Hải Pḥng….

Không ai dám nghĩ điều ǵ sẽ xảy ra nếu kẻ thù vẫn tiếp tục…

May thay, ở Paris, Henry Kissinger tuân lệnh Richard Nixon, đă hạ bút kư lệnh đ́nh chiến không điều kiện, chấp nhận xuống thang, rút quân khỏi Việt Nam!!!

Năm ấy người viết là một cậu bé vẫn thường đội mũ rơm đến trường, cách Thủ Đô hơn trăm km, nhưng đă hiểu ư nghĩa của chiến thắng này là tuyệt vời. Và ăn sâu vào tâm trí là h́nh ảnh bà nội một ḿnh giữa Thủ Đô dưới làn đạn kẻ thù, nay đă thoát nạn th́ vui mừng khôn xiết. Bởi thế hợp xướng Đoàn ca nhạc ĐTNVN với lĩnh xướng Trần Khánh đă đi vào lịch sử:


Posted by: Hậu sinh.2 Dec 26 2011, 11:07 PM

QUOTE (VuHungAnh @ Dec 26 2011, 10:53 PM) *
Không ai dám nghĩ điều ǵ sẽ xảy ra nếu kẻ thù vẫn tiếp tục…
...

Lúc đó chắc quân ta sẽ chuyển sang chiến thuật của anh Vũ Xuân Thiều - phi thẳng máy bay 1 đổi 1 - bác VHA nhỉ? (đương nhiên phải né cho được cái dàn bảo vệ để lủi thẳng vào B52 th́ mới có lời)

Posted by: VuHungAnh Dec 28 2011, 09:07 AM

QUOTE (Hậu sinh.2 @ Dec 26 2011, 11:07 PM) *
Lúc đó chắc quân ta sẽ chuyển sang chiến thuật của anh Vũ Xuân Thiều - phi thẳng máy bay 1 đổi 1 - bác VHA nhỉ? (đương nhiên phải né cho được cái dàn bảo vệ để lủi thẳng vào B52 th́ mới có lời)

Thật ra, như chúng ta đă biết, lúc đó có nhiều phi công đă định áp dụng chiến thuật cảm tử như vậy. Các phi công v́ quá bức xúc khi kẻ thù quá đông, việc đưa máy bay địch vào ống ngắm để nhấn nút tiêu diệt không phải là chuyện dễ. Sức ép thôi thúc phải lập công để chia lửa với bàn đàm phán ở Paris. Thế nên Tư lệnh Pḥng không – Không quân khi đó đă ra chỉ thị cấm tiêu diệt địch bằng cách một-đổi-một. Ngoài lệnh cấm, các chính trị viên c̣n phải làm công tác tư tưởng cho các phi công ta rất cẩn thận. Rằng th́ là phi công là vốn quư, ta không tự đào tạo được, phải gửi ra nước ngoài, nếu có chiến thuật hợp lư th́ một phi công có thể bắn rơi nhiều máy bay địch. Tuy nhiên vẫn lẻ tẻ có phi công tiêu diệt địch bằng cách lao thẳng máy bay ta vào máy bay địch.

Những chiến công lừng lẫy của Phạm Tuân, Phạm Thanh Ngân, Trần Hanh, Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Văn Cốc… chủ yếu thực hiện khi đánh chặn từ xa. Máy bay ta phải ṿng ra tận Đồng Hới hoặc ra tận biển rồi ṿng vào tiêu diệt địch trên vùng trời Thanh Hóa, Nghệ An… Trong trận oanh tạc Hà Nội, Hải Pḥng mười hai ngày đêm cuối 1972, địch bay vào rất đông, tầng tầng lớp lớp nên máy bay ta không thể nào xuất kích được. Hơn nữa khi đó lệnh của trên cũng cho phép bắn SAM II thoải mái. “Các đồng chí cứ phóng tên lửa thoải mái mà không sợ hết…”. Nhưng v́ địch vào quá nhiều, phóng được 12 ngày đêm th́ đến ngày 13, hết tên lửa…

Nhưng 12 ngày đó, B52 rụng như sung đă thử thách sự ngoan cố của kẻ thù đến nấc thang cuối cùng. Và cuối cùng chúng ta đă chiến thắng.

P/S: Cảm ơn Hậu Sinh đă tương trợ. Chẳng hay bạn có phiền ḷng v́ đă dựng bạn dậy vào giữa đêm khuya? Thật là áy náy quá…

Posted by: lanha92 Dec 28 2011, 04:15 PM

Em sinh ra sau năm 1972 được 10 năm
Nhưng dấu tích của những trận bom hủy diệt Hải Pḥng th́ đến tận những năm 2000 của thế kỷ này vẫn c̣n đó
Bác Minh Hp là người biết rơ nhất v́ thời của bác và em đi học, nguyên một ngôi đ́nh đổ nát v́ bom vẫn đứng đó như dấu tích của những ngày băo lữa. Rồi khi đào đường người ta c̣n t́m thấy một hầm trú ấn có hài cốt một nữ tự về khu. Người mẹ có mặt lúc đó ngỡ như mơ v́ hơn 30 năm sợi dây chuyền vẫn trên cổ con gái
Trong tâm trí người Hp là những ngày kinh hoàng tháng 4/1972, là dấu tích nhà máy XI măng bị bom tàn phá hay nhiều nhiều nữa vẫn hiển hiện
Có đôi lời chia sẻ cùng các bác nhân tháng 12 lịch sử

Posted by: lanha92 Dec 28 2011, 11:26 PM

Kính thưa các bác
Ông già em vinh dự là người hộ cờ trong đội h́nh diễui binh của Hải quân trong lễ duyệt binh mừng chiến thắng năm 1976
Thời gian gần đây em được biết có phim tài liệu về lễ duyệt binh này. Với niềm háo hức mong mỏi được xem về lễ duyệt binh này và cũng mong nh́n thấy h́nh ảnh của bố ḿnh, em kính mong các bác nào có th́ cho em xem cùng được không ạ

Posted by: Hoacamchuong Dec 29 2011, 05:29 AM

QUOTE (VuHungAnh @ Dec 28 2011, 09:07 AM) *
Những chiến công lừng lẫy của Phạm Tuân, Phạm Thanh Ngân, Trần Hanh, Vũ Ngọc Đỉnh, Nguyễn Đức Soát, Nguyễn Hồng Nhị, Nguyễn Văn Cốc… chủ yếu thực hiện khi đánh chặn từ xa. Máy bay ta phải ṿng ra tận Đồng Hới hoặc ra tận biển rồi ṿng vào tiêu diệt địch trên vùng trời Thanh Hóa, Nghệ An… Trong trận oanh tạc Hà Nội, Hải Pḥng mười hai ngày đêm cuối 1972, địch bay vào rất đông, tầng tầng lớp lớp nên máy bay ta không thể nào xuất kích được. Hơn nữa khi đó lệnh của trên cũng cho phép bắn SAM II thoải mái. “Các đồng chí cứ phóng tên lửa thoải mái mà không sợ hết…”. Nhưng v́ địch vào quá nhiều, phóng được 12 ngày đêm th́ đến ngày 13, hết tên lửa…
Nhưng 12 ngày đó, B52 rụng như sung đă thử thách sự ngoan cố của kẻ thù đến nấc thang cuối cùng. Và cuối cùng chúng ta đă chiến thắng.


Vốn là chiến sĩ báo vụ - tiêu đồ (vẽ lại đường bay) của F.363 thuộc Quân chủng Pḥng không - Không quân, HCC được các thủ trưởng "kể" cho nghe trong những lúc rảnh rỗi, rằng sau 10 ngày đêm mỏi tay nhấn nút "phóng" th́ kho tên lửa bắt đầu cạn. "Hàng mới" về không kịp do cảng Hải Pḥng bị Mỹ rải thủy lôi phong tỏa (hay tại "ông anh cả" - CCCP - thiếu... nhiệt t́nh?). Nên những ngày sau đó, tên lửa được phóng khá hạn chế. Một "chiến thuật" nhằm che mắt bọn gián điệp được thực hiện: Xe đặc chủng của bộ đội pḥng không kéo những quả tên lửa chạy rầm rập công khai trên đường phố rất nhiều (ngày ấy HCC chỉ có một thắc mắc là sao tên lửa cứ được kéo đi rồi lại kéo về liên tục). Mọi người được "mục sở thị" những quả SAM2 thực tế nên cứ trầm trồ và hănh diện, rằng đây chính là "khắc tinh" của B.52. Và ai cũng "ngạc nhiên", tên lửa về nhiều quá, hoan hô Liên Xô! Nhưng họ đâu có biết rằng, cái mà họ nh́n thấy chỉ là cái "vỏ" thôi. Tất nhiên!
Không phải chúng ta "khoe" cái vỏ đâu. Thực tế là tất cả tên lửa luôn luôn ở trạng thái "mặc định" là... rỗng ruột! Chỉ những quả nào được đưa lên giàn phóng trực chiến th́ mới được láp ráp ruột gan (ống thuốc phóng, mạch điện tử điều khiển, ng̣i nổ v.v...) đầy đủ, mà Miếu Môn là một trong những nơi lắp ráp ấy.
Sau này, khi "nh́n" lại những ngày tháng sôi sục ấy, nhiều người, nhất là những "kẻ nhiễu sự" thường rêu rao rằng, chỉ nhờ có may mắn (tổng thống Mỹ Nixon đă... nhát gan không đúng lúc, ra lệnh ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam) nên Việt Nam mới thoát khỏi cơn thịnh nộ của Mỹ, chứ nếu không, chỉ cần Mỹ "cố" thêm vài ngày nữa, Việt Nam... tiêu.
Vậy mà cũng đă có nhiều người tin vào cái luận điệu... "yêu nước Mỹ" ấy, lạ thật.
Trong nhiều dịp ôn lại kỷ niệm sau này, chính các tướng lĩnh Việt Nam đă từng phát biểu khẳng định rằng, đúng là đến ngày thứ 12 của chiến dịch, chúng ta "hết" tên lửa. Nhưng như thế không có nghĩa là chúng ta không thể tiếp tục đánh Mỹ! Vả lại, nếu có ǵ đó được gọi là may mắn, th́ cái may mắn ấy chỉ đến sau khi chúng ta đă đánh gục ư chí ngông cuồng của bọn xâm lược trong những ngày trước đó, đồng thời chúng ta cũng đă phải chấp nhận biết bao tang thương, mất mát, hy sinh...
Hơn nữa, chính báo chí Mỹ cũng đă thừa nhận trong những ngày thứ 9, 10 của chiến dịch rằng, cứ đà rụng như sung thế này, chỉ vài tuần nữa Mỹ sẽ hết B.52. Không lẽ điều này cũng là may mắn cho Việt Nam?
Tóm lại, chúng ta chiến thắng bằng chính ḷng quả cảm, ư chí quật cường chống quân xâm lược, bằng sức mạnh tổng hợp của chiến tranh nhân dân, bằng tất cả ḷng yêu nước vô bờ bến, bằng ḷng căm thù không thể nguôi ngoai những ǵ bọn xâm lược đă tàn phá đất nước ḿnh, chứ không phải bằng may mắn!
Đôi lời tâm huyết của một cựu chiến binh, với hy vọng không làm "loăng" đề tài của diễn đàn. Mong thay!

Posted by: Hậu sinh.2 Dec 29 2011, 07:54 AM

@bác VHA: giờ đó em c̣n tỉnh như sáo, chưa đi ngủ bác ui. Mà nếu có ngủ th́ vẫn sẵn sàng thức dậy mần liền chẳng thiệt hại ǵ đâu ạ, vẫn c̣n lời khẳm với mấy bài post của các bô lăo VHA, HCC và trẻ trai lanha. biggrin.gif Đọc bài bác HCC xong em phải công nhận giới quân sự và chính trị là cái kho tàng của các xảo thuật, mưu mô.

Posted by: Hoacamchuong Dec 29 2011, 09:58 PM

QUOTE (VuHungAnh @ Dec 26 2011, 10:53 PM) *
...
Ấy là vào đêm của ngày thứ 13, đêm 26/12/1972. Một sự thật mà cách đây ba hôm người viết mới biết là, chúng ta đă không c̣n một quả tên lửa nào cho lưới lửa pḥng không của ngày thứ 13! Cơ sở lắp ráp tên lửa ở Miếu Môn đă hết sạch phụ tùng để mà lắp ráp. Hàng lại chưa cập cảng Hải Pḥng…
...


Bài viết của bạn VuHungAnh có một chi tiết có lẽ cần đính chính chăng?
HCC nhớ rằng, chiến dịch Line Backer 2 (nhằm hủy diệt Hà Nội) của đế quốc Mỹ bắt đầu từ 18 đến 29/12/1972 (= 12 ngày đêm). Vậy đêm của ngày thứ 13 phải là đêm 30/12 (1972) chứ? Đêm 29/12 là đêm của ngày thứ 12 mà. C̣n đêm 26/12 là đêm của ngày thứ 9, chứ không phải đêm của ngày thứ 13.
Bạn đồng ư không?

Posted by: VuHungAnh Dec 30 2011, 08:54 AM

QUOTE (Hoacamchuong @ Dec 29 2011, 09:58 PM) *
Bài viết của bạn VuHungAnh có một chi tiết có lẽ cần đính chính chăng?
HCC nhớ rằng, chiến dịch Line Backer 2 (nhằm hủy diệt Hà Nội) của đế quốc Mỹ bắt đầu từ 18 đến 29/12/1972 (= 12 ngày đêm). Vậy đêm của ngày thứ 13 phải là đêm 30/12 (1972) chứ? Đêm 29/12 là đêm của ngày thứ 12 mà. C̣n đêm 26/12 là đêm của ngày thứ 9, chứ không phải đêm của ngày thứ 13.
Bạn đồng ư không?

Hoàn toàn đồng ư với đính chính này của bác HCC.

Mùa xuân năm 1968, Bác Hồ đă nói với tướng Phùng Thế Tài (Phó Tổng tham mưu trưởng) là: “Sớm muộn đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B-52 ra ném bom Hà Nội rồi có thua mới chịu thua. Chú nên nhớ trước khi đến Bàn Môn Điếm kư hiệp định đ́nh chiến ở Triều Tiên, Mỹ đă cho không quân hủy diệt B́nh Nhưỡng. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ chịu thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Nhưng ngay từ năm 1966, Bác đă cho lập một đoàn chuyên viên cao cấp vào khảo sát hoạt động của B52 ở chiến trường miền Nam. Đoàn cán bộ này đă vào đến tận Lộc Ninh, B́nh Phước và nằm vùng ở đó mấy tháng trời để xem vết bom rải thảm của “Pháo đài bay” B52. Đoàn do tướng Nguyễn Quang Bích làm trưởng đoàn. Tướng Nguyễn Quang Bích khi đó phụ trách chỉ huy Pháo binh Nam Bộ kiêm Chủ nhiệm pḥng không miền Nam. Khi trở về báo cáo với Bác Hồ kết quả khảo sát và phương án đánh B52 th́ đến tháng 12/1966 được bổ nhiệm làm Tư lệnh Pḥng không Hà Nội. Đến tháng 9/1972 làm Phó Tư lệnh Quân chủng Pḥng không – Không quân, trực tiếp chỉ huy trận đánh đầu tiên của Quân chủng trong chiến dịch Điện Biên Phủ trên không…

Như vậy Bác Hồ và Trung ương đă có kế hoạch tỷ mỉ và cẩn thận cho việc bảo vệ bầu trời Hà Nội và chờ B52 bay đến mà bắn hạ. Xét tương quan lực lượng lúc bấy giờ, như nhận định của chính phía bên kia th́ cuộc ném bom miền Bắc nước ta của Đế quốc Mỹ là rất không cần thiết và có hại v́ khi đó Mỹ đă quyết tâm rút khỏi chiến tranh. Mỹ biết rơ rằng không thể nào bắt chúng ta nhượng bộ một vấn đề cốt lơi sau gần 20 năm chiến tranh trong đó Mỹ đă đi từ thất bại này đến thất bại khác, chỉ bằng một cuộc ném bom dù ác liệt đến đâu. Nó chỉ làm dư luận Mỹ và thế giới bất b́nh với chính phủ Mỹ. Đây thực chất chỉ là cách để thể hiện trách nhiệm nghĩa vụ cuối cùng đối với đồng minh là chính quyền Sài G̣n v́ khi dự thảo Hiệp định đă được kư tắt với đoàn ta, chính quyền Sài G̣n đă phản đối kịch liệt và không chấp nhận, Hoa Kỳ quyết định dùng nấc thang quân sự mạnh tay nhất này để chứng tỏ họ đă cố gắng hết mức cho quyền lợi của đồng minh. Như vậy đó cũng chính là canh bạc cuối để ḥng gây sức ép, buộc chúng ta phải nhượng bộ trên bàn Hội nghị Paris với những điều khoản có lợi cho chính quyền Sài G̣n…

Kết quả thế nào th́ chúng ta đă rơ.

Thực ra năm 1972, người bạn lớn CCCP đă không chuyển giao cho chúng ta tên lửa SAM-3 có khả năng bắn hạ được B52, mà chỉ cho chúng ta SAM-2 có tầm với chỉ 7 km, c̣n lâu mới đến trần bay 10 km của B52. Nhờ các chuyên gia Cuba cải tiến giúp cho mà SAM-2 đă biến thành tên lửa tương đương SAM-3 làm cả thế giới bất ngờ. Khi cuộc oanh tạc của Đế quốc Mỹ vào Hà Nội và Hải Pḥng đang giữa cao trào, cả thế giới lên án quyết liệt nhưng kỳ lạ thay, hai anh bạn “lớn” của chúng ta th́ gần như im hơi lặng tiếng. Sau này chúng ta mới biết ư định thực sự của cả Liên Xô lẫn Trung Quốc khi đó là muốn Mỹ hiện diện ở Việt Nam càng lâu càng tốt và cuộc chiến giữa Việt Nam và Mỹ không nên kết thúc, như vậy họ mới có lợi. Những năm tháng ấy cả hai anh bạn lớn của chúng ta đều kinh hăi Mỹ và muốn chúng ta làm con đê ngăn Mỹ giúp họ yên ḷng vươn lên. Bởi thế mà sau này, vào cuối 1973 khi chuẩn bị chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đồng chí Lê Duẩn có đi Liên Xô và Trung Quốc xin ư kiến và sự ủng hộ th́ cả hai người bạn lớn đều không tán thành.

Trong bối cảnh đó, chúng ta vẫn đánh bại cuộc oanh tạc của Mỹ để làm nên một Điện Biên Phủ thứ hai, rồi sau đó giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Thực sự điều đó là vô cùng vĩ đại. Hiểu rơ toàn bộ bối cảnh lịch sử khi đó, lại càng thấy tài năng nghệ thuật và sự tài t́nh của nhạc sĩ Phạm Tuyên qua sáng tác Hà Nội – Điện Biên Phủ bất hủ của ông.

Như vậy là chúng ta không lạc đề đâu bác Hoacamchuong nhỉ? biggrin.gif

Posted by: Vĩ Cầm Đỏ Dec 30 2011, 10:13 AM

Ḿnh hoan nghênh bài viết này của bạn VHA, có nó ḿnh mới hiểu được cái "thâm cung bí sử" ngày ấy. Bởi những năm tháng ấy ḿnh không có mặt ở Hà Nội v́ đang ở chiến trường miền Nam - Nam Bộ. Mà ở chiến trường Nam Bộ việc "ăn" B52 th́ như cơm bữa. Thú thật với các bạn, lính ta ( từ lính chiến đấu cho tới lính cơ quan ) không sợ phản lực F105 hay các thứ khác đâu v́ có kinh nghiệm là biết cách né hay tránh được, chứ c̣n với B52 th́ không biết đường nào mà đoán...Nó cũng là cái số thôi !
Theo ḿnh mạng nên có những bài viết nội dung như vậy, bởi thành viên chúng ta cũng nên cần có nhiều kiến thức không chỉ trói gọn là những bài hát hay những lời b́nh liên quan....Bởi cuộc sống quanh ta thật phong phú, biết nhiều, nghe nhiều, học nhiều kiến thức thật bổ ích và biết đâu với những kiến thức đa dạng ấy chúng ta sẽ càng cảm nhận cái hay, cái sâu của mỗi bài hát của nhaccachmang.net ?

Posted by: Vĩ Cầm Đỏ Dec 30 2011, 10:24 AM

Vĩ Cầm Đỏ cũng cám ơn những thông tin của bác HCC nữa nhé.

Posted by: lanha92 Dec 30 2011, 11:14 AM

Em th́ chỉ là hậu sinh thôi
Nếu nói Hà nội có KHâm Thiên th́ Hải Pḥng có Hạ Lư
Nếu nói Hà Nội có ngày 25 12 tang tóc ở Khâm Thiên th́ cũng có ngày giỗ chung 16 4 cho tập thể khu dân cư Hạ Lư mỗi khi cô giáo dạy sử em hồi trước kể lại vẫn c̣n sợ v́ mức độ thảm khốc
Bài học Hải Pḥng tháng 4 ấy vẫn lưu truyền, dùng tên lửa đánh B52 với cường độ lớn nhưng không hạ được, sau đó mới có Hà Nội đúc rút kinh nghiệm. Em nghĩ 8 năm máu xương để làm nên chiến thắng B52 là sức manhj vĩ đại mà không dân tộc nào có được.
Em xin cảm phục các thành viên NCM đă sống và chiến đấu qua thới kư ấy

Posted by: VuHungAnh Dec 30 2011, 03:11 PM

Xin kể tiếp với cả nhà vài mẩu chuyện nhỏ về thị trấn Lộc Ninh, tỉnh B́nh Phước.

Thị trấn Lộc Ninh là một thị trấn nhỏ của tỉnh B́nh Phước (củng với B́nh Dương hợp thành tỉnh Sông Bé trước đây) nằm cách biên giới VN – CPC 4,5 km. Nơi đây dân cư thưa thớt và b́nh yên. Nhưng trong những năm chiến tranh, nơi đây chính là nơi căn cứ của ta với tên gọi Chiến Khu D. Chiến khu D trải dài cả trăm km suốt từ Lộc Ninh của B́nh Phước đến quá Mộc Bài thuộc Tây Ninh. Nơi đây là vùng căn cứ rất rộng lớn của ta mà địch chưa bao giờ thực sự kiểm soát.

Mười sáu năm trước, vào năm 1996, VHA đă cùng đoàn cựu chiến binh của xí nghiệp tới thăm chiến khu D ở Lộc Ninh. Quốc lộ 13 nối tp HCM với B́nh Phước khi đó đầy ổ gà ổ voi và hẹp tư tẹo như đường tỉnh hẻo lánh nào đó vậy. Cây cối trơ trọi, nhà dân thưa thớt. Ban ngày th́ nắng như thiêu như đốt, nhưng ban đêm lại dịu mát đúng như một kiểu khí hậu lục địa. Cửa khẩu Hoa Lư nom như một cái chợ quê bỏ hoang với mấy con ḅ đang gặm cỏ bên cái barie bé tư teo. Tới thăm chiến khu D, quang cảnh hầu như vẫn giữ được vẻ hoang sơ nên nom như các tướng lĩnh vừa qua đây vậy. Này là hầm của tướng Trần Văn Trà. Kia là hầm của tướng Văn Tiến Dũng…

Chính ở đây VHA được nghe câu chuyện về đoàn chuyên gia quân sự cao cấp của tướng Nguyễn Quang Bích, vị tướng mà khi đó nghe tên thật là lạ lẫm, từ HN vào khảo sát B52. Thực ra khi đó mọi người cũng chưa biết đến B52 v́ loại vũ khí này lúc đó c̣n đang trong bức màn bí mật, chưa hề được sử dụng ở bất cứ đâu, kể cả ở chiến trường ác liệt là đường Trường Sơn. Bộ đội ta thấy tiếng gầm của nó khác với tất cả các máy bay khác, kiểu rải bom như rải thảm th́ thật là ác liệt không đâu có nên kết hợp với thông tin t́nh báo mà đoán nó là B52. Chính đây là nơi đầu tiên Mỹ sử dụng B52 để ḥng xóa sổ cái ung nhọt là chiến khu D mà bấy lâu nay chúng không làm ǵ được. V́ thế mà đoàn khảo sát phải lặn lội vào tận Lộc Ninh này để mà nghiên cứu B52. Theo lời kể th́ ban đầu đoàn cũng rét với cái kiểu rải thảm biến đất đá thành bột của B52. Sau mới quen dần. Mấy tháng trời nằm vùng mà chưa t́m ra cách thức nào để tiêu diệt được B52, đoàn đành ra Bắc. Kết hợp với thông tin về cải tiến SAM-2 để có thể bay tới trần bay 10 km của B52 và cách phá nhiễu của nó, lúc đó mới dần h́nh thành nên cách đánh B52 như sau này ta thấy kết quả.

Cách đây 2 năm, trở lại thăm Lộc Ninh, một bộ mặt mới thay đổi đến ngỡ ngàng. Quốc lộ 13 bây giờ là đường cao tốc xuyên Á rộng thênh thang, c̣n to và đẹp hơn đường cao tốc Bắc Thăng Long – Nội Bài nhiều lắm. Nhà máy liên doanh với nước ngoài mọc lên ven đường nom mát cả mắt. Cây cối xanh tươi. C̣n chiến khu D th́ được tân trang lại, các căn hầm th́ sạch sẽ và quét tước gọn gàng nom mới mẻ như đồ giả vậy! Cửa khẩu quốc tế Hoa Lư nối sang Campuchia bắt đầu sầm uất. Đất ven đường quốc lộ lên giá chóng mặt. Một người anh đứa bạn lưu lạc vào đây từ hai chục năm trước có gần trăm mét đất ven quốc lộ, xưa khen là giàu th́ méo mặt bảo chả đáng bao nhiêu, giờ đă mỉm cười rung đùi khoái chí lắm. Kinh tế khá lên nhưng bóng dáng xưa cũng dần bay đi mất.

Có bác nào tới thăm đất này th́ hăy nhớ nơi đây có nhiều điều đáng nhớ như thế….

Posted by: Vĩ Cầm Đỏ Dec 30 2011, 04:08 PM

Với những bài viết của VHA tôi thấy nên đăng bài viết này để bè bạn tham khảo. Chiến tranh và B52 thật bạo tàn !

Posted by: Vĩ Cầm Đỏ Dec 30 2011, 04:12 PM

30 GIÂY DƯỚI LOẠT BOM B52 .






Đôi khi những kỷ niệm của quá khứ chợt đến..tôi lại nhớ đến những cánh rừng, những con đường ṃn nhỏ ngoằn ngoèo đầy lá ở miền Đông… nơi ấy tuổi trẻ của tôi và của em đă trôi qua trong gian khổ, ác liệt của chiến tranh . Hôm nay đây, những niềm cảm xúc của quá khứ vẫn đeo đẳng trong tôi với bao kỳ niệm buồn vui .Thế rồi tôi viết trong niềm mê say xen lẫn những xúc động …để mỗi lần đọc, lại thấy được một phần cuộc đời chúng tôi ở đó…
Tặng TLP



1/ Chủ nhật được nghỉ, không phải đi tải gạo, không phải vào rừng cưa cây làm củi cho bếp ăn tập thể, không đào giếng và đạp chiếc xe lọc cọc thực hiện nghĩa vụ làm anh tiếp phẩm đi chợ mua rau mua cá...
Thật sướng, một tuần cũng chỉ mong cho tới chủ nhật như vậy.
Cả ngày nằm dài trên vơng suy nghĩ và mơ mộng.
Chán th́ đi chơi đến bè bạn đóng gần đó…
Nghĩ cho cùng, ḿnh đâu phải là người lười biếng lao động ?
Nhưng khổ một nỗi, từ nhỏ đă quen tay cầm cây dàn Violon hơn là cầm con dao hay cái cuốc cái thuổng…
Nhớ lại hồi trước khi vào chiến trường, ḿnh cũng tham gia lao động Xă hội Chủ nghĩa gánh cát từ băi sông Hồng vào lấp và mở rộng con đường Cổ Ngư dấy chứ !
Ngày vào chiến trường, ai cũng hiểu rằng đă đi kháng chiến th́ ai cũng phải lao động để lo cho ḿnh và cho mọi người, v́ thế ǵn giữ đôi tay để đảm bảo cho chuyên môn lúc này là không phải lúc.
Lao động là vinh quang cơ mà !
Ở rừng là vậy ! chuyên môn và lao động luôn đi đôi với nhau .

Hôm nay, trời nắng và se lạnh. Một mùa xuân nữa lại về.
Mấy hôm trước, ngày nào trời cũng mưa,
mưa đến thối cả ruột cả gan.
Mưa làm cho mọi người buồn.
Nh́n những cơn mưa sối sả, mịt mù cả trời đất mới thấm thía những cơn mưa rừng như thế nào ?
Khi ấy chỉ c̣n biết nằm lọt thỏm trên chiếc vơng dù nh́n trời…rồi…
ngắm đất và đếm từng giọt mưa rơi.
Quanh quẩn nỗi nhớ nhà…
Mưa, khí hậu ẩm uớt, một bộ đồ muốn khô mất cả tuần, muốn mau khô chỉ có cách hong bên bếp lửa - khi mặc mùi khói lẫn mùi mồ hôi luẩn quẩn bên ḿnh không tài nào chịu nổi, nhưng phải chịu vậy !
Ở rừng là thế !

2/ Tôi được một ngày thoải mái bên em và chỉ có em mà thôi.
Con đường ṃn nhỏ ngoằn ngoèo giống như một con rắn đang ḅ, trườn dài rồi mất hút trong mầu xanh của lá, bóng của hai đứa trải dài trong ánh nắng sớm mai, lúc quấn quưt khi rời xa, lung linh và huyền ảo…
B́a rừng, những cây mai vàng bắt đầu chớm nụ, chúm chím một màu vàng tươi.
Mùa này rừng ẩm thấp, lá đè lên lá, lớp này trồng lên lớp kia rồi mục dần là nơi lư tưởng cho loài kiến “bù nhọt” ẩn náu – mùi lá mục xông lên nồng nồng, ngai ngái.
Măi sau này mỗi khi nhớ về rừng, tôi luôn nhớ cái mùi nồng ngái ấy, nhớ đến cả những tiếng chạy rào rào của lũ kiến mỗi khi động ổ.

Tôi và Em vẫn đi trong tĩnh mịch, yên ả của rừng.
Thi thoảng nghe thấy tiếng ầm ầm của bom từ nơi xa vọng về…
Cây lá lao xao, bao bọc tôi và em là mầu xanh bất tận.
Cây Bằng Lăng, cây Sao, Thao lao và cây Đay… cùng vô vàn các loại dây leo quấn quưt bên nhau.
Lũ kiến đang chạy.
Con chim đang hót…
Một buổi sáng thanh b́nh tôi và em đang ở bên nhau.
Uớc ǵ con đường dài ra măi, ra măi…

Những ngày ở rừng cho tới ngày chiến tranh kết thúc, bộ quần áo xanh bạc mầu, loang lổ những vệt đen bởi nhựa cây v́ những lần lao động trong rừng tôi vẫn mặc.
C̣n em ?
Tôi nhớ bộ bà ba đen bằng vải thô, cổ h́nh trái tim ấy đă theo em trong những năm tháng dài từ ngày đầu vào chiến trường nay em vẫn mặc.
Tôi yêu cách mặc ấy,
v́ nó giản dị
Như bản chất con người em vậy.

Tôi và em mới yêu nhau, như những con chim được sổ lồng bay lượn trên bầu trời,
được công khai,
được tự do,
không dấu diếm và không bị kiểm điểm.
Một thời gian dài, chúng ta bị “làm t́nh làm tội” v́ những định kiến cổ hủ khe khắt của người đời…
Nhưng cả hai vẫn vượt qua tất cả…

Định mệnh ? Số phận đă gắn với chúng ta với nhau ?
Thật khó lư giải !

…Những ngày đầu quen biết nhau, chúng ta chỉ là những đồng đội đồng chí của nhau trên đường vào chiến trường miền Nam.
Cùng là dân sinh ra và lớn lên ở Hà Nội.
Ngày ấy, em là một thiếu nữ, một thiếu nữ với đúng nghĩa của nó :
Trong sáng, vô tư và ngơ ngác trước cuộc đời…
Em c̣n quá trẻ để dấn thân vào một cuộc “trường chinh” lửa đạn…

Tôi 22 tuồi đầu, chỉ hơn em năm tuổi nhưng cái cảm giác thời bây giờ cũng đă là một người “ từng trải ” theo con mắt người khác.
Tôi thấy ḿnh chưa phải là một thanh niên đủ độ “ chín ” trong cuộc đời - như một chú chim con đang tập bay trên đôi cánh chưa cứng cáp, và nh́n cuộc đời lúc nào cũng một “mầu hồng”.

Những năm đầu sống và làm việc trong khu, em coi tôi như những người đồng nghiệp trong cơ quan.
Thờ ơ, lạnh lùng
thậm chí không ưa cái anh chàng cán bộ nhà nước có bộ dạng công tử Hà Nội kia mà !
Đám bạn gái trêu trọc em :

“Thế nào mày cũng dính với ông ấy cho mà xem ”
“Đồ quỷ ! ”
em nói trong tiếng cười khúc khích…

Và… Cái ǵ đến cũng phải đến.
Chúng tôi đă yêu nhau thật lăng mạn.
Chân thành và hưởng những ngọt ngào… của t́nh yêu ngay căn lều nhỏ của tôi sát cái trảng mọc đầy hoa sim màu tím của rừng miền Đông.

3/ Trưa,
trời xanh trong và yên ắng một cách khác thường…
so với những ngày trước đó, không tiếng máy bay, không tiếng bom rền nơi xa.
Chúng tôi sẽ được hưởng niềm vui trọn vẹn bên bè bạn – những người bạn họa sĩ trong ngày nghỉ cuối tuần…
Nhưng ! Một sự việc kinh hoàng ập đến :
Cuộc tṛ chuyện đang vui, đang rôm rả…
Không ai bảo ai mọi người đều im lặng, ánh mắt nh́n nhau như muốn nói…”
Một sự hiểm nguy đang đến trong khoảnh khắc” …Tiếng ầm ́ nặng nề của B52 ngày một tới gần.
Yên lặng !
Hồi hộp !
Sợ hăi !
đang bao trùm lấy mọi người.
Tôi có thể nghe thấy rất rơ tiếng đập th́nh thịch của tim, nó như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Giây phút này đáng sợ làm sao…
Tiếng ầm ́ lúc to, lúc nhỏ như tiếng cối xay gạo vang dần như những đợt sóng lớn đánh vào bờ.
“Nó mang nhiều bom lắm đây”
Tôi nghĩ vậy.
Không nói, nhưng mọi người đều biết rằng đó là tiếng máy bay B52 một “hung thần” của chiến tranh, một “đao thủ phủ” chỉ với một lưỡi đao sắc và ngọt mà biết bao nhiêu người phải chết.

“Nó” dang tiến lại thật gần hướng của chúng tôi.
Trong tích tắc… những tiếng rít ghê rợn cái nọ tiếp cái kia như muốn xé tan bầu trời : Bom nổ rền và đanh liên tiếp ập trên đầu.
Không một ai phản ứng kịp với loạt bom đầu tiên ấy.
Mọi người bàng hoàng, sợ hăi đến tột cùng.

Trong khoảnh khắc ngắn ấy…
Mùi bom, đất cát.
Thân cây đổ kêu răng rắc, kẽo kẹt như tiếng nghiến răng của tử thần…
Khói bom, lửa cháy mù mịt khét lẹt căn cứ…
Như một bản năng sinh tồn, tôi lao ngay xuống hầm - căn hầm dă chiến được đào ngay trong nhà lợp lá trung quân.
Ngước nh́n lên vẫn thấy em,
em đang luống cuống chậm chạp phản ứng.
Tôi phải dướn người lên trên miệng hầm dùng hết sức ḿnh để kéo em xuống, cả hai ngă dụi trong căn hầm rồi nép ḿnh vào một góc khuất nhất, ngồi lom khom bó gối đầu cúi thật thấp trong căn hầm tối om.
Lúc này chúng tôi ước ǵ cho người bé nhỏ, càng nhỏ càng tốt để tránh cái chết.
Căn hầm như đung đưa th́ phải ?
Đất rơi từng mảng, từng mảng phủ khắp người.
Sao mà ngột ngạt khó thở quá !
Thở dốc ! thở hồng hộc như con cá nằm trên cạn.
Hai đứa ôm nhau thật chặt chở che cho nhau và hồi hộp đợi chờ…

Loạt bom thứ nhất trôi qua.
Cả khu rừng im lặng.
Cái yên lặng đáng sợ ghê rợn ấy chưa kết thúc v́ c̣n loạt bom thứ hai rồi thứ ba sẽ tiếp tục…
Như vậy chúng tôi vẫn phải chờ đợi “Lưỡi hái Tử thần” hai lần nữa…

Khoảnh khắc ngắn ngủi - chỉ có vài ba giây sao nó dài đến như vậy?

Đôi tai nhức nhối v́ cát bụi, v́ âm thanh của bom…
Nước mắt, nước mũi trào ra ngập ngụa.
Ho dai dẳng, ho đến sặc sụa.
Lồng ngực như muốn xé tan thành từng mảng từng mảng.
Căn hầm tối đen.
Đất ẩm và lạnh.
Con “Lôm chôm” cao cẳng (một sinh vật nhỏ chuyên sống trong đất ẩm) nhảy tứ tung khắp người…

Chúng tôi vẫn muốn sống v́ cuộc đời đẹp quá, chỉ vài giây vừa mới trôi qua, sự sống và cái chết gần nhau đến thế ? Đă không biết bao nhiêu lần, tôi và em thoát khỏi nhiều hiểm nguy của cái chết…từ bom pháo, từ máy bay phát hiện bắn hỏa tiễn xuống…cho tới bị biệt kích phục kích…và nếu không chết bởi bom đạn th́ cũng có thể chết v́ sốt rét ác tính, rắn rết, cùng nhiều cái chết khác đến bất cứ lúc nào…

Nhưng hôm nay, giây phút này, tôi cảm nhận được tất cả những ǵ đang xẩy ra ngay ở trên đầu ḿnh :
Tiếng kêu la thất thanh của người, tiếng rên rỉ của thú vật bị thương dội vào căn hầm …

Loạt bom thứ hai rồi thứ ba tiếp tục phá nát và huỷ diệt những ǵ c̣n lại…

Chúng tôi đă sống sót vô cùng may mắn và thật kỳ diệu vào cái ngày đầu tiên của mùa xuân năm 1970 .

Cùng d́u nhau bước ra khỏi căn hầm người lấm lem đất cát, loạng choạng, vật vờ như giữa cơn say… mắt nheo nh́n bầu trời nắng chói chang, cảnh vật điêu tàn và căn cứ thanh b́nh không c̣n nữa, tất cả đă bị huỷ diệt - mọi người đang dáo dác t́m kiếm trong đống đổ nát hoang tàn với nhiều xác chết và khắc phục những ǵ c̣n lại sau trận bom do “Pháo đài bay” B52 đem đến trong khoảnh khắc 30 giây ngắn ngủi ấy .







================






Ghi chú : Máy bay B52 là loại máy bay ném bom chiến lược khổng lồ - át chủ bài của Mỹ trong cuộc chiến tranh tại VN . Mỗi lần ném bom chúng đều bay 3 chiếc và chia thành ba đợt, mỗi đợt bom rơi cách nhau khoảng gần 10 giây . Trong mỗi phi vụ ngoài B52 ra c̣n có 3 hay 4 máy bay phản lực đi kèm hộ tống .

Bài đăng trên báo Đại Đoàn Kết



Posted by: Hoacamchuong Dec 30 2011, 10:41 PM

QUOTE (Vĩ Cầm Đỏ @ Dec 30 2011, 04:12 PM) *
30 GIÂY DƯỚI LOẠT BOM B52 .
...
----------------
Ghi chú : Máy bay B52 là loại máy bay ném bom chiến lược khổng lồ - át chủ bài của Mỹ trong cuộc chiến tranh tại VN . Mỗi lần ném bom chúng đều bay 3 chiếc và chia thành ba đợt, mỗi đợt bom rơi cách nhau khoảng gần 10 giây . Trong mỗi phi vụ ngoài B52 ra c̣n có 3 hay 4 máy bay phản lực đi kèm hộ tống .

Bài đăng trên báo Đại Đoàn Kết


Em xin cảm ơn bài viết thật hay của bác Vĩ Cầm Đỏ. Hóa ra ng̣i bút bác lăng mạn hơn em tưởng rất nhiều đấy ạ. Ngoài tay kéo violon chuyên nghiệp, bác c̣n là tay viết văn... hớp hồn người nữa. Giờ th́ em đă hiểu v́ sao mà ca sĩ TLP "say" bác đến tận hôm nay mà... vẫn c̣n say! biggrin.gif
Em xin cảm ơn bác đă có lời động viên. Thực ra th́ em không có nhiều thông tin như "bạn" VuHungAnh đâu, mà em chỉ là một trong số những "người đương thời" từng... đội bom B.52 đến trường thôi. Rồi khi nhập ngũ lại vào ngay đơn vị Pḥng không - Không quân, nên dù chỉ là lính báo vụ - tiêu đồ, nhưng em cũng được học chút ít về B.52. Tiện đây em xin bổ sung cùng bác:
Thường trước khi dùng B.52 rải thảm, Mỹ cho một máy bay trinh sát "đi" trước rải băng kim tuyến (giống loại băng mà các bạn trẻ ngày nay hay dùng trong các đám cưới) nhằm gây nhiễu cho radar của ta. Loại băng này được mạ hợp kim bạc (giống như giấy bạc trong bao thuốc lá Điện Biên ở miền Bắc ngày trước ấy), rất mỏng và rất nhẹ. Chúng được rải từ tầm cao 9000 "phit" (đơn vị đo độ cao của Mỹ, tương đương 10km), nên bay lơ lửng trong không trung rất lâu. Chúng phản xạ sóng radar một cách loạn xạ khiến cho màn h́nh radar bị nhiễu rất khó phát hiện mục tiêu. Sau đó th́ B.52 mới xuất hiện. Bản thân B.52 cũng có máy phát tín hiệu gây nhiễu radar đối phương nữa, nghĩa là theo cách Mỹ tính toán, radar của ta hầu như bị "mù" trước B.52.
B.52 không bay một ḿnh, mà là bay theo đội h́nh tốp 3 chiếc xếp theo h́nh tam giác, xung quanh tốp này c̣n có khoảng vài chục chiếc "F" (F.4, F.105...) bay hộ tống. Mỗi đợt không kích như vậy, Mỹ dùng 3 tốp (= 9 chiếc) B.52, mỗi tốp cách nhau khoảng 10 giây bay. Điều đó giải thích v́ sao, khi B.52 xuất hiện, nh́n lên bầu trời thấy đen đặc rất nhiều máy bay. Kinh lắm!
Vệt rải thảm bom của B.52 rộng khoảng 1000m (1km), dài khoảng 3000 - 4000m. Cái "diện tích" bị bom ấy phải hứng chịu liên tục 3 đợt rải thảm cách nhau khoảng 10 giây. Như vậy có nghĩa là tất cả mọi sinh vật nằm trong vệt rải thảm đều không thể sống sót! Chí ít đấy cũng là tính toán của Mỹ. Và v́ rất tin tưởng với con ngoáo ộp B.52, Mỹ hy vọng sẽ "kết thúc chiến tranh Việt Nam" theo cách mà Mỹ muốn.
Về phía ta, đúng như thông tin của bạn VuHungAnh, với nhăn quan của nhà chiến lược thiên tài, ngay từ 1966, Bác Hồ đă chỉ đạo Bộ Quốc pḥng nghiên cứu cách đánh B.52. Một sự chuẩn bị từ rất sớm!
Tất nhiên là chẳng dễ để làm được việc đó, bởi v́:
1) Ngoài rất nhiều những khó khăn phức tạp khác, th́ việc xác định mục tiêu (B.52) trên màn h́nh radar nhiễu loạn là gần như không thể. Cho đến khi Mỹ leo thang chiến tranh, cho B.52 ra đến phía Bắc miền Trung, chúng ta mới có một số trận đánh nhau trực tiếp với B.52 nhưng... không hiệu quả.
2) Giả sử có xác định được mục tiêu, th́ khi tên lửa của ta được phóng lên, hầu hết chỉ "chơi" được bọn "F" hộ tống rất đông ở ṿng ngoài thôi, chứ B.52 th́...
Thế nhưng cái khó đă không bó được cái khôn! Sau rất nhiều thất bại, trăn trở, rút kinh nghiệm và sáng tạo, bộ đội ta đă t́m ra lời giải cho bài toán hóc búa này (tương tự như việc mới đây Giáo sư Ngô Bảo Châu t́m ra lời giải cho "Bổ đề cơ bản" của nhà toán học vĩ đại Langlands vậy). Đó là:

- B.52 phải mang rất nhiều bom nên rất nặng nề, v́ thế chúng bay chậm hơn b́nh thường một chút.
- Đội h́nh B.52 phải được giữ ổn định trong suốt quá tŕnh hoạt động. Đó là yêu cầu khắt khe về kỹ-chiến thuật của Không quân Mỹ.
- Nhưng bọn "F" hộ tống th́ chúng không thể giữ ổn định đội h́nh măi được, v́ chúng c̣n phải lo đối phó với lưới lửa pḥng không của ta.

Từ những kết luận trên, bộ đội radar đă "dễ dàng" xác định được mục tiêu: những tín hiệu B.52 giả thường có đường bay không ổn định, chỉ cần loại bỏ dần dần các thứ "giả" đó, sẽ c̣n lại cái thật. B.52 thật lọt vào tầm ngắm. Điều này th́ chính Mỹ cũng không thể ngờ tới.
C̣n với bọn "F", v́ chúng bay thành đoàn đông theo đội h́nh nên pháo cao xạ 100 li chơi rất ngon ăn, cứ vít cổ vài thằng xuống là đội h́nh của chúng rối loạn ngay, thế là B.52... hở sườn.
Điều đó giải thích v́ sao trong những ngày "chơi" B.52, chúng ta bắn rơi được nhiều chiếc "F" thế.
Rốt cục điều ǵ xảy ra th́ mọi người đều đă biết: 12 ngày đêm tháng 12 năm 1972, ta "tóm" được 81 máy bay Mỹ, trong đó có 34 pháo đài bay B.52 (16 "em" rơi tại chỗ). Nước Mỹ mất mặt với thế giới. Tổng thống Mỹ Nixon ôm đầu nhăn nhó. Cả thế giới ca ngợi Việt Nam. Trong đó hai "ông anh" (LX, TQ) của chúng ta buộc phải... hoan hô thật to!
Sướng không thể tưởng được!
Bác Vĩ Cầm Đỏ có sướng không ạ?

Posted by: meusangele Dec 31 2011, 08:54 AM

Ngày cuối năm, đọc những bài viết về lịch sử của các bác- những cựu chiến binh- thật thú vị bởi sự chân thực và gần gũi. Cháu chân thành cảm ơn các bác và kính chúc các bác cùng tất cả thành viên trong gia đ́nh NCM đón một năm mới tràn đầy sức khỏe và niềm vui.

Posted by: Vĩ Cầm Đỏ Dec 31 2011, 03:20 PM

Bạn HCC thân mến, những điều bạn nói về B52 hoàn toàn chính xác, nhưng tất cả chiến thuật này của B52 chỉ áp dụng ở miền Bắc mà thôi, C̣n ở chiến trường miền Nam th́ chúng kg đi theo những cách như vậy (v́ làm ǵ có tên lửa) thời gian ấy. Nhưng luôn đi theo đội h́nh 3 chiếc.
Rất cám ơn sự quan tâm của bạn về bài viết, thực ra Vĩ Cầm Đỏ viết rất nhiều (cho báo và cho riêng ḿnh) Sẽ gửi tặng bạn truyện ngắn ḿnh viết gửi qua Email. Thân mến năm mới vui và khỏe cùng gia đ́nh. VCD.

Posted by: Hoacamchuong Jan 1 2012, 02:16 AM

QUOTE (Vĩ Cầm Đỏ @ Dec 31 2011, 03:20 PM) *
Bạn HCC thân mến, những điều bạn nói về B52 hoàn toàn chính xác, nhưng tất cả chiến thuật này của B52 chỉ áp dụng ở miền Bắc mà thôi, C̣n ở chiến trường miền Nam th́ chúng kg đi theo những cách như vậy (v́ làm ǵ có tên lửa) thời gian ấy. Nhưng luôn đi theo đội h́nh 3 chiếc.
Rất cám ơn sự quan tâm của bạn về bài viết, thực ra Vĩ Cầm Đỏ viết rất nhiều (cho báo và cho riêng ḿnh) Sẽ gửi tặng bạn truyện ngắn ḿnh viết gửi qua Email. Thân mến năm mới vui và khỏe cùng gia đ́nh. VCD.


Giờ đầu tiên của năm mới 2012, em chân thành gửi đến gia đ́nh bác Vĩ Cầm Đỏ lời CHÚC MỪNG NĂM MỚI!
Dạ đúng là em đă sơ xuất khi bổ sung thông tin về "cách đánh B.52". V́ "mê mải" với nội dung bài viết mà em quên kèm theo một câu "chiến thuật B.52 Mỹ áp dụng vào miền Bắc Việt Nam là...".
Sẵn dịp, em "nổ" thêm vài thông tin nữa liên quan đến "chiến dịch Line Backer 2" của Mỹ.

Số là các cuộc hội đàm ở Paris về vấn đề chiến tranh ở Việt nam luôn luôn bế tắc do thái độ thiếu thiện chí của phía Mỹ. Trong khi yêu sách của 2 phái đoàn ta (Việt Nam Dân chủ cộng ḥaChính phủ cách mạng lâm thời Cộng ḥa miền Nam Việt Nam) là "quân đội nước ngoài phải rút hết khỏi miền Nam Việt Nam", th́ Mỹ lại có một yêu sách không thể chấp nhận được, đó là "Quân đội Bắc Việt phải rút hết về miền Bắc, quân đội các nước đang tham chiến ở nguyên vị trí hiện tại". Vô lư, "chủ nhà th́ phải rút đi, c̣n lính xâm lược th́ ở lại", thật ngang ngược hết chỗ nói. Mặc dù Hiệp định về "Chấm dứt chiến tranh, lập lại ḥa b́nh ở Việt Nam" đă được kư tắt tháng 10/1972 nhưng v́ sự phản đối của Tổng thống Việt Nam Cộng ḥa (Nguyễn Văn Thiệu) nên Mỹ đă đơn phương đ̣i xét lại một số điều khoản, nên Hiệp định chưa thể được kư chính thức. Hội nghị Paris lại tiếp tục.
Sau phiên họp tháng 11/1972 không có kết quả ǵ, ngoài hành lang pḥng họp, Ngoại trưởng Mỹ, tiến sĩ Henry Kissinger nói với Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ:

- Ngài có biết rằng, với tiềm lực kinh tế và quân sự của ḿnh, Mỹ có thể đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá trong một sớm một chiều?

Cố vấn LĐT chẳng thay đổi nét mặt:

- Ngài cũng thừa biết, ngày xưa phát-xít Đức đă hủy diệt người Do Thái như thế nào. Vậy mà người Do Thái vẫn tồn tại đến ngày nay đấy. Nước Mỹ có làm được như phát-xít Đức không?

H. Kissinger bối rối. Đơn giản là v́ đương kim Ngoại trưởng Mỹ là người Mỹ gốc Do Thái.
V́ cả hai bên không nhượng bộ nhau nên Hội nghị Paris bế tắc.
Và Mỹ đă thực hiện ngay ư đồ "đưa miền Bắc Việt Nam trở lại thời kỳ đồ đá". Khi Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ vừa về đến Hà Nội (ngày 18/12/1972) là lập tức B.52 chơi đ̣n phủ đầu. Và diễn biến 12 ngày đêm tháng 12/1972 ấy ra sao, chúng ta đă biết rồi. Cả thế giới ca ngợi Việt Nam. Con ngoáo ộp B.52 hết thiêng. Nước Mỹ mất mặt với thế giới. Tổng thống Mỹ Nixon ôm đầu nhăn nhó (h́nh ảnh này được đăng rất nhiều trên các báo thời kỳ đó) và kư ngay quyết định "chấm dứt ném bom miền Bắc Việt Nam - từ vĩ tuyến 17 trở ra - từ 0 giờ ngày 30/12/1972". Đồng thời mời các bên tham gia Hội nghị Paris trở lại bàn đàm phán.
Cố vấn Lê Đức Thọ lại sang Pháp.
H. Kissinger đứng đón ở cửa pḥng họp ch́a tay bắt. Cố vấn Lê Đức Thọ (LĐT) mắng ngay:

- Tôi không thể bắt tay ngài được, cái bàn tay ngài vấy máu của nhân dân Việt Nam.

H. Kissinger lúng túng:

- Xin ngài cố vấn thông cảm, tôi chỉ là Ngoại trưởng thôi, mọi vấn đề do Tổng thống của tôi quyết định.

Cố vấn LĐT không tha:

- Cái thân phận làm thuê của ngài nó khổ thế đấy, chẳng dám quyết điều ǵ cả, cái ǵ cũng phải xin ư kiến Tổng thống. Cứ như tôi đây, mọi việc đàm phán ở đây tôi có thể chủ động quyết luôn, không phải hỏi ai cả.

Chưa bao giờ người ta thấy Ngoại trưởng Mỹ bẽn lẽn như lần này.
Và thế là chỉ sau chưa đầy 1 tháng kể từ khi "thần tượng B.52" sụp đổ, ngày 23 tháng Giêng năm 1973, Hiệp định Paris về "Chấm dứt chiến tranh, lập lại ḥa b́nh ở Việt Nam" được Cố vấn LĐT và Ngoại trưởng H. Kissinger kư tắt. 4 ngày sau (27 tháng Giêng 1973), 4 bên tham gia đàm phán đă kư chính thức vào bản Hiệp định lịch sử này. Trong đó, Chương I, điều 1 ghi:

"Hoa Kỳ và các nước khác tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lănh thổ của nước Việt Nam như Hiệp định Giơ-ne-vơ năm một ngh́n chín trăm năm mươi tư về Việt Nam đă công nhận".

Chưa bao giờ người Việt Nam ta ăn một cái Tết vui và hạnh phúc như cái Tết năm đó.
Ngày 8/2/1973, H. Kissinger thăm Hà Nội. Ông được Thủ tướng Phạm Văn Đồng đưa đi thăm một số đền chùa ở Hà Nội. Khi được hướng dẫn viên du lịch dịch và phân tích bài thơ "Thần"(*) của Lư Thường Kiệt (1019 - 1105), ông ngạc nhiên thốt lên:

- Ơ, đây chính là điều 1 chương I của Hiệp định Paris.

Thủ tướng Phạm Văn Đồng cười tươi:

- Bây giờ ngài mới biết à? Điều này chúng tôi đă có từ ngh́n năm nay rồi!

--------------------------
( *) Nam quốc sơn hà Nam đế cư
Tiệt nhiên định mệnh tại thiên thư
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.

Posted by: VuHungAnh Jan 4 2012, 02:57 PM

Mừng Quốc khánh Vương quốc Campuchia (7/11979 – 7/1/2012)

Ba mươi ba năm trước, ngày 7/1/1979 chế độ diệt chủng của bè lũ Pol Pot – Yeng Sary đă bị quân Giải phóng Nhân dân Campuchia và quân T́nh nguyện Việt Nam đập tan tành, thiết lập nên nhà nước Campuchia mới. Nhân dịp này chúng ta cùng nghe lại niềm hân hoan khi chế độ diệt chủng ở Campuchia sụp đổ và một tương lai hồi sinh cho dân tộc này đang chờ đón ở phía trước qua sáng tác rất hay của nhạc sĩ Vũ Thanh viết trong thời gian ông sang giúp Đài Tiếng nói Nhân dân Campuchia thực hiện mảng âm nhạc (1980 – 1982):

Cảm xúc trên đường Phnompenh
(sáng tác Vũ Thanh – thể hiện: Bích Liên):


1) Vui sao hôm nay nắng lên chan ḥa đẹp trời Phnompenh
Ngọn cờ hồng tung bay sáng tươi trên phố phường mến yêu
Tung tăng em thơ bước nhanh đến trường đường rộn ràng vui
Và màu hoa áo mới mắt ai tươi lên niềm ước mơ
Tôi vui bước trên đường Phnompenh
Nghe tiếng trống lăm vông vui từng nhịp chân
Sóng reo Mekong chan ḥa tiếng ca

Ơ….ơ….ơ….
Phnompenh mến yêu! Vĩnh viễn từ nay đă về Người
Sắc xuân đẹp xinh giữ trọn đời
Vững tin ngày mai sáng ngời
Tôi vui bước trên đường Phnompenh
Măi măi nhớ ghi ơn bao người hy sinh
Đắp xây mối t́nh cao đẹp sắt son

2) Nơi đây đau thương mỗi căn nhà vườn cây góc phố
V́ ai mà Phnompenh xác xơ trong hoang tàn cách chia
Không gian âm vang tiếng thét căm bọn hủy diệt hung ác
Dù ngàn đời mai sau vẫn không bao giờ tắt nguôi
Đêm tối đă qua b́nh minh lên
Cây lá biếc non xanh trong cuộc hồi sinh
Đó đây vang lên muôn lời hát ca

Ơ….ơ….ơ….
Phnompenh mến yêu! Vĩnh viễn từ nay đă về Người
Sắc xuân đẹp xinh giữ trọn đời
Vững tin ngày mai sáng ngời
Tôi vui bước trên đường Phnompenh
Măi măi nhớ ghi ơn bao người hy sinh
Đắp xây mối t́nh cao đẹp sắt son

Hôm nay bước trên đường Phnompenh
Đă thấy sáng tương lai xây dựng ngày mai
Nắng lên Phnompenh chan ḥa ánh dương


Xuất phát điểm của chiến thắng

Tháng tư năm 1975, toàn Đông Dương được giải phóng. Những tưởng từ đây ba nước anh em Việt Nam, Lào và Campuchia sẽ hưởng yên b́nh cùng nhau xây dựng đất nước và hướng tới một mái nhà chung là Đông Dương th́ ở Campuchia, một sự thoái trào nảy sinh và phát triển thành chế độ diệt chủng do Pol Pot và Yeng Sary cầm đầu đă đưa cả dân tộc Campuchia vào đêm đen. Cả đất nước biến thành trại tập trung, hàng triệu người bị giết bằng những cách thức từ thời Trung cổ, hàng triệu người khác bị tàn phế cả về thể xác lẫn tinh thần.

Trong bối cảnh ấy, người thanh niên Hun Sen 26 tuổi đă cùng bạn bè đồng chí chạy sang Việt Nam lánh nạn và được chính phủ Việt nam chấp nhận đồng thời hết ḷng giúp đỡ để vào ngày 12/5/1978, tại Suối Râm (xă Long Giao, huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai), lực lượng vũ trang cách mạng đoàn kết cứu nước Campuchia được thành lập, lấy phiên hiệu là Đoàn 125, do chính Hun Sen làm Chỉ huy trưởng. Đây là đơn vị tiền thân đầu tiên của quân đội Campuchia.

Trong thời gian này, Việt Nam đă phát động chiến dịch t́nh nguyện quốc tế giúp đất nước này thoát khỏi chế độ Pol Pot. Được sự giúp đỡ của quân T́nh nguyện Việt Nam, ngày 7/1/1979, Campuchia đă được giải phóng thoát khỏi chế độ diệt chủng Pol Pot….Tuy nhiên chiến thắng không đến hoàn toàn và trọn vẹn ngay khi đó mà cuộc chiến tranh giải phóng đă biến thành cuộc nội chiến kéo dài hơn hai mươi năm sau đó gây tổn thất nặng nề về người và của cho dân tộc này và cả cho quân T́nh nguyện Việt Nam nữa. Không biết có thêm bao nhiêu chiến sĩ quân giải phóng Campuchia và quân t́nh nguyện VN đă hy sinh trong hơn 20 năm sau ngày cách mạng tháng Giêng thành công.

Một người bạn thân thiết thuở thiếu thời của người viết những ḍng này đă hy sinh trên đất Campuchia trong năm đầu tiên giải phóng đất bạn. Anh ấy hơn người viết hai tuổi, cao to khỏe mạnh và bơi lội rất giỏi. Nhà nghèo, ở ven sông, chúng tôi sống bằng cá tôm dưới sông. Bên nhau suốt những tháng năm chiến tranh oanh tạc của đế quốc Mỹ, đă nh́n thấy Sở Dầu cháy rát mặt, Hạ Lư bị bom thảm sát, nhưng chúng tôi không hề sứt mẻ một ly. Vào bộ đội, sang chiến đấu ở chiến trường K, anh đă ra đi v́ súng bắn tỉa của bọn nhóc Khmer Đỏ trên đất bạn Campuchia…

Năm 1984, khi đang trong quân ngũ, người viết cùng đồng đội có một chuyến công tác sang Phnompenh. Mặc dù đă 5 năm cách mạng Tháng Giêng thành công nhưng t́nh h́nh Thủ đô Phnompenh vẫn hết sức bất ổn. Ngay cả là bộ đội mà cấp trên cũng ra chỉ thị sau 6 giời tối cấm đi xa khỏi doanh trại. Suốt một tuần trên đất bạn, chúng tôi chỉ biết mỗi cái chợ gần doanh trại bộ đội VN ở giữa Phnompenh. Cái chợ này tất cả hàng hóa đều bày toẹt xuống đất, chỉ trải mỗi cái mẹt hoặc hoặc mảnh nilon cho gọi là. Nom hệt như một cái chợ quê VN ở vùng hẻo lánh nào đó. Hàng hóa Thái Lan rất nhiều, nhưng bộ đội ta chỉ thích mua dép Thái loại màu gan gà mà ta gọi là “tông Thái” về làm quà cho người thân. Đặc biệt hàng vàng chiếm đến 1/3 chợ và cũng bày trên mẹt như hàng tôm cá vậy. Người ta cứ thản nhiên mua mua bán bán vàng bạc mà chẳng lo bảo vệ như bây giờ. Không có máy ảnh nên chả lưu lại một chút h́nh ảnh nào của Phnompenh khi ấy…

Posted by: VuHungAnh Jan 4 2012, 03:09 PM


Trường trung học Tuol Sleng

Năm 2007, VHA trở lại du lịch Campuchia với tư cách khách du lịch. Sau khi dừng ở Angkor Watt (thuộc tỉnh Siêm Riệp, phía tây bắc Campuchia) hai hôm, đoàn trở về Phnompenh. Quang cảnh khác xưa nhiều lắm. Xe cộ chạy đầy đường. Có rất nhiều xe hơi mới tinh và đẹp, mơ ước của các bác tài ở VN với giá cả chỉ bằng 1/3. Địa điểm đầu tiên được thăm quan là trường Trung học Tuol Sleng nằm ngay giữa Phnompenh. Nơi đây khi xưa là trường trung học phổ thông. Ngay cả dưới chế độ Lon Non, cùng thời với chế độ Nguyễn Văn Thiệu ở miền Nam nước ta, th́ nó vẫn là một trường phổ thông có hàng trăm học sinh hàng ngày cắp sách đến trường. Cái tên nghe thật là b́nh dị nhưng đây là một trong rất nhiều chứng tích hùng hồn về tội ác ghe rợn của Pol Pot – Yeng Sary. Thực chất, nó hiện được gọi là Nhà tù diệt chủng Tuol Sleng (đọc là [tuôn s’leng]):





Một khuôn viên rộng răi thoáng mát giữa phố xá. Dây thép gai chăng dày trên tường bao. Ba dăy nhà ba tầng xếp theo h́nh chữ U, xây dựng theo lối cũ. Hoang hóa và cũ kỹ. Như một địa chỉ bị lăng quên. Lác đác vài bóng cây trên cái sân rộng . Không hề có cỏ mọc (bức ảnh trên mới chụp gần đây cho thấy ban quản lư di tích đă lát gạch khắp sân cho người thăm quan dễ đi). Thật là kỳ lạ. Bỗng thoang thoảng một mùi thum thủm từ đâu bay đến. Sao giữa Thủ đô lại có nhà nào chưng nước mắm thế nhỉ. Không phải, làm ǵ có mùi ǵ đâu nhỉ? Có, có mà, không phải mùi nước mắm, mà là một cái mùi ǵ rất lạ, vừa thum thủm, vừa nằng nặng vừa rất khó ngửi nhưng cứ thoang thoảng trong gió nhẹ. Tôi quyết định hỏi hướng dẫn viên:

- Bác hướng dẫn ơi, có cái mùi ǵ kỳ lạ lắm…

- À, đúng rồi. Tôi xin thông báo mọi người có ngửi thấy mùi ǵ không ạ?

Có người bảo có, người lại bảo làm ǵ có mùi ǵ!

- Đến đây, bước vào khuôn viên trường học này là chúng ta bước vào nghĩa địa chung của hàng ngàn người dân vô tội Campuchia. Cái mùi nằng nặng và thum thủm ấy chính là mùi máu người đấy. Có người cảm nhận được nhưng cũng có người không cảm nhận được. Cái đó c̣n tùy ở sự mẫn cảm của từng người. Máu người đă đổ thành suối ở đây. Bao nhiêu năm qua nó vẫn không hề mất đi mà cứ thoang thoảng như thế để nhắc nhở những người c̣n sống hăy nhớ măi tội ác diệt chủng này.

Thật là kỳ lạ. Có nhiều điều thuộc thế giới này ở ngay bên ta, trong ta, mà con người vẫn c̣n chưa tường tận lắm. Chúng tôi bước vào vài pḥng đầu tiên. Thật sự nhiều người đă bỏ máy ảnh ở nhà, quyết không bấm một kiểu nào khi đến đây. Cả VHA cũng vậy. V́ nghĩ rằng nh́n đă là quá đủ. Không nỡ và không có gan khi bấm những tủ và giá bày đầy sọ người. Nhưng bây giờ lại thấy tiếc đứt ruột v́ không có vật chứng để giới thiệu với cả nhà.

Một gian pḥng với chiếc giường sắt hoen gỉ và găy dát. Trên tường có treo một bức ảnh. Một phóng viên nào đó của hăng AP hoặc Reuter ǵ đó đă chụp tấm ảnh này. Trong ảnh cũng có chiếc giường sắt găy dát y hệt chiếc giường đang trong pḥng. Chỉ khác là c̣n có một bộ xương người mà da đă khô nhưng c̣n dính vào khung xương, trên song sắt cửa sổ, một con hắc điểu, loại chim chuyên ăn thịt xác chết, mỏ đang quắp một miếng thịt chưa nuốt! Hiện trường và bức ảnh thật là tiệp với nhau. Bác thuyết minh bảo khi đó người chết nhiều quá nhưng không có ai dọn, cứ để nguyên hàng tháng trời như vậy và một phóng viên nước ngoài đă chụp được cảnh này ngay tại đây!

Nhiều chị em rú lên và lao thẳng ra khỏi pḥng. Chúng tôi như tê dại bước lần lượt từng gian pḥng, mỗi pḥng một kiểu. Ai cũng lặng thinh v́ mọi thứ đă vượt ra ngoài sự suy đoán…

Cứ từ từ và b́nh tĩnh đi cho hết. Đến gian pḥng gần cuối trưng bày trang phục của Khmer Đỏ. Những bộ quần áo kaki xanh lá cây với cái mũ vải mềm có h́nh ngôi sao đỏ kèm theo những cuốn Mao tuyển, chính là những thứ … Made in China!!! Chúng ta nghĩ ǵ đây? Thế giới đă ngắm những thứ này suốt mấy chục năm qua sẽ nghĩ ǵ, nhất là khi nhớ lại họ đă từng lớn tiếng trên các diễn đàn như Singapore Straits Times, Hoa Nam Post Times, Australia Post, chương tŕnh Việt ngữ của đài phát thanh Bắc Kinh những năm đó… rằng VN "xâm lược" CPC?! Cái sự “xâm lược” mà họ đă rêu rao ấy nay đă mang lại sự ḥa b́nh và thịnh vượng cho cộng đồng ASEAN và chính Australia cũng đang ngấp nghé muốn gia nhập đấy, giờ đă tắt ngấm. Phương Tây không phải lúc nào cũng văn minh như họ tưởng đâu!

Một số h́nh ảnh về đất nước Campuchia được người viết chụp trong chuyến đi này:

Cửa khẩu Mộc Bài, chuẩn bị sang đất Campuchia, mùa hè 2007:



Cây cầu trên ngàn tuổi gần Phnompenh, một câu đố trong chương tŕnh Ai là triệu phú của anh Lại Văn Sâm:



Angkor Watt hoang tàn và đổ nát, lănh địa của bầy khỉ rất tinh ranh:



Bậc thềm đá cao ở Angkor Watt rất hẹp và trơn do mưa nắng trên ngàn năm qua bào ṃn, nhiều người lên mà không xuống được, có người ngă từ trên cao xuống. Bạn đến đây nên cẩn thận:



Nụ cười Bayon:



Một góc Hoàng cung:


Posted by: LSTM Jan 4 2012, 05:24 PM

Đọc báo thấy dân ḿnh qua CPC đá gà, đánh bạc, đĩ điếm, Tây th́ đến du lịch t́nh dục trẻ em...Nước CPC dưới thời anh hùng dân tộc Hun-sen, rút cục cũng chẳng có ǵ tươi sáng.

Posted by: Vĩ Cầm Đỏ Jan 5 2012, 10:56 AM

Toul Sleng, ngôi nhà của Quỷ.


Bài : Trần Mùi


Tôi không nói ǵ nhiều về địa ngục trần gian mà cách đây ba mươi năm đă công khai tồn tại dưới thời Pônpốt khiến cho mười bảy ngàn người dân Campuchia bị sát hại một cách tàn bạo theo kiểu trung cổ…

Tôi không muốn nhắc lại những bi thương đau ḷng ấy một lần nữa với nhân dân Campuchia và cả nhân dân Việt Nam - đất nước hào hiệp vừa mới trải qua cuộc chiến tranh chống Mỹ đă phải hy sinh những người con của ḿnh giúp nhân dân xứ Chùa Tháp thoát khỏi bàn tay diệt chủng của bè lũ Pon Pot dưới sự ủng hộ và bảo trợ của một nước lớn…

Tôi muốn quên đi tất cả sự tàn bạo, dă man ấy…

Nhưng, hôm nay lần đầu tiên đến thăm nơi này.
Tôi không thể không viết về những cảm nghĩ đang bị đè nén của ḿnh cho dù báo chí trong nước và quốc tế đă nói nhiều, viết nhiều…về bọn ác quỷ không tính người mà cho đến bây giờ chúng cũng như bè lũ ủng hộ bọn ác quỷ vẫn hiện hữu ở thế giới này…và ở ngay sát với quê hương Việt Nam ta.

Toul Sleng, nằm trong khu Toul Tompong ngay trung tâm của thủ đô Phnompenh, gần với đại lộ mang tên Monivong một trong những con đường chính đẹp và lâu đời nhất của thủ đô Phnompenh.

Nhà tù Toul Sleng trước đây là trường trung học mang tên Chao Ponha Yat bao gồm bốn dẫy nhà cao bốn tầng mái bằng, được xây dựng theo h́nh khối chữ U kiến trúc hoàn toàn giống nhau, dùng cho các lớp học, từ lớp một cho đến lớp sáu. Phía bên ngoài, với một hành lang chạy dài từ đầu nhà cho tới cuối nhà, đằng trước có một khoảng sân rộng trồng cỏ và lác đác vài ba cây dừa…
Trường được xây dựng đă lâu và là một trong những trường học danh tiếng dành cho con em các gia đ́nh trung lưu hoặc giầu có thời cựu hoàng Norodom Xihanuk c̣n chấp chính.
Trường nằm giữa đường 113 được cắt ngang bởi con đường 310…đây là một con đường nhỏ, rộng chỉ có khoảng 4 hay 5m với những biệt thự, nhà dân cao hai ba tầng cùng những cửa hàng buôn bán nhỏ - một khu phố quá yên tĩnh so với sự tấp nập huyên náo của những khu phố khác ở Phnompenh. Trước đây tôi vẫn nghĩ rằng nhà tù này ở xa, ít ra cũng phải ở vùng ngoại thành… nhưng thật không ngờ nó lại ở quá gần, từ khách sạn New York nơi tôi ở, đi xe gắn máy cũng chỉ có vài phút.
Đó là cảm giác đầu tiên tôi ghi nhận được, thoáng một chút ngạc nhiên…nếu không có tấm biển hướng dẫn được ghi ờ đầu phố ắt hẳn không ai có thể nhận ra nhà tù này…bởi những bức tường thấp cỡ hai mét bao quanh, không kiên cố không bề thế như những nhà tù thường thấy, có chăng là những hàng rào kẽm gai được giăng kín ở phía bên ngoài.
Trong sân với thảm cỏ xanh biếc với những hàng cây đại đang trổ một màu hoa trắng tinh khiết toả hương thơm ngào ngạt giống như một góc công viên nhỏ nào đó… Nhưng ba mưoi năm trước, cũng chính nơi này những cuộc tra tấn, đánh đập hành hạ dă man nhất đă từng diễn ra một cách tàn bạo. Những cây dừa đang trĩu quả là nhân chứng của lối giết người dă man : cầm hai chân của trẻ con quăng đập đầu cho đến chết vào thân cây dừa…

Đất Toul Sleng ngấm máu, là mồ chôn oan nghiệt cho biết bao mạng người dân và trẻ em vô tội Campuchia, người Việt Nam, người Lào, Ấn độ, Pakistan, Mỹ, Pháp, Anh, New Zealand và người Úc… đă vùi xác nơi đây họ nằm lại vĩnh viễn dưới những thảm cỏ xanh biếc ngày hôm nay…

Tôi bước đi chậm chạp,
ngực như có một vật ǵ vô h́nh đè nặng,
muốn ngộp thở khi bước qua từng dẫy nhà nơi tra tấn, nơi biệt giam cùng những h́nh ảnh chân dung những tù nhân được treo la liệt khắp mấy căn pḥng.
Chiếc giừong sắt,
xích sắt, gông cùm,
dao quắm, búa tạ, cán cuốc,
thuổng , xẻng, lu đựng nước, những sợi dây thừng…
dùng để tra tấn, để giết người hiện diện nơi này và…
tôi tự hỏi :

“ Tại sao lại có một chế độ như vậy mà vẫn tồn tại ?”

“Tại sao lại có những nước lớn ủng hộ cho sự giết chóc dă man và đẫm máu ấy ?”
“Tại sao một đất nước có bề dầy Đạo Phật từ bi bác ái lại có những con người khát máu với dồng loại như vậy ?”
Và…
“Tại sao cho đến bây giờ - đă ba mưoi năm trôi qua Toà án Diệt chủng mới được mở ?

“ Thần Công lư đang ở đâu ?”

Đó là những câu hỏi mà mọi người có thể hiểu nhưng không ai có thể trả lời một cách thoả đáng. Và… những linh hồn bị chết một cách oan nghiệt ấy có nhắm mắt xuôi tay thanh thản nơi “ chín suối” ?...

Tôi muốn trích một đoạn trong cuốn sách mang tựa đề : “Hành tŕnh qua cánh đồng chết” của tác giả Charrithy Him ( Campuchia ) dă được phát hành trên thế giới thời gian gần đây :

…Nhân danh những đồng bào c̣n sống của ḿnh và những người dă chết trong cuộc diệt chủng ở Campuchia…nhân dân Việt Nam là cứu tinh cho dân tộc tôi, chính Việt Nam đă nhanh chóng chấm dứt cuộc tàn sát man rợ của kỷ nguyên Khmer Đỏ trong khi phần c̣n lại của thế giới đang che mặt làm ngơ…”

Và để kết thúc bài viết này, như một lời tri ân sâu sắc nhất gửi đến những linh hồn của các chiến sĩ Quân t́nh nguyện Việt Nam : Nhân dân ta, toàn dân tộc ta măi măi sẽ nhớ đến HỌ. Những chiến sĩ đă hy sinh một cách cao cả cho nghĩa vụ Quốc tế cũng như bảo vệ lănh thổ biên cương của Tổ Quốc Việt Nam yêu dấu.

Mong những người ANH HÙNG măi măi yên nghỉ.





Phnom Pênh 4.4.2009




Posted by: Vĩ Cầm Đỏ Jan 5 2012, 10:59 AM

Xin gửi bài viết này để bổ xung thêm bài viết và h́nh ảnh trên của bạn Vũ Hùng Anh.

Posted by: VuHungAnh Jan 6 2012, 08:25 AM

QUOTE (Vĩ Cầm Đỏ @ Jan 5 2012, 10:59 AM) *
Xin gửi bài viết này để bổ xung thêm bài viết và h́nh ảnh trên của bạn Vũ Hùng Anh.

Một sự bổ sung hoàn hảo! Cảm ơn bác Vĩ Cầm Đỏ.

Những khuôn mặt cười trên bức tượng bốn mặt Bayon thực sự là một kỳ quan. Việc nghiên cứu cách chế tác tượng Bayon để t́m hiểu làm sao người xưa đă khéo léo như thế cho thấy tŕnh độ của tiền nhân đă rất cao và nay th́ thất truyền rồi. Điều đặc biệt là Bayon bốn mặt nhưng bên trong lại rỗng. Chưa t́m thấy tượng Bayon nào đặc cả. Người viết đă cất công chụp hơn trăm bức ảnh khuôn mặt tượng Bayon th́ thấy thảy đều khác nhau, không có khuôn mặt Bayon nào giống nhau. Như vậy hậu sinh chúng ta c̣n phải trầm trồ lâu về kỳ quan này.

Nếu như ở Cảm xúc trên đường Phnompenh được Vũ Thanh sáng tác năm 1980 khi cách mạng vừa thành công, giai điệu có nét nhạc từ dân ca Khmer khá rơ với âm hưởng như lặn vào bên trong tượng Bayon và tắt dần, hơi có vẻ u uẩn như báo trước một tương lai không dễ dàng cho bước đường cách mạng, th́ ở Nụ cười Bayon sau đây, Phạm Tuyên đă cho thấy một tương lai tươi sáng hơn qua nét nhạc rất đẹp và lạ tai được Huyền Hải và tốp nữ Đài TNVN thể hiện. Bài hát này do vnmaths vừa upload lên cách đây hai hôm:


Những nốt nhạc đầu tiên, người nghe mỉm cười v́ gặp lại giai điệu thân quen đă nghe từ lâu, nay mới có trong tay. Sau chợt nhận ra nước mắt đă ứa ra từ bao giờ như vừa xem một bộ phim với tất cả h́nh ảnh đau thương và tàn khốc trong lịch sử dân tộc này. Nhưng vẫn thấy sự tươi sáng và lạc quan trong đó. Chắc chắn khi viết những ḍng nhạc này, nhạc sĩ cũng có cảm xúc tương tự. Thế là ông đă chuyển được nguyên vẹn cảm giác của ḿnh tới người nghe rồi đấy.

Một bài hát rất hay phải không cả nhà... biggrin.gif

Posted by: VuHungAnh Jan 31 2012, 09:49 AM


Nhân dịp sinh nhật lần thứ 82 của Đảng (3/2/1930 – 3/2/2012):

I – Chúng ta hăy xem sự kiện Đảng ra đời đă được phản ánh trong ca khúc cách mạng Việt Nam ra sao?

Sự ra đời của Đảng ta vào ngày 3/2/1930 đă đánh dấu bước chuyển biến về chất của cách mạng Việt Nam. Kể từ đó những thắng lợi của cách mạng nước ta cho đến ngày toàn thắng 1975 và cả trong công cuộc xây dựng đất nước hiện nay đều gắn liền với sự lănh đạo của Đảng. Chính v́ thế mà Đảng ta cũng là một đề tài rất tự nhiên của ca khúc cách mạng Việt Nam. Chính trong đề tài này, rất nhiều ca khúc đă ra đời và phần lớn đều là những ca khúc hay, thậm chí có nhiều ca khúc được viết với bút pháp nghệ thuật cao và xúc cảm mănh liệt nên đă đi cùng năm tháng. Trong số những bài hát viết về Đảng đă có trên net, trước tiên phải nhắc tới một tác phẩm của nhạc sĩ Đỗ Minh được coi như “Đảng ca”:

1 – Chào mừng Đảng Cộng sản Việt Nam (sáng tác Đỗ Minh, tŕnh bày: hợp ca nam nữ Đài TNVN)


Hai ca khúc có giai điệu rất đẹp của Huy Thục viết về Đảng mà dường như bạn nghe nhạc c̣n ít chú ư:

2 – Tiếng hát dâng Đảng (sáng tác: Huy Thục, thể hiện: hợp ca nam nữ Đài TNVN)


3 – Đảng ta mặt trời cao (sáng tác: Huy Thục, thể hiện: tốp nam Đài TNVN). Bài hát này đă được Tiến Thành dạy hát trên Đài TNVN khoảng năm 1978.


Và các bài khác nữa:

4 – Dưới cờ Đảng vẻ vang (sáng tác Lưu Hữu Phước – thể hiện: Tiến Thành)

5 – Vững bước dưới cờ Đảng (sáng tác: Phạm Đ́nh Sáu, tŕnh bày: hợp xướng Đài TNVN)

6 – Tiến bước dưới cờ Đảng (sáng tác: Văn Kư – tŕnh bày: đồng ca Đài TNVN)

7 – Từ khi có Đảng (sáng tác: Nguyễn Xuân Khoát, tŕnh bày: tốp ca nam Đài TNVN)

8 – Đảng đă cho ta cả một mùa xuân (sáng tác: Phạm Tuyên, tŕnh bày: tốp nữ Đài TNVN)

9 – Như hoa hướng dương (nhạc Tô Vũ, lời thơ Hải Như – thể hiện: tốp nữ Đài TNVN)

10 – Người Mèo ơn Đảng (sáng tác: Thanh Phúc, tŕnh bày: Thu Phương & tốp nữ Đài TNVN)

11 – Niềm tin dâng Đảng (sáng tác Trọng Loan, thể hiện: Kiều Hưng)

12 – Nghe tiếng trống quê hương (sáng tác: Thái Cơ, tŕnh bày: Kiều Hưng)

13 – Đảng là cuộc sống của tôi (sáng tác: Nguyễn Đức Toàn, tŕnh bày: Quang Phác)

14 – Đường ta đi có nắng mặt trời (sáng tác: Hồng Đăng, tŕnh bày: Trung Kiên & Quư Dương)

15 – Màu cờ tôi yêu (nhạc Phạm Tuyên, lời thơ Diệp Minh Tuyền – thể hiện: Lê Dung & Thanh Hoa)

16 – Lá cờ Đảng (nhạc Văn An, lời thơ Tạ Hữu Yên – tŕnh bày: Hữu Nội & tốp nữ Đài TNVN)

17 – Kể chuyện người Cộng sản (nhạc Trần Hoàn, lời Anh Việt & Hồ An – tŕnh bày: Ngọc Tú)

18 – Nhớ ơn chị Minh Khai (sáng tác: Nguyễn Xuân Khoát, tŕnh bày: Kim Oanh)

19 – Cây đào Sơn La (sáng tác: Đặng Đ́nh Lâm, tŕnh bày: Thanh Ḥa)

20 – Người chiến sĩ ấy (sáng tác: Hoàng Vân, tŕnh bày: Trần Khánh)

21 – Đảng đă cho tôi sáng mắt sáng ḷng (nhạc Phạm Tuyên, lời thơ Louis Aragon do Tố Hữu dịch, tŕnh bày: Quư Dương)

22 – Hát về Đảng hát về núi sông (sáng tác: Trọng Loan, tŕnh bày: Kiều Hưng)

23 – Việt Nam ơi mùa xuân đến rồi (sáng tác: Huy Du, tŕnh bày: hợp ca nam nữ Đài TNVN)

24 – Ta dâng Đảng ngàn tiếng ca (nhạc Huy Du, lời phỏng thơ Xuân Miễn – tŕnh bày: Thúy Hà)

25 – Đi trên đường lớn (sáng tác: Hoàng Vân, tŕnh bày: Trung Kiên)

26 – Đảng chắp cánh ta bay (sáng tác: Nguyễn Đức Toàn, tŕnh bày: Kim Quy)

27 – Mùa trái chín (sáng tác: Lưu Cầu, tŕnh bày: Bích Liên)

28 - Kính dâng Đảng Cộng sản Việt Nam (sáng tác: La Thăng, tŕnh bày: tốp nữ Đài TNVN)

29 - Đảng là t́nh yêu là mùa xuân (sáng tác: Ca Hoàng, thể hiện: Trung Kiên & Thúy Hà)
…..

Posted by: VuHungAnh Jan 31 2012, 09:52 AM

II – Trong kho tàng các bài hát ca ngợi Đảng mà bạn nghe nhạc đă từng nghe vẫn c̣n nhiều bài chưa xuất hiện trên net. Sau đây là các bài hát chưa có trên net:

1 – Dâng Đảng quang vinh (La Thăng)

2 – Mặt trời hạnh phúc (sáng tác: Phạm Minh Tuấn, tŕnh bày: Ngọc Tân)

3 – Em là mầm non của Đảng (sáng tác: Mộng Lân, tŕnh bày: tốp ca thiến nhi Sơn Ca)

4 – Ca ngợi đảng Cộng sản Việt Nam (sáng tác: Trương Quang Lục, tŕnh bày: Ngọc Tân & tốp nam Đài TNVN)

5 – Những cánh buồm theo gió Đảng (sáng tác: Tô Vũ)

6 – Sắc nắng ngọn cờ (Hồng Đăng)

7 – Tuổi xuân Lư Tự Trọng (Nguyễn Đ́nh Tấn)

8 – Nghĩ về Đảng (sáng tác Phạm Minh, thể hiện: Hương Giang)

Và đặc biệt là hai bài hát sau đây đều là bài hát hay của VOV rất đáng để bác TLKU quăng chài lưới mang về:

9 – Ngợi ca (sáng tác Ngô Sĩ Hiển, thể hiện: NSND Trung Kiên)





10 – Tiếng hát dâng Đảng (sáng tác: Lưu Hữu Phước, thể hiện: Phan Huấn)




Posted by: nvn33 Feb 1 2012, 01:23 AM

QUOTE (VuHungAnh @ Jan 31 2012, 09:49 AM) *
Nhân dịp sinh nhật lần thứ 82 của Đảng (3/2/1930 – 3/2/2012):

I – Chúng ta hăy xem sự kiện Đảng ra đời đă được phản ánh trong ca khúc cách mạng Việt Nam ra sao?
..................
1 – Chào mừng Đảng Cộng sản Việt Nam (sáng tác Đỗ Minh, tŕnh bày: hợp ca nam nữ Đài TNVN)
2 – Tiếng hát dâng Đảng (sáng tác: Huy Thục, thể hiện: hợp ca nam nữ Đài TNVN)
3 – Đảng ta mặt trời cao (sáng tác: Huy Thục, thể hiện: tốp nam Đài TNVN). Bài hát này đă được Tiến Thành dạy hát trên Đài TNVN khoảng năm 1978.

Và các bài khác nữa:
.....................

Tôi thấy có bài này hay cực biggrin.gif , xin đề cử bổ sung vào danh mục trên:

Ngôi sao thế kỷ (Xuân Giao) - Tuyết Nhung & Tốp nữ Đài TNVN

Posted by: nvn33 Feb 1 2012, 01:33 AM

QUOTE (VuHungAnh @ Jan 31 2012, 09:52 AM) *
II – Trong kho tàng các bài hát ca ngợi Đảng mà bạn nghe nhạc đă từng nghe vẫn c̣n nhiều bài chưa xuất hiện trên net. Sau đây là các bài hát chưa có trên net:

1 – Dâng Đảng quang vinh (La Thăng)

2 – Mặt trời hạnh phúc (sáng tác: Phạm Minh Tuấn, tŕnh bày: Ngọc Tân)

3 – Em là mầm non của Đảng (sáng tác: Mộng Lân, tŕnh bày: tốp ca thiến nhi Sơn Ca)

4 – Ca ngợi đảng Cộng sản Việt Nam (sáng tác: Trương Quang Lục, tŕnh bày: Ngọc Tân & tốp nam Đài TNVN)

5 – Những cánh buồm theo gió Đảng (sáng tác: Tô Vũ)

6 – Sắc nắng ngọn cờ (Hồng Đăng)

7 – Tuổi xuân Lư Tự Trọng (Nguyễn Đ́nh Tấn)

8 – Nghĩ về Đảng (sáng tác Phạm Minh, thể hiện: Hương Giang)

Và đặc biệt là hai bài hát sau đây đều là bài hát hay của VOV rất đáng để bác TLKU quăng chài lưới mang về:

9 – Ngợi ca (sáng tác Ngô Sĩ Hiển, thể hiện: NSND Trung Kiên)
................

10 – Tiếng hát dâng Đảng (sáng tác: Lưu Hữu Phước, thể hiện: Phan Huấn)
..................

Tôi nhớ là bài số 5 và số 10 đă có trên NCM ta. Cả hai bài đều do NS Phan Huấn thể hiện. Riêng bài 10 được "lưu hành" với tên Tiếng hát theo gió Đảng, theo tôi đó là tên chưa chính xác.

Về bài số 3, trên mạng cũng đă có một số bản thu, trong đó có bản có vẻ như là của Tốp ca thiến nhi Sơn Ca biggrin.gif .

Posted by: VuHungAnh Feb 1 2012, 10:13 AM

QUOTE (nvn33 @ Feb 1 2012, 01:33 AM) *
Tôi nhớ là bài số 5 và số 10 đă có trên NCM ta. Cả hai bài đều do NS Phan Huấn thể hiện. Riêng bài 10 được "lưu hành" với tên Tiếng hát theo gió Đảng, theo tôi đó là tên chưa chính xác.

Về bài số 3, trên mạng cũng đă có một số bản thu, trong đó có bản có vẻ như là của Tốp ca thiến nhi Sơn Ca biggrin.gif .

Nhất trí với "thư viện sống" về NCM nvn33. Như vậy ba bài:

3 – Em là mầm non của Đảng (sáng tác: Mộng Lân, tŕnh bày: tốp ca thiếu nhi Sơn Ca)

5 – Những cánh buồm theo gió Đảng (sáng tác: Tô Vũ)

10 – Tiếng hát dâng Đảng (sáng tác: Lưu Hữu Phước, thể hiện: Phan Huấn). Trên net có tên Tiếng hát theo gió Đảng.

được chuyển vào danh sách các bài hát ca ngợi Đảng đă có trên net.

Riêng bài số 10 th́ được người viết chép từ một bài báo trong thư viện từ năm 1979. Như vậy có khả năng ban đầu bài này mang tên Tiếng hát dâng Đảng. Sau có lẽ thấy để tránh trùng tên với bài hát Tiếng hát dâng Đảng sáng tác của Huy Thục (do hợp ca nam nữ Đài TNVN thể hiện) mà nhạc sĩ Lưu Hữu Phước đă đổi sang Tiếng hát theo gió Đảng chăng? Có lẽ phải t́m căn cứ xác thực chứng minh cho rơ hơn...

Xin mời nghe bài hát Tiếng hát theo gió Đảng ở đây:
http://baicadicungnamthang.net/nghe-bai-hat/6216/tieng-hat-theo-gio-dang.html

VHA cũng đồng ư với bác nvn33 rằng cái tên Tiếng hát theo gió Đảng quả thật không hay bằng tên Tiếng hát dâng Đảng v́ nghe không thoát ư lắm...

Posted by: VuHungAnh Feb 17 2012, 11:27 AM

Ba mươi ba năm trước, ngày 17/2/1979, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc đă nổ ra. Nhà cầm quyền TQ khi ấy dưới sự lănh đạo của Đặng Tiểu B́nh đă xua 600.000 quân bất ngờ tấn công toàn tuyến biên giới Việt – Trung. Cuộc chiến diễn ra ác liệt và tàn khốc với thiệt hại nặng nề cho cả hai bên. Hơn một tháng sau, quân TQ rút quân nhưng chiến cuộc vẫn âm ỉ lúc chỗ này lúc chỗ kia trên toàn tuyến biên giới nước ta với TQ trong hơn mười năm sau đó. Trên biển, năm 1988, TQ cho hải quân đổ bộ và đánh chiếm một số đảo trong quần đảo Trường Sa của ta làm cho bên ta hy sinh và mất tích mấy chục chiến sĩ mà cho đến nay vẫn chưa rơ số phận ra sao. Trước đó vào năm 1974, lợi dụng t́nh h́nh lúc đó là chính quyền Sài G̣n suy yếu, TQ đă dùng hải quân đánh chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa thuộc quyền quản lư của Việt Nam Cộng Ḥa (chính quyền ngụy quyền Sài G̣n) mà nay chúng ta là người kế thừa hợp pháp…

Măi tới thập kỷ 90, hai bên mới b́nh thường hóa quan hệ. Nhưng kể từ đó, thông tin về cuộc chiến biên giới không được nhắc tới trên các phương tiện đại chúng nữa. Các ca khúc th́ bị cấm phát. Không có một bia tưởng niệm, không có cuộc mít tinh kỷ niệm nào. Cuộc chiến biên giới 1979 cứ như một vùng cấm vậy. Sự bất b́nh thường này trớ trêu thay lại được cả thế giới biết tới trước khi được chính người trong nhà hiểu cho rơ ngọn ngành.

Gần đây nhận thức đă được nâng cao hơn. Người ta đă hiểu ra rằng lịch sử là lịch sử, không thể nào thay đổi được nữa và xương máu của đồng bào đă đổ v́ những tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc cần phải được đánh giá cho đúng. Việc hướng tới tương lai th́ cứ tiếp tục nhưng lịch sử cần phải được trả về đúng vị trí của nó. Tuy nhiên không phải tất cả đă được phép. Mọi việc phải có thời gian….

Xin hồi tưởng lại không khí sục sôi ngày ấy qua ca khúc Hăy cho tôi lên đường sáng tác của Hoàng Hiệp qua giọng hát Ái Vân:


Và tiếng vó ngựa tuần tra của các chiến sĩ biên pḥng không quản ngày đêm giữ yên biên cương Tổ Quốc. Bài Hành khúc biên pḥng của tướng Trần Danh:


Năm tháng qua đi, kư ức đă lặn vào trong nhưng lời dạy của tiền nhân th́ không thể nào quên. Ta cùng ngẫm nghĩ lời dạy ấy qua sáng tác Mây biên giới của Ngô Huỳnh:



Posted by: lanha92 Feb 17 2012, 03:41 PM

Bác VuHungAnh và các member thân mến
Đọc bài của bác VHA, và nghe lại những ca khúc thủa ấy thật xúc động, em là một người trẻ và sinh ra sau cuộc chiến ấy nên có thể chưa hiểu tường tận. Em chỉ xin mấy nhời cùng bác
- Chẳng ai muốn sống trong hận thù, gươm giáo đă khép, đất đai cây cỏ đă lên xanh, tất nhiên quá khứ không thể quên nhưng liệu bác muốn Việt Nam ta măi như Triều Tiên là nuôi thù hận để rồi không ngóc đầu lên chăng. Em không tán đồng, lịch sử th́ ghi nhớ nhưng có nhiều cách, nhưng không nhất thiết là phải xách động trách chính quyền quên ngày này.....Có nhiều sự kiện đau thương hơn trong lịch sử được phép nói nhưng tự bản thân thời gian và ḷng người tha thứ nó đi, ví như Khâm Thiên - Hà nội 1972,
- Ngày 17/2/1979 đă sống trong ḷng người Việt rồi bác ạ, không ai quên đâu. Nhưng người Việt tự hào v́ làm TQ bẽ mặt, sau hơn 200 năm từ ngày Quang Trung đánh thắng, ta lại một lần nữa nhắc TQ rằng họ dánh nhau c̣n kém lắm măi chỉ là hạng tiểu nhân mà thôi. Họ muốn rêu rao ǵ th́ kệ, truyền thống của họ là thế thắng không được th́ đứng cách hàng rào mà chửi thôi
- Các bài hát cấm hay không? Sứ mệnh lịch sử đă hoàn thành và đến lúc được nghỉ ngơi. Hay bác muốn cứ réo rắt măi suốt ngày ? Bài hát nằm trong sứ mệnh của nó, không nên g̣ ép khiên cưỡng như vậy. Em nghỉ chẵng có ai cấm cả nhưng v́ cái chung, v́ ḥa b́nh và v́ sự thiện cảm của bạn bè nước ngoài cho ta th́ điều đó mạnh hơn hàng vạn tấn bom đạn đấy
- Các blog nói này nọ nhất là những ông như Tô Hải lại giở quẻ chê trách, và các bác tin là thật ư??? Đừng nghĩ oan cho những người đă v́ Tổ quốc mà ngă xuống và v́ dân tộc mà hi sinh bản thân để làm cho Việt Nam thoát ra khỏi cuộc sống khó khăn như ngày xưa ấy
Ai tráo trở lật lọng phản bạn bè th́ tự hiểu. Triều Tiên phản lại Việt Nam trong những ngày máu lửa ấy và bây giờ th́ ra sao. Không c̣n sự tôn trọng nào từ phía ta hết mà trái lại đó sự khinh thường, coi rẻ một lũ bội bạc vô lương tâm và Tô Hải học được điều đó từ phía thầy Triều.....

Posted by: VuHungAnh Feb 19 2012, 05:52 PM

Thưa các bác, thưa các bạn,

Ư kiến của bạn lanha92 rất đáng chú ư. Thông thường, khi đặt ra một vấn đề nào đó th́ cũng nên nghe cả những ư kiến phản biện. Điều này chỉ có tốt mà thôi v́ ư kiến phản biện chính là nh́n vấn đề đó theo một cái nh́n khác trên một quan điểm khác, và đây chính là điều nên đào sâu vào để hiểu sâu sắc hơn vấn đề đă đặt ra. Hơn thế, tôi cho rằng những ư kiến như của bạn lanha92 c̣n đại diện cho suy nghĩ của rất nhiều các bạn trẻ khác nữa. Bởi vậy, trước “chất vấn” này, tôi xin “giải tŕnh” cụ thể từng ư một như sau:

I – Giải tŕnh chất vấn

"Bác VuHungAnh và các member thân mến
Đọc bài của bác VHA, và nghe lại những ca khúc thủa ấy thật xúc động, em là một người trẻ và sinh ra sau cuộc chiến ấy nên có thể chưa hiểu tường tận. Em chỉ xin mấy nhời cùng bác..."

Bạn nghe những ca khúc đó và thấy xúc động là rất đáng quư. Điều đó cho thấy những ca khúc đó đích thị là những bài hát hay của VOV rồi! V́ rơ ràng rằng những bài hát ấy chắc chắn xuất phát từ topic “Những bài hát hay của VOV” của bác TLKU, chạy qua trang BCKQ của bạn vnmaths rồi lại ṿng về đây. Tuy nhiên bạn cho biết “em là một người trẻ và sinh ra sau cuộc chiến ấy nên có thể chưa hiểu tường tận. Em chỉ xin mấy nhời cùng bác” th́ có thể có cái chưa ổn lắm. Nếu chưa tường tận về bài hát th́ nghe và t́m hiểu dần sẽ biết. Nhưng nếu chưa tường tận về lịch sử mà đă cho ư kiến về cái lĩnh vực chưa tường tận đó th́… hơi vội vàng chăng? Tuy nhiên ta cứ xem tiếp nhé.

- "Chẳng ai muốn sống trong hận thù, gươm giáo đă khép, đất đai cây cỏ đă lên xanh, tất nhiên quá khứ không thể quên nhưng liệu bác muốn Việt Nam ta măi như Triều Tiên là nuôi thù hận để rồi không ngóc đầu lên chăng. Em không tán đồng, lịch sử th́ ghi nhớ nhưng có nhiều cách, nhưng không nhất thiết là phải xách động trách chính quyền quên ngày này.....Có nhiều sự kiện đau thương hơn trong lịch sử được phép nói nhưng tự bản thân thời gian và ḷng người tha thứ nó đi, ví như Khâm Thiên - Hà nội 1972,..."

Ở chỗ này có điều mâu thuẫn lớn đây. Tại sao chúng ta vẫn hát các bài hát trong cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ vào mỗi dịp 30/4, 2/9 và 22/12 (ngày thành lập QĐNDVN và ngày QPTD), thậm chí hát cả vào dịp 27/7 (ngày thương binh liệt sĩ) và những ngày truyền thống của các quân binh chủng cũng như ngày toàn quốc kháng chiến hoặc vào ngày Đế quốc Mỹ ném bom trở lại Miền Bắc 16/4/72 (mà lanha92 đă cho biết về vụ thảm sát Hạ Lư) hoặc vào dịp kỷ niệm trận Điện Biên Phủ trên không…. mà không thể hát các bài hát sáng tác trong thời gian cuộc chiến biên giới phía Bắc mỗi khi tới dịp kỷ niệm đó trong khi đó là một dịp ôn lại lịch sử và nhắc nhở nhân dân hăy cảnh giác, đồng thời tưởng nhớ những người con của bao gia đ́nh trên toàn mảnh đất chữ S này, trong đó có bạn bè của tôi, đă ngă xuống những năm tháng đó? Chúng ta chỉ muốn nghe các bài hát thôi chứ c̣n kích động (xách động? cái “termina” này nghe hơi lạ tai?) chính quyền ư? Không nên làm và cũng không bao giờ làm được. Chúng ta hăy nghĩ lại đi, cái kư ức về cuộc chiến này và cái quăng thời gian 1979 – 1991 trong quan hệ Việt Trung trên các phương tiện truyền thông của VN rơ ràng là một lỗ đen to tướng. Không hề có bất cứ một ư kiến nào, một bài báo nào đả động xa gần đến cả. Như thế không phải là tự nhiên, mà rơ ràng là có sự chỉ đạo từ trên. Sự im lặng lâu quá khiến cho bên ngoài người ta cũng lấy làm lạ. Người ta c̣n nói thẳng ra rằng chính sự e dè khi nói về cuộc chiến ấy đă chứng tỏ những người trong cuộc chưa thanh toán được kư ức cũ với nhau và điều đó có nghĩa chưa vược qua được cuộc chiến ấy.

Tất nhiên là không thể sống măi với hận thù được v́ có muốn như vậy cũng không được và không nên. Cuộc sống vẫn trôi, ḍng đời vẫn chảy. Biên giới đă thông thương, đường cao tốc Hà Nội – Lào Cai sắp khánh thành rồi. Bản thân tôi cũng đă sang TQ ba lần. Chính v́ vậy mà tôi mới viết ở bài trên là “Việc hướng tới tương lai th́ cứ tiếp tục nhưng lịch sử cần phải được trả về đúng vị trí của nó”. Trả lịch sử về đúng vị trí của nó chính là cần phải ghi chép vào sách giáo khoa phổ thông và giáo tŕnh lịch sử của các trường đại học xă hội những sự kiện đă xảy ra trên biên giới phía Bắc nước ta trong gần 15 năm kể từ 1978. Không thể nào lại cứ giả vờ như nó chưa từng xảy ra như thế. Cái ǵ là sự thật th́ cần phải tôn trọng. Chỉ có điều chúng ta sống trong chế độ của ta, chúng ta rất khó thấy điều bất b́nh thường đó. Chỉ đến khi các nhà báo nước ngoài nói rất nhiều, sau đó lẻ tẻ những tiếng nói trong nước cất lên… th́ chúng ta mới hiểu ra sự thể nó là như vậy. Để hiểu rơ hơn điểu này, tôi xin các bác và các bạn đọc một số tài liệu ở phần sau.

- "Ngày 17/2/1979 đă sống trong ḷng người Việt rồi bác ạ, không ai quên đâu. Nhưng người Việt tự hào v́ làm TQ bẽ mặt, sau hơn 200 năm từ ngày Quang Trung đánh thắng, ta lại một lần nữa nhắc TQ rằng họ dánh nhau c̣n kém lắm măi chỉ là hạng tiểu nhân mà thôi. Họ muốn rêu rao ǵ th́ kệ, truyền thống của họ là thế thắng không được th́ đứng cách hàng rào mà chửi thôi..."

Cái ư này th́ tôi không đồng ư với lanha92. Cái mà ta thường nói với nhau rằng “chúng ta luôn chiến thắng” th́ đại bộ phận người TQ lại không nghĩ vậy đâu! Họ luôn luôn cho rằng trong lịch sử, VN thường xuyên là thuộc địa của TQ, thường bị TQ đô hộ, bị TQ chiếm đóng và luôn luôn chỉ là một nhúm bé tư, muốn đánh lúc nào mà chả được, mà đă đánh là chiếm được! Như vụ 17/2/1979 đấy thôi. Họ đă tiến vào sâu trong đất ta có chỗ đến 30 – 40 km, gài ḿn khắp nơi và đập phá tan hoang mọi thứ kể cả vại dưa lẫn lọ nước mắm của các bà nội trợ trở đi…. Trong trận chiến này, chúng ta bị bất ngờ hoàn toàn và bị thiệt hại thật là thảm khốc (xin xem tài liệu tham khảo sau đây). Chả v́ thế mà họ luôn rêu rao là “dạy cho Việt Nam một bài học”!!! Cái termina “dạy cho VN một bài học” đă thành từ cửa miệng của rất nhiều người TQ, từ lănh đạo cấp cao cho tới thường dân rồi đấy. Họ không hề nghĩ đến việc thua trận. V́ dân số họ cả ngoài tỷ, hụt đi vài trăm ngàn đến một triệu th́ cũng chẳng thấm tháp ǵ, chỉ như muối bỏ biển mà thôi! Tất nhiên, sau đó tại sao họ rút về th́ nhà cầm quyền không bao giờ công bố. (Đó là v́ Quân đoàn 2, bộ đội chủ lực thiện chiến của ta đă tiến gần tới biên giới!). Trong thời gian ầm ĩ ở Biển Đông năm vừa qua, họ c̣n “lộ” ra kế hoạch “đánh chiếm VN trong 31 ngày” đấy. Thế nên ta không nên ảo tưởng một cách tự phụ khi cho rằng ta luôn luôn chiến thắng. Càng không nên nghĩ tổ tiên đă từng thắng th́ nay cứ kê gối cao mà ngủ rồi th́ lại thắng tiếp thôi nếu không chịu t́m hiểu để củng cố kinh tế, hiện đại hóa quốc pḥng và làm tốt công tác chính trị tư tưởng cho nhân dân. Tôi nghĩ, chính trang web nhaccachmang.net của chúng ta và topic “Những trang vàng” của NCM cũng sẽ hoạt động theo tiêu chí góp một phần nhỏ bé vào công tác chính trị tư tưởng ấy.

- "Các bài hát cấm hay không? Sứ mệnh lịch sử đă hoàn thành và đến lúc được nghỉ ngơi. Hay bác muốn cứ réo rắt măi suốt ngày ? Bài hát nằm trong sứ mệnh của nó, không nên g̣ ép khiên cưỡng như vậy. Em nghỉ chẵng có ai cấm cả nhưng v́ cái chung, v́ ḥa b́nh và v́ sự thiện cảm của bạn bè nước ngoài cho ta th́ điều đó mạnh hơn hàng vạn tấn bom đạn đấy..."

Bạn lanha92 nói thế này chả hóa ra tất cả các bạn nghe nhạc vào đây t́m bài hát cũ để nghe, đặc biệt là bác TLKU cứ hay “bẩu” Thanh Hương cho xin những bài như Bài ca pháo binh, T́nh trong là thiếp, Gửi anh là thư viết dở…. là lẩm cẩm hết ư? V́ những bài đó cổ xưa hơn những bài sáng tác trong giai đoạn 1979 – 1990 nhiều lắm. Mà mấy hôm nay rất nhiều bạn nghe nhạc muốn nghe lại những bài hát về cuộc chiến biên giới đấy. Nếu “sứ mệnh lịch sử đă hoàn thành” và “đă đến lúc nghỉ ngơi” (cái ǵ nghỉ ngơi thế nhỉ, bài hát nên nghỉ ngơi hay là các chiến sĩ và người nghe nhạc nên nghỉ ngơi đây?) th́ phải chăng đă đến lúc nên đóng cửa trang web này lại?

- "Các blog nói này nọ nhất là những ông như Tô Hải lại giở quẻ chê trách, và các bác tin là thật ư??? Đừng nghĩ oan cho những người đă v́ Tổ quốc mà ngă xuống và v́ dân tộc mà hi sinh bản thân để làm cho Việt Nam thoát ra khỏi cuộc sống khó khăn như ngày xưa ấy..."

Cái này tôi chưa nghe và cũng chưa có điều kiện t́m hiểu, đặc biệt là những chuyện xung quanh nhạc sĩ Tô Hải. Bởi một điều rất đơn giản là cần phải t́m hiểu rất nhiều thứ cũng như hoàn cảnh ra đời các tác phẩm của nhạc sĩ này mới phán xét được. Tôi thấy người ta cứ hay vơ đoán nhiều thứ một cách rất thiên kiến, chẳng khách quan ǵ cả về các văn nghệ sĩ như thế. Bởi vậy xin không b́nh luận ư này.

"Ai tráo trở lật lọng phản bạn bè th́ tự hiểu. Triều Tiên phản lại Việt Nam trong những ngày máu lửa ấy và bây giờ th́ ra sao. Không c̣n sự tôn trọng nào từ phía ta hết mà trái lại đó sự khinh thường, coi rẻ một lũ bội bạc vô lương tâm và Tô Hải học được điều đó từ phía thầy Triều....."

Chỉ biết lính Nam Triều Tiên, c̣n gọi là lính Park Chung Hee, nổi tiếng về sự dă man tàn bạo đă góp phần cùng đế quốc Mỹ tạo nên cuộc thảm sát Mỹ Lai (Sơn Mỹ) ở Quảng Ngăi. C̣n nói tới Triều Tiên tức là hàm ư Bắc Triều Tiên, hay chính quyền B́nh Nhưỡng đấy. Nhưng ư kiến “Triều Tiên phản lại Việt Nam” th́ chưa được nghe bao giờ nên xin không b́nh luận.

Khi điểm lại các hoạt động của TQ đối với VN ta như vụ đánh chiếm Hoàng Sa 1974, xung đột biên giới 1979, đánh chiếm băi Gạc Ma ở Trường Sa 1988 và gây hấn trong vùng biển nước ta 2011, người ta nhận thấy các vụ việc đều được tính toán kỹ càng đến mức hết sức chi tiết và cẩn thận để chúng ta có biết cũng không sao nói ra được, mà có nói ra th́ cũng chẳng làm ǵ được. Chẳng hạn năm 1974, chúng ta dồn sức để giải phóng miền Nam, hơn nữa lúc đó TQ đang là người anh lớn cùng chiến hào nên chúng ta không thể phản đối mạnh mẽ được (đồng chí Lê Duẩn đă phải cắn răng động viên các thành viên của BCT xếp lại chuyện đảo xa mà dồn ư chí cho thống nhất Tổ quốc trước). Năm 1979 th́ họ biết rơ người anh cả CCCP không động binh với họ ở biên giới Trung – Xô, c̣n Mỹ th́ sẽ không can thiệp v́ chúng ta đă thất bại trong việc nối lại quan hệ ngoại giao Việt – Mỹ khi cứ đ̣i họ bồi thường chiến tranh trước rồi mới nối lại quan hệ. Năm 1988 th́ cả khối XHCN sụp đổ, t́nh h́nh thế giới rối ren, trong nước th́ chưa vượt qua được hậu quả vụ “giá – lương – tiền”, đất nước kiệt quệ lấy đâu ra sức mà bảo vệ đảo xa. Năm 2011 cũng tương tự, kinh tế thế giới vẫn trong ṿng khủng hoảng, người ta ít để ư tới một vùng biển nhỏ như Biển Đông, hơn nữa TQ tự cho rằng họ đă mạnh, đă đến lúc “hành động” chứ không phải là “chờ thời” như trước nữa….

Như thế là, khi sống bên cạnh anh khổng lồ phương bắc, chúng ta chẳng những phải luôn luôn cảnh giác mà c̣n phải mài sắc nhận thức trên mọi phương diện, đặc biệt là lịch sử. Để sao cho không một cường quốc nào có thể lợi dụng được chúng ta, để dân tộc ta không phải lao vào ṿng chiến nữa (1). Muốn vậy, chúng ta chớ nên b́nh chân như vại. Cần phải biết nhiều thứ, thậm chí là phải biết tất cả…

(1) Trong cuộc khủng hoảng Biển Đông năm ngoái, thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng BQP (khi đó c̣n là trung tướng) có tổng kết như sau: “Trong lịch sử, đă nhiều lần các cường quốc khác nhau trên thế giới từng đàm phán trên lưng dân tộc ta. Kết quả là dân tộc ta bị xoáy vào các cuộc chiến tranh và chịu nhiều tổn thất hết sức to lớn về người và của. Kể từ nay trở đi, chúng ta sẽ không để cho điều đó xảy ra nữa”.

Posted by: VuHungAnh Feb 19 2012, 06:01 PM

II – Xung đột 1979 là trách nhiệm của ai?

(bài của Tiến sĩ Hoàng Kim Phúc, Đại học Oxford, Anh Quốc), ngày đăng 11/2/2009.

Năm tôi lên chín, Trung Quốc tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía Bắc.

Yếu tố chính trị trực tiếp nào đưa đến cuộc chiến năm 1979? Có phải là xu hướng “ly khai” của cộng đồng Hoa kiều phía Nam khi đ̣i giữ ngoại tịch và chối bỏ quốc tịch Việt Nam vào nửa cuối thập niên 70?

Hay là chính sách bài trừ tư bản mà cộng đồng Hoa kiều bị ảnh hưởng nhiều nhất? Hay đó là câu trả lời cho cuộc chiến của Việt Nam với Cambodia nhằm trừ khử Khme Đỏ, khi đó đang được Trung Quốc đỡ đầu?

Phải chăng Trung Quốc gây chiến để dằn mặt khi Việt Nam đang giao hảo chặt chẽ với Liên Xô và mở rộng ảnh hưởng tới Lào và Cambodia? Hay để Trung Quốc lấy điểm với Mỹ v́ lúc đó chiến tranh lạnh vẫn đang căng thẳng?

Hay nó đơn thuần để giải quyết những xung đột nội bộ Trung Quốc để lại từ thời ḱ Tứ Nhân Bang ? Tất cả những khả năng trên các sử gia phương Tây cho tới nay vẫn chưa ai có số liệu thật đầy đủ và thuyết phục.
Vết thương khó lành

Nhưng cho dù với bất cứ lí do ǵ th́ đây cũng là một cuộc chiến hết sức man rợ và vô nhân đạo, v́ chưa đầy 30 ngày mà gần một trăm ngàn người (60-100 ngàn theo các số liệu khác nhau) của cả hai phía đă thương vong.
Chừng nào những ẩn số lịch sử về nguyên nhân cuộc chiến chưa được sáng tỏ trước công luận và lịch sử thế giới th́ chừng đó nguy cơ để xảy ra những tranh chấp tương tự giữa Trung Quốc và các nước láng giềng c̣n có cơ hội tái diễn, đặc biệt khi nền chính trị tại quốc gia khổng lồ này c̣n dựa trên nền tảng độc tài toàn trị.

Mặc dù cuộc chiến đẫm máu chính thức diễn ra khá ngắn ngủi nhưng những đợt pháo kích dai dẳng dọc tuyến biên giới, kéo dài nhiều năm sau đó mới để lại những “vết thương” khó lành trong kí ức đương đại của dân chúng Việt Nam, đặc biệt là dân miền Bắc.

Làng tôi sống khi ấy gồm ba xóm, nay thuộc quận Ba Đ́nh, vậy mà cũng có tới hai anh đi bộ đội bị pháo chết trên “chốt”.

Từ “lên chốt” đă có lúc được nhiều thanh niên nhắc tới như “ác mộng”. Dù mục tiêu chiến lược của việc tấn công Việt Nam vẫn c̣n nhiều uẩn khúc lịch sử nhưng về mặt nào đó Trung Quốc đă thành công trong việc gây nên một tâm lư lo lắng bất ổn, pha sự sợ hăi trong các thành phần dân chúng Việt Nam.

Tuy nhiên điều Trung Quốc không lường hết là cuộc chiến 79 giống như một nhát cuốc tàn bạo, lật thẳng “tấm ván thiên” chôn nỗi căm thù sâu thẳm và âm ỷ của các dân tộc Việt với kẻ xâm lược ngàn năm từ phương Bắc.
Sự căm thù tưởng đă có lúc bị vùi lấp đi bởi “tấm t́nh đồng chí” môi hở răng lạnh, hay bởi những luận điệu tuyên truyền “Núi liền núi, sông liền sông” hữu hảo.

Xâm lăng 1979 đă đánh mạnh vào ḷng tự hào của các dân tộc Việt, cái mà ở chừng mực nào đó đă giúp họ tồn tại anh dũng bên cạnh “đế quốc” Trung Hoa trong ngàn năm không bị đồng hóa, kể từ chiến thắng Bạch Đằng.

Mục đích Trung Quốc dạy cho Việt Nam một bài học bằng cuộc chiến 1979 có lẽ cũng man dại và phản tác dụng không khác ǵ việc trước đó quân đội Mỹ ném bom rải thảm nhằm đưa Hà Nội quay lại “thời ḱ đồ đá”.

Về mặt lịch sử, chiến tranh 79 là một mũi tiêm chủng tái khởi động ư thức đề kháng mănh liệt chống lại dă tâm tạo ảnh hưởng và “kiểm soát” của Trung Quốc với Việt Nam ở hiện tại và tương lai.

Với những kí ức và thông tin của riêng ḿnh có được, tôi không hề nghĩ rằng cuộc chiến tranh 1979 chỉ dừng lại ở khẩu hiệu của Đặng là “dạy cho Việt Nam một bài học”.

Cuộc chiến kéo dài

Cuộc chiến đă không thực sự kết thúc sau năm 1979. Hơn thế, nó là một tính toán lâu dài, thậm chí nó là một phần trong cả một chính sách lớn của Trung Quốc với Việt Nam mà hành động phát lộ đầu tiên là đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Mặc dù trước đó lính Trung Quốc đă lấn chiếm bằng cách di dời cột mốc biên giới khi giúp chính quyền Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà làm đường.

Sự ngẫu nhiên của số phận và nghề nghiệp đă cho tôi thêm tư liệu và thông tin để nh́n nhận chi tiết mối quan hệ “vừa là đồng chí vừa là anh em” rất mai mỉa này.

Với quyết tâm t́m cho ra mối quan hệ của một số loài muỗi sốt rét chính ở Việt Nam và mối tương quan dẫn truyền của nó qua biên giới Việt-Trung, tôi đă đi hàng chục chuyến công tác tại dọc tuyến biên giới Việt Trung.
Ở nhiều nơi khi tôi đến, danh nghĩa là cuộc chiến đă qua 20 năm, kư ức về sự man rợ của cuộc chiến như vừa mới hôm qua. Lần đầu đến Hà Giang, ngồi cạnh bác lái già chạy xe Hà Giang-Vị Xuyên, ông kể. “Năm 79 nó sang, dân bên ḿnh hoàn toàn bị bất ngờ, v́ thế thiệt hại là vô kể.

''Nó rút đi đặt ḿn giật sập bất cứ cái ǵ gọi là do tay con người tạo nên. Ḿn nó c̣n gài lại vô số trong các khu dân cư, tỉnh lộ. Mà nào có yên, pháo nó c̣n “củng” sang đây liên tục tới năm 88-89.

''Thằng con tôi đi củi với hai thằng bé cùng lớp bị trúng ḿn. Hai đứa chết, một đứa cụt hai chân, mù mắt”. Phía Việt Nam đă hoàn toàn bị bất ngờ trong cuộc chiến 79.

''Khu vực “Hữu nghị Quan”, dân các xă xung quanh kể lại là chiều hôm trước lính Tàu c̣n sang đá bóng với thanh niên địa phương và lính biên pḥng Việt Nam. Tối hôm đó có chiếu bóng ngoài băi, bọn lính Tàu c̣n sang chơi đầy, thế mà sáng hôm sau nó tấn công.''

Nhóm nghiên cứu của tôi đă “nằm” ở Cà Liểng, nơi có hẻm núi hẹp, độc đạo, mà xe tăng Trung Quốc đă vào Việt Nam ở ngả Cao Bằng. Một cô giáo bản, dân tộc Mèo “đen” sáng hôm đó chở ông bố xuống huyện khám bệnh. Tự dưng thấy rất nhiều xe tăng với “bộ đội” ngồi trên ở phía sau tiến tới. Ông cụ giơ tay chào nhưng sau thấy xe tăng cứ tiến sát như muốn nghiến lên chiếc xe đạp, ông kêu ầm lên để các chú “bộ đội” nghe thấy.

Đột nhiên thằng ôn vật ngồi trên tháp pháo rút súng làm đánh đùng một cái vào đầu ông cụ.

Ông cụ lăn xuống chết tức khắc, cô con gái sợ quá quăng xe đạp lao vào rừng, chạy tắt xuống huyện đội. Lúc đó người ta mới ngă ngửa ra là Tàu đánh”. Dân Thạch An, Cao Bằng mạnh ai nấy chạy, giạt hết lên núi.

Vào sâu trong rừng, người đồng bào sau đó t́m thấy những vạt rừng phủ kín quần áo, vơng, bạt, vỏ đồ hộp và phân…của bọn lính sơn cước Tàu. Chúng đă ém quân từ khá lâu trước đó. Từ đỉnh núi đồng bào địa phương nh́n ngay xuống bản, thậm chí sân nhà ḿnh. Nhiều người phải liều mạng lẻn về để lấy muối, lấy dao, quần áo…

Chiều đến họ thấy hàng chục thằng lính Tàu “vật nhau” với những chiếc xe đạp của dân bỏ lại.

Bọn lính này được tuyển mộ từ những vùng cực ḱ nghèo đói và lạc hậu của Hoa lục nên không biết ngay cả đi xe đạp.

Không ngạc nhiên rằng chúng hết sức tàn bạo và hung hăn. Đối với người dân tộc sống dọc các tỉnh biên giới phía Bắc, căn nhà và các vật dụng thiết thân như con dao, cái cối đá, ngọn đèn dầu là những vật vô cùng quí giá.

Nắm được tâm lí này, bọn lính Tàu được lệnh tàn phá mọi thứ dù là nhỏ nhất, trước khi rút đi.

Người dân các vùng từ Cao Bằng, Hà Giang, Lao Cai… đều kể cho tôi nghe những chi tiết khá tương tự rằng khi về lại nhà cũ, tất cả bị thiêu trụi. Những chiếc đèn dầu hỏa, vại dưa, chum nước, cối đá… đều bị đập vỡ, ngay cả những con dao bài giắt ở vách bếp cũng bị chặt vào nhau cho nát lưỡi dao, giếng nước bị sâp v́ lựu đạn tống xuống.

Năm 1986, trong một chuyến thực tập hè ở Lương Sơn, Ḥa B́nh, tôi ở cùng những trung đoàn lính Việt Nam đang tập đạn thật v́ địa h́nh Lương Sơn tương tự Vị Xuyên, Hà Giang.

Sau một tháng họ sẽ đi Vị Xuyên. Những người lính trẻ âu lo v́ những tin tức ác liệt từ Vị Xuyên và các điểm nóng khác vẫn truyền về trong suốt nhiều năm sau 1979.

Đầu năm 1988, Trung Quốc tấn công Trường Sa, 74 bộ đội Việt Nam đă bị thiệt mạng.

Năm 1995, theo anh bạn học làm kiểm dịch sinh vật, tôi lên cửa khẩu Chi Ma. Mặc dù hai nước lúc đó đă “b́nh thường hóa” và thông thương buôn bán nhưng những dăy đồi trùng điệp liền kề với cửa ải này vẫn dày đặc các trận địa ḿn.

Xung đột lẻ tẻ trên đường biên vẫn liên tiếp xảy ra. Ban đêm, các cột mốc bị di dời vào đất Việt Nam như cơm bữa. Nhiều năm trở lại đây, trên biên giới bộ cột mốc vẫn bị di chuyển.

Trên biển, Trung Quốc nhiều lần dùng tàu chiến tấn công thuyền đánh cá và giết hại ngư dân Việt Nam. Sự leo thang đă trắng trợn tới mức báo động khi Trung Quốc tuyên bố Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc huyện Tam Sa của Hải Nam cuối năm 2007, xua đuổi các công ty liên doanh thăm ḍ dầu khí ở vùng Nam Côn Sơn của Việt Nam và vừa rồi quyết định đầu tư 29 tỷ đôla để khai thác dầu trong hải phận Việt Nam.

Tiền Việt Nam giả được in bằng những kỹ thuật tinh vi từ Trung Quốc, tràn ngập qua các ngả biên giới vào Việt Nam. In bạc giả là một loại tội phạm nghiêm trọng ở mọi quốc gia. Sản xuất tiền giả để tung vào quốc gia khác là vi phạm luật pháp và công ước quốc tế.

Chính quyền Trung Quốc hoàn toàn im lặng trước những hoạt động tội phạm quy mô lớn này. Rơ ràng sự tấn công Việt Nam bằng quân sự trên biển và đất liền, tấn công chính trị và ngoại giao, tấn công phá hoại kinh tế… kéo dài hàng chục năm sau cuộc chiến, qua nhiều đời Tổng bí thư của Trung Quốc ắt phải là mưu đồ làm cho nước láng giềng nhỏ bé phải “chảy máu” tới chết.

Người Mỹ từ lâu đă có trách nhiệm hỗ trợ rà gỡ bom ḿn trong chiến tranh, sao tới nay người Trung Quốc vẫn tảng lờ những trận địa ḿn nằm trên đất Việt?

Theo tính toán của Bộ Quốc Pḥng Việt Nam, sẽ c̣n mất hàng chục năm nữa để giải phóng các trận địa ḿn nằm trên đất Việt, dọc biên giới phía Bắc.

Những trái ḿn Made in China đang nằm trên đất Việt chính là những bằng chứng hiển nhiên để mỗi người dân Việt nam có cơ hội để đánh giá sự thành thật, thiện chí theo phương châm “16 chữ vàng” từ phía nước láng giềng khổng lồ phía Bắc này.

(nguồn: www.bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2009/02/090211_sino_viet_reflection.shtml)

Posted by: VuHungAnh Feb 19 2012, 06:04 PM

III – 30 năm cuộc chiến Việt - Trung

(tác giả: Tiến sĩ Ang Cheng Guan, Singapore. Bài đăng ngày 12/2/2009)

Cuộc chiến Việt – Trung (tháng 2 – 3/1979) đánh dấu điểm tệ hại nhất trong lịch sử quan hệ hiện đại hai nước.
Cuộc chiến bắt đầu ngày 17.02.1979 khi chừng 100.000 quân Giải phóng Nhân dân, có xe tăng và pháo binh hỗ trợ, vượt qua đường biên giới 1300 cây số.

'Dạy bài học'

Giao tranh ngắn ngủi nhưng đẫm máu kéo tới ngày 5.3.1979 khi Bắc Kinh loan báo rút quân. Phải tới ngày 16.3 th́ việc triệt thoái mới hoàn tất. Nhưng cho tới măi cuối thập niên 1980, Trung Quốc tiếp tục gây áp lực lên Việt Nam tại biên giới, và dọa dạy chọ người Việt bài học thứ hai.

Tháng Bảy 1978, khi Trung Quốc lần đầu nói rơ ư định dạy “Việt Nam một bài học”, đó là để phản ứng lại sự đối xử của chính phủ Việt Nam với người Hoa.

Bắc Kinh cáo buộc Hà Nội ngược đăi Hoa kiều, xóa bỏ thỏa thuận năm 1955 theo đó không bắt Hoa kiều phải trở thành công dân Việt Nam. Đến ngày 11.7.1978, Trung Quốc đóng cửa biên giới Việt – Trung để kiểm soát ḍng tị nạn vào Trung Quốc.

Nhưng lư do thực sự của chiến tranh lại liên quan mối quan hệ tay ba thay đổi giữa Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, và sự xâm lấn Campuchia là điểm sôi chót.

Ngày 5.7.1979, trong ṿng đàm phán giữa Bắc Kinh và Hà Nội, Trung Quốc bỏ qua vấn đề Hoa kiều và biên giới, mà đ̣i cuộc thương lượng “tiếp tục từ vấn đề then chốt – chống lại bá quyền”.

Trung Quốc nói việc Việt Nam xâm lấn Campuchia là một phần kế hoạch thành lập Liên bang Đông Dương, đi theo “mưu đồ bá chủ thế giới” của Liên Xô. Ngay từ tháng Chín 1975, Trung Quốc đă ép Lê Duẩn từ bỏ quan hệ gần gũi với Liên Xô bằng việc kư tuyên bố chung chống bá quyền – nhưng Lê Duẩn từ chối. Mỹ xa, đành chọn Liên Xô

Chúng ta biết Bắc Kinh bắt đầu chuẩn bị cho một cuộc chiến Việt – Trung ngay từ tháng Tám 1978.

Ngày 3.11.1978, Hà Nội và Moscow kư hiệp ước hữu nghị Việt – Xô. Câu hỏi lớn cần đặt là v́ sao Việt Nam chỉ kư nó vào lúc này cho dù đă có quan hệ gần với Moscow từ giữa thập niên 1960?

Câu trả lời đầy đủ đ̣i hỏi ta phải dựng lại những cố gắng b́nh thường hóa quan hệ với Mỹ của Việt Nam sau tháng Tư 1975, và đặt nó trong quan hệ Việt – Trung trong giai đoạn này.

C̣n câu trả lời ngắn gọn th́ là đến tháng Mười 1978, rơ ràng sẽ không sớm có sự b́nh thường hóa quan hệ Mỹ - Việt. Washington đă chọn Trung Quốc thay v́ Việt Nam. Việt Nam chỉ c̣n lá bài Liên Xô để chống lại cái mà họ xem là mối đe dọa phương Bắc.

Ngay cả ASEAN, tổ chức hợp tác chặt với Bắc Kinh trong suốt thập niên 1980 để buộc Việt Nam rút khỏi Campuchia, cũng thường xuyên thừa nhận rằng phải xem xét quan ngại an ninh của Việt Nam, và rằng tổ chức này không muốn đưa Việt Nam từ tay Liên Xô ngả sang làm vệ tinh Trung Quốc. Đây là quan điểm được cả năm, và sau đó là sáu, nước ASEAN chia sẻ. Không nước nào vui vẻ với sự trừng phạt Việt Nam của Trung Quốc. Như đại diện của Singapore tại Liên Hiệp Quốc, Tommy Koh nói tại Liên Hiệp Quốc: “Lẽ ra Trung Quốc không nên tự ḿnh quyết định luật lệ…”

Tiến tŕnh b́nh thường hóa

Sự sup sụp của Liên Xô và Chiến tranh Lạnh chấm dứt năm 1989-90 thúc đẩy Việt Nam và Trung Quốc xét lại quan hệ. Campuchia là trở ngại chính.

Ngay từ tháng Hai 1985, Lê Duẩn đă bày tỏ niềm tin rằng t́nh hữu nghị Việt – Trung sẽ phải được phục hồi. Sau đó, có tin nói Lê Đức Thọ thăm Paris, ngoài là để dự hội nghị đảng Cộng sản Pháp, nhưng cũng để bí mật gặp phía Trung Quốc.

Cuộc họp Việt – Trung lần đầu sau chín năm, ở cấp thứ trưởng, diễn ra tháng Giêng 1989. Ṿng hai được tổ chức từ 8-10 tháng Năm 1989.

Nhưng sự khôi phục quan hệ c̣n phải chờ việc giải quyết mâu thuẫn Xô – Trung. Và điều này diễn ra trong tháng Năm 1989, khi Gorbachev lần đầu thăm Trung Quốc, gần ba năm sau diễn văn cột mốc của ông tại Vladivostok, trong đó ông bày tỏ ư định cải thiện quan hệ với Trung Quốc, niềm tin rằng tương lai Campuchia phải do người Campuchia định đoạt và cũng kêu gọi Việt – Trung b́nh thường hóa.

Không lâu sau hội nghị Xô – Trung, một cuộc họp bí mật diễn ra tại Thành Đô tháng Chín 1990.

Tháng Tám 1991, Lê Đức Anh, khi đó là Bộ trưởng Quốc pḥng, có chuyến thăm không loan báo tới Trung Quốc. Lúc này, thế hệ lănh đạo Việt Nam giữ vai tṛ chủ chốt thời Chiến tranh Lạnh, như Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ, đă qua đời.

Chúng ta vẫn không biết những ǵ diễn ra trong các cuộc họp bí mật và không quá bí mật đó, nhưng rơ ràng trong giai đoạn này, đặc biệt là nửa cuối thập niên 1980, Việt Nam không đủ mạnh để dằng co với Trung Quốc, v́ bị cô lập, kinh tế suy sụp và dần mất sự bảo trợ của Liên Xô, nước tan ră vào tháng 12.1991.

Tin Trung Quốc và Việt Nam sẽ b́nh thường quan hệ được chính thức loan báo tháng Chín 1991, khi Ngoại trưởng Nguyễn Mạnh Cầm thăm Bắc Kinh.

Gần mà xa

Kể từ 1991, quan hệ Việt – Trung rơ ràng đă tăng tiến rất nhiều. Nhưng không có nghĩa là chỉ có màu hồng. Vấn đề tranh căi nhất, chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa, sẽ không thể giải quyết trong thời gian dài, nhưng tới nay, lănh đạo hai nước đă bày tỏ ư chí chính trị không để vấn đề vượt quá kiểm soát.

Có hai quan điểm về quan hệ Việt – Trung. Một trường phái nói rằng quan hệ này chủ yếu được định h́nh bằng những kư ức lịch sử. Theo đó, cuộc chiến năm 1979 có thể xem là tất yếu và câu hỏi không phải là liệu nó có xảy ra lần nữa hay không, mà là khi nào?

Trường phái khác cho rằng mối quan hệ được định h́nh bởi những thế lực bên ngoài hoặc những tính toán địa chính trị. Theo quan điểm của tôi, cuộc chiến 1979 là đỉnh điểm của những căng thẳng và khác biệt đă bị tạm đè nén v́ cuộc chiến Việt Nam, khi thế giới vẫn c̣n được h́nh dung như hai khối ư thức hệ.

“Cuộc chiến 1979 là đỉnh điểm của những căng thẳng và khác biệt đă bị tạm đè nén v́ cuộc chiến Việt Nam”
Khi chiến tranh Việt Nam chấm dứt và xuất hiện mẫu h́nh mới trong quan hệ Trung Quốc, Liên Xô và Mỹ, những khác biệt tạm gác trước đây giờ lại xuất hiện.

H́nh thù địa chính trị mới, cộng thêm thành kiến ngàn đời, đă làm bùng phát những nghi kỵ giữa Việt Nam và Trung Quốc. Cuộc chiến 1979 là ví dụ kinh điển khi những cái nh́n, h́nh thành từ kinh nghiệm quá khứ, có thể tạo ra hiểu nhầm và rồi làm những dự báo tự biến thành sự thật.

Ngay cả khi một số điều vẫn giữ nguyên, th́ hệ thống quốc tế đă thay đổi đáng kể từ năm 1979 và c̣n tiếp tục chuyển động. Quan hệ Việt – Trung, giống như mọi mối quan hệ, vẫn c̣n là “công tŕnh dang dở”.

(Nguồn: ww.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2009/02/090223_angcheng_war1979.shtml)

Posted by: VuHungAnh Feb 19 2012, 06:06 PM

IV – Có nên né tránh cuộc chiến 1979?

(tác giả: Thạch Chi Du và Nguyễn Hoài Thu, bài viết riêng cho BBC, đăng ngày 31/1/2009)

Trong quá tŕnh cải cách mở cửa dựng xây đất nước, dường như vấn đề chiến tranh biên giới Việt Trung là đề tài không nên nhắc tới.

Ngược lại, quan hệ hữu nghị do chủ tịch Hồ Chí Minh và chủ tịch Mao Trạch Đông gây dựng vào những năm 50 của thế kỉ trước thường xuyên được nhắc tới và được coi như cơ sở vững chắc trong quan hệ Việt Trung. Từ khi Trung Quốc và Mỹ thiết lập quan hệ ngoại giao vào những năm 70 có ảnh hưởng đến quan hệ hai nước, tiếp sau đó hơn 20 năm quan hệ không được yên b́nh dường như là khoảng thời gian đang bị quên lăng.

Thế nhưng, cải cách mở cửa và quan hệ ngoại giao phải chăng là động lực tiếp tục hướng tới tương lai trong quan hệ 2 nước? Quá khứ đă ra đi và không trở lại, nói đúng hơn chỉ là 1 đoạn trong ṿng tuần hoàn của lịch sử, những năm tháng cố t́nh lăng quên lại xuất hiện. Kỷ niệm 30 năm chiến tranh biên giới Việt Trung, vấn đề này đáng để cho chúng ta cùng suy ngẫm.

Nghiên cứu Trung Quốc ở Việt Nam

Trong 10 năm trở lại đây, khi các học giả phương Tây bắt đầu thảo luận về “Trung quốc là mối đe dọa” hay “Trung Quốc nổi lên như 1 cường quốc” th́ các học giả nghiên cứu Trung Quốc ở Việt Nam dường như không đề cập tới vấn đề đó.

Nghiên cứu về Trung Quốc có ảnh hưởng thách thức ǵ đến bá quyền quốc tế hay trật tự quốc tế không phải là vấn đề mà chính phủ Việt Nam yêu cầu các chuyên gia lưu tâm đến, bởi v́ đó là vấn đề của các nước lớn. Chính phủ Việt Nam cho rằng chính sách đối ngoại, ngoại thương của Trung Quốc mới là vấn đề cần quan tâm.
Việt Nam cùng Trung Quốc đang cố gắng phát triển kinh tế, thực hiện chính sách cải cách mở cửa, v́ vậy cái mà Việt Nam cần là kinh nghiệm và bài học của Trung Quốc trong quá tŕnh cải cách mở cửa chứ không coi Trung Quốc là mối đe dọa bên cạnh ḿnh.

Quả thật Trung Quốc lớn mạnh là mối đe dọa lớn của các nước phương Tây.

Nhưng khi bản thân quốc lực Việt Nam chưa mạnh, th́ vấn đề Trung Quốc có vai tṛ ǵ với trật tự quốc tế và có đe dọa ǵ với quốc tế dường như quá tầm tay của Việt Nam. Từ xưa đến nay, vương triều Trung Quốc vốn đă to lớn và có ảnh hưởng đến Việt Nam, v́ vậy Trung Quốc có lớn đến đâu đi chăng nữa dường như là vấn đề mà các nước lớn khác quan tâm, chứ không nằm trong mối quan tâm của ḿnh.

Việt Nam cũng có khát vọng trở thành con rồng nhỏ châu Á, v́ vậy, Việt Nam cùng chia sẻ một ư nghĩ chung với Trung Quốc: nếu Trung Quốc có ư định biến thành cường quốc cũng có nghĩa hai nước Việt Trung đang ở cùng một giai đoạn lịch sử.

Như vậy cảm giác tương trợ giữa hai nước mạnh hơn cảm giác uy hiếp. Việt Nam bắt đầu cải cách muộn hơn Trung Quốc, v́ vậy càng có ư nguyện quan sát học hỏi kinh nghiệm của Trung Quốc. Trung Quốc có thành công hay không sẽ là điều mà Việt Nam cần quan tâm chứ không phải đề pḥng.

Xuất phát điểm của học giả Việt Nam khi nghiên cứu về Trung Quốc hoàn toàn không giống các học giả phương Tây, bởi lẽ học giả phương Tây lo lắng Trung Quốc có âm mưu tranh bá xưng vương nên nghiên cứu phán đoán từ những biến đổi về tiềm lực kinh tế quốc pḥng của Trung Quốc.

Học giả phương Tây quan tâm nhiều tới tư duy chiến lược ngoại giao lớn của Trung Quốc, trong khi học giả Việt Nam chỉ quan tâm và nắm vững những sự việc cụ thể xảy ra với Trung Quốc. Họ cũng không xuất phát từ lư luận hoặc những nguyên tắc trong quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, càng không có đủ nguồn lực nghiên cứu toàn diện mọi mặt về quan hệ ngoại giao của Trung Quốc.

Trọng tâm nghiên cứu chủ yếu là Trung Quốc và các nước trong khu vực châu Á, Thái B́nh Dương. Có thể từ những nghiên cứu đó có thể giúp Việt Nam t́m ra con đường ngoại giao nhịp nhàng hơn trong khu vực cũng như với người láng giềng khổng lồ Trung Quốc.

Chưa thỏa đáng

Thế nhưng né tránh nhắc tới vấn đề chiến tranh biên giới Trung Việt dường như hiển hiện rơ là học giả Việt Nam vẫn chưa t́m được con đường thỏa đáng để giải quyết cách nh́n về chiến tranh biên giới Việt Trung.

Nếu như chiến tranh biên giới 30 năm trước cần phải né tránh không nhắc tới mới có thể tiến bước về tương lai, th́ có nghĩa là vẫn chưa thể thực sự vượt qua khoảng thời gian đó.

“Học giả Việt Nam vẫn chưa t́m được con đường thỏa đáng để giải quyết cách nh́n về chiến tranh biên giới Việt Trung”

Nh́n về lịch sử, quan hệ chính trị giữa hai nước như thế nào vẫn chưa có được cách nh́n chung. Cũng v́ vậy trong quá tŕnh xung đột biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc, người Việt chưa bao giờ đứng cùng chiến tuyến với Trung Quốc. Chiến tranh Trung Pháp vào cuối thế kỉ 19 là ví dụ điển h́nh cho điều này.

Nếu như việc tích cực phân tích nghiên cứu chiến tranh biên giới Việt Trung có khả năng gợi lại kư ức không tốt đẹp cho hai bên, th́ cũng có nghĩa rằng hữu nghị trước mắt của hai bên chỉ là hiện tượng tuần hoàn mang tính tạm thời, trong khi đó sự xung đột trong suốt quá tŕnh lịch sử giữa hai nước trong tương lai có khả năng sẽ lại chi phối quan hệ song phương.

Trong suốt khoảng thời gian dài, mặc dù đă trải qua nhiều thăng trầm lịch sử nhưng cũng có thể dùng câu nói sông liền sông núi liền núi để miêu tả quan hệ láng giềng hữu nghị Việt Trung.

Hồ chủ tịch đă từng viết trong bài thơ năm 1963 miêu tả quan hệ hai nước như sau: “Việt Trung hai nước thắm t́nh hữu nghị, vừa là bạn bè, vừa là đồng chí”.

Việt Nam luôn coi Trung Quốc là nước lớn. Để duy tŕ độc lập tự chủ và phát triển đất nước của ḿnh, Việt Nam luôn nhắc nhở Trung Quốc nên xử lí các mối quan hệ theo phong thái của nước lớn và những đoạn trường lịch sử Việt Trung cùng trải qua trong lịch sử.

V́ vậy, làm sao đối mặt quá khứ, lư giải chiến tranh biên giới Trung Việt, để tương lai có thể xử lư ḥa thuận mối quan hệ hai nước, là nhiệm vụ tư tưởng không thể thiếu được.

Ông Thạch Chi Du là Giáo sư tại Đại học Quốc gia Đài Loan. Tác phẩm gần đây của ông là Democracy (Made in Taiwan) ('Dân chủ làm tại Đài Loan', Lexington Books, 2008). Nguyễn Hoài Thu đang là Nghiên cứu sinh tiến sỹ, Đại học Trung Sơn, Cao Hùng, Đài Loan.

(nguồn: bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2009/01/090131_border_war_opinion.shtml)

Posted by: VuHungAnh Feb 19 2012, 06:11 PM

V – Từ đồng chí thành kẻ thù

(tác giả: tiến sĩ Nicholas Khoo, Đại học Liverpool, đăng ngày 06/2/2009)

V́ sao cuộc chiến biên giới Việt – Trung 1979 xảy ra? Một số nhà phân tích nhấn mạnh vai tṛ của những tranh chấp trên bộ và trên biển giữa hai nước; xung đột Việt – Trung tại Campuchia; và vai tṛ của người Hoa trong quan hệ Việt – Trung.

Những người khác thừa nhận tầm quan trọng của những yếu tố này, nhưng đặt chúng trong bối cảnh xung đột lớn hơn giữa Liên Xô và Trung Quốc (TQ). Phân tích của tôi dựa trên cái nh́n sau để xem lại những sự kiện lớn xảy ra trước cuộc chiến 1979.

Quan hệ Việt – Trung sau 1975

Những người cộng sản TQ xem quan hệ với cộng sản Việt Nam (VN) chủ yếu qua lăng kính của mâu thuẫn Xô – Trung gia tăng sau khi quan hệ đồng minh Xô – Trung sụp đổ đầu thập niên 1960.

Từ cái nh́n này, những diễn biến trong 10 năm trước 1975 thật làm họ lo ngại. Trong cuộc chiến Đông Dương lần Hai (1965-75), Liên Xô thay thế TQ, trở thành nhà cung cấp chính về quân sự và kinh tế.

Sau 1975, TQ không rơ về ư định chiến lược của Hà Nội đối với Moscow. Sự triệt thoái của Mỹ khỏi Đông Nam Á sau Hiệp định Paris 1973 giúp gỡ bỏ một đối trọng của Liên Xô trong vùng, và làm phức tạp cố gắng phản kích Liên Xô của Trung Quốc.

Tháng Tám 1975, trong chuyến đi quan trọng nhờ giúp đỡ kinh tế, Phó Thủ tướng và Chủ tịch Ủy ban Kế hoạch Nhà nước Lê Thanh Nghị đă thăm Bắc Kinh trước khi sang Moscow. Họ không thể đạt thỏa thuận về gói viện trợ của TQ cho VN.

Sang tháng Chín, VN lại thử t́m viện trợ. Mặc dù lần này có thỏa thuận về gói kinh tế, nhưng TQ không giúp về quân sự. Trong dấu hiệu chứng tỏ họ lo ngại về quan hệ Việt – Xô, một chủ đề quan trọng được thảo luận trong chuyến thăm là về mục tiêu của LX ở Biển Đông. Đáng chú ư, vào cuối chuyến thăm, hai bên không ra tuyên bố chung.

Có vị thế kinh tế tương đối mạnh hơn TQ, Liên Xô hào phóng hơn với VN. Trong chuyến thăm Moscow tháng Mười của Tổng Bí thư Lê Duẩn, Liên Xô đồng ư viện trợ 3 tỉ đôla từ 1976 đến 80.

TQ hẳn cũng để ư lời ngợi ca dạt dào dành cho Liên Xô trong tuyên bố chung cuối chuyến thăm của lănh đạo VN. Đáng nói, tuyên bố chung ủng hộ chính sách ḥa hoăn (detente) của Liên Xô, vốn bị TQ chống đối.

Một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ Việt – Xô là Đại hội Đảng Lao động Việt Nam lần Bốn tháng 12.1976. Những nhân vật gắn bó với TQ bị cô lập. Hoàng Văn Hoan, Ủy viên Bộ Chính trị từ 1956 và Đại sứ ở TQ từ 1950-57, mất hết chức vụ trong đảng. Ba cựu đại sứ tại TQ cũng mất chức Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng.

Ngày 7.6.1977, Thủ tướng Phạm Văn Đồng ghé Bắc Kinh trước lúc sang Moscow. Khi gặp Phó Thủ tướng Lư Tiên Niệm hôm 10.6, hai bên thẳng thắn bàn nhiều chủ đề, kể cả cáo buộc một số viên chức VN có tuyên bố chống Tàu, bất đồng về biên giới đất liền và biển, và sự ngược đăi người Hoa ở VN. TQ nói họ vẫn sẵn sàng cho việc cải thiện quan hệ.

Hơn ba tuần sau, Lê Thanh Nghị thăm Moscow để kư nhiều thỏa thuận kinh tế. Trên đường về, ông ghé Bắc Kinh nhưng không t́m thêm được gói kinh tế nào.

Ngày 30.7.1977, hai tuần sau khi VN và Lào kư hiệp ước đồng minh, Ngoại trưởng TQ Hoàng Hoa có bài diễn văn nhắc nhiều tới sự nguy hiểm của “chủ nghĩa xét lại Xô-Viết”, và công khai cảnh cáo VN về hậu quả của một cuộc xâm lấn Campuchia.

Vấn đề Campuchia

Càng lúc Campuchia càng trở thành trường đấu cho xung đột Xô – Trung và Việt – Trung. TQ kiên quyết chính sách bảo đảm sự tồn tại của một Campuchia độc lập, cai trị bởi chính thể Khmer Đỏ thân cận với TQ.
LX th́ bảo trợ cho VN, trong khi VN th́ muốn Campuchia và Lào nằm gọn trong ṿng ảnh hưởng của ḿnh. Đă thắng Pháp, Mỹ và nay làm đồng minh của Liên Xô, VN sẽ không để ảnh hưởng với Lào và Campuchia bị TQ và Khmer Đỏ đe dọa.

Cuối tháng Chín 1977, xung đột nổ ra tại biên giới VN – Campuchia, cùng với nó là sự xấu đi trong quan hệ Việt – Trung. Lê Duẩn thăm Bắc Kinh tháng 11.1977, muốn có thêm viện trợ kinh tế.

Nhưng lấy cớ gặp khó khăn mấy năm qua, TQ cho hay họ không thể cấp viện trợ. VN cũng không làm bữa tiệc đăi chủ nhà như thông lệ. Ngày hôm sau, Tân Hoa xă đăng bài lên án COMECON, khối tương trợ kinh tế Sô Viết mà VN mới nộp đơn gia nhập.

Sau chuyến thăm của Lê Duẩn, TQ bày tỏ sự gắn bó với Campuchia. Ngày 3.12.1977, Phó Thủ tướng TQ Trần Vĩnh Quư dẫn phái đoàn tới Campuchia. Không lâu sau đó, các đợt đánh phá của Khmer Đỏ vào VN khiến VN mở cuộc tấn công lớn.

Đến ngày 18.1.1978, để chứng tỏ cam kết bảo vệ, quả phụ của Chu Ân Lai, Đặng Dĩnh Siêu, thăm Phnom Penh.
TQ thấy có bàn tay của Liên Xô đằng sau hành động của VN. Trong lúc xảy ra các va chạm ở biên giới Việt – Cambodia, ngày 19.1.1978, Tân Hoa xă khẳng định Moscow hy vọng lợi dụng thù địch giữa VN và Campuchia để tăng ảnh hưởng ở Đông Á.

Những diễn biến sau đó trong chính sách của VN với người Hoa làm TQ càng tin Hà Nội theo đuổi chính sách gắn kết với Liên Xô chống TQ.

Tại hội nghị của Đảng tháng Hai 1978, Hà Nội quyết định đánh tư sản mại bản ở miền Nam. Ngày 23.3, Hà Nội loan báo quốc hữu hoa toàn bộ doanh nghiệp tư.

Trong một chiến dịch dùng bạo lực, đến giữa tháng Tư, chính quyền đă thu gom hơn 30.000 doanh nghiệp tư ở miền Nam, mà đa số do người Hoa sở hữu. Nó đă tạo ra cuộc trốn chạy lớn cả ở biên giới Việt – Trung phía bắc và ra đến Biển Đông.

Ngày 30.4, Bắc Kinh chính thức có tuyên bố, bày tỏ lo ngại cho người tị nạn và nói họ đang theo dơi t́nh h́nh. Cùng ngày hôm đó, đảo chính ở Afghanistan đă đưa lănh đạo thân Xô, Nur Mohammed Taraki, lên nắm quyền. Nó được VN thừa nhận ngày 3.5.

Nh́n từ Bắc Kinh, đây là thêm một bước bao vây của Liên Xô. Ngày 26.5, TQ loan báo gửi tàu đến VN để đón về những người Hoa đang trốn chạy. Ngày 7.6, Đặng Tiểu B́nh nói thẳng “VN đang ngả về Liên Xô, kẻ thù của TQ.”
Ngày 16.6, TQ loan báo sẽ đóng cửa ṭa lănh sự ở TP. HCM và lănh sự quán VN ở Quảng Châu, Côn Minh và Nam Ninh.

Tháng Sáu năm đó, VN chính thức gia nhập COMECON. Ngày 3.7, Bắc Kinh dừng mọi viện trợ cho Hà Nội. Hội đàm song phương về người Hoa cũng bế tắc.

VN quyết tâm chống lại cố gắng hạn chế ảnh hưởng của họ tại Campuchia. Trong một cuộc gặp tại Hà Nội giữa Lê Duẩn và đại sứ Nga, ông Duẩn bày tỏ ư định “giải quyết cho xong vấn đề [Campuchia] trước đầu năm 1979.” Hiệp ước Việt – Xô được kư ngày 3.11.1978.

Phản ứng của TQ là chuẩn bị tâm lư cho quốc tế cho một đáp trả mạnh mẽ chống lại trục Hà Nội – Moscow. TQ t́m cách thắt chặt quan hệ với Nhật và ASEAN. Đặng Tiểu B́nh thăm Tokyo tháng Tám 1978, kư hiệp định hữu nghị và ḥa b́nh. Đáng chú ư, nó có đoạn “chống sự độc bá” mà được xem là nhắm vào Liên Xô.

Rồi đến tháng 11, sau khi Thứ trưởng Ngoại giao VN Phan Hiền (tháng Bảy) và Thủ tướng Phạm Văn Đồng (tháng Chín) thăm Đông Nam Á, Đặng Tiểu B́nh cũng công du Malaysia, Singapore, Thái Lan.

Sau khi đă mở màn công tác ngoại giao, Trung Quốc bày tỏ thái độ cứng rắn với VN. Bức điện Bắc Kinh gửi Hà Nội ngày 13.12 cảnh báo “sự kiên nhẫn và kiềm chế của TQ có giới hạn”.

Ngày 25.12.1978, quân VN bắt đầu đánh Campuchia. TQ phản ứng bằng cách lên kế hoạch cho cuộc chiến biên giới. Trong khi đi thăm Mỹ, Đặng Tiểu B́nh thông báo cho chính quyền Carter rằng VN sẽ trả giá.

Theo Cố vấn An ninh của Tổng thống Carter, Zbigniew Brzezinski, Đặng nói với chủ nhà rằng TQ “xem là điều cần thiết khi kiềm hăm tham vọng của VN và cho chúng bài học hạn chế thích hợp”.

Đúng như lời Đặng, ngay sau khi ông trở về nhà, TQ mở cuộc chiến chống VN trong tháng Hai và Ba 1979. Các cựu “đồng chí và anh em” (lời của Hồ Chí Minh) nay hóa ra là kẻ thù.

(nguồn: bbc.co.uk/vietnamese/indepth/story/2009/02/090206_soviet_factor.shtml)

Posted by: VuHungAnh Feb 19 2012, 06:16 PM

VI – Cuộc chiến 1979 và Hoàng Sa (đăng ngày 13 Tháng 2 2009)

Cuộc chiến Việt-Trung lại một lần nữa trở nên chủ đề thảo luận sôi nổi trên các diễn đàn, cho dù truyền thông trong nước không đưa tin. BBCVietnamese.com xin giới thiệu với quý vị một trong các bài đáng chú ý của nhà báo Huy Đức, đăng trên blog Osin. Bài này chưa được đăng báo giấy.

Ngày 7/2/1979, tại Tokyo, khi ngầm thông báo với báo chí một chiến dịch “trừng phạt” Việt Nam, Đặng Tiểu B́nh giải thích: “Hiệp ước mà Việt Nam và Liên Xô kư kết có tính chất đồng minh quân sự. Việt Nam đă mở cuộc xâm nhập vũ trang vào Campuchia và đang khiêu khích ở biên giới Trung Quốc”.

Tuy nhiên, nguyên nhân thực sự của cuộc chiến tranh mà Đặng Tiểu B́nh thực hiện 10 ngày sau không đơn giản chỉ là những ǵ được nói ra trong lời tuyên bố ấy.

Hiệp ước mà ông Đặng đề cập là Hiệp ước hợp tác toàn diện giữa Việt Nam và Liên Xô, kư ngày 3/11/1978. Hiệp ước này được kư kết sau khi mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đă rất trầm trọng: Trung Quốc yêu cầu Việt Nam đóng cửa ba tổng lănh sự quán (6/6/1978) và cắt toàn bộ viện trợ (7/1978).

Yếu tố Liên Xô và Campuchia

Ngày 29/1/1979, khi hội đàm ở Mỹ, Đặng Tiểu B́nh nhắc tới Campuchia, Afghanistan với Tổng thống Jimmy Carter và cảnh báo “nguy cơ phản ứng dây chuyền”. Carter “đồng ư với Đặng cách nh́n nhận” ấy.

Tuyên bố chung, ra hai ngày sau đó, nhấn mạnh: “Trung-Mỹ chống lại bất kỳ quốc gia hoặc tập đoàn quốc gia nào mưu kế bá quyền”. Đặng đă thành công khi sử dụng liên minh Việt-Xô để gieo rắc hoài nghi, khiến Mỹ làm ngơ cho Trung Quốc đánh Việt Nam, dù bên trong Đặng không hề đánh giá cao “liên minh” ấy.

Trong hội nghị do Quân ủy Trung ương Trung Quốc triệu tập, bàn “chủ trương” đánh Việt Nam, không ít tướng lĩnh đă cảnh báo nguy cơ bị Liên Xô tấn công. Khi ấy, trên biên giới Trung- Xô, Liên Xô bố trí tới 50 sư đoàn chủ lực.

Đặng Tiểu B́nh nhận định: “Liên Xô không thể không xét tới nhiều nhân tố quốc tế nên khả năng (v́ Việt Nam mà) can thiệp vào Trung Quốc là rất ít”. Trên thực tế, một tuần sau khi Trung Quốc đánh Việt Nam, không thấy Liên Xô “ra tay”, Trung Quốc đă đánh tiếp sang thị xă Lạng Sơn, và chỉ rút khi trên hướng này Quân Đoàn II xuất hiện.

Tại thời điểm Đặng tuyên bố với báo chí (7/2/1979), quân đội Việt Nam có mặt ở Phnom Penh vừa tṛn một tháng, nên “yếu tố Campuchia” có vẻ như rất dễ thuyết phục. Nhưng, theo cuốn sách “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt” của NXB Đại học Tứ Xuyên, công bố năm 1993, ngay trong Hội Nghị Quân ủy Trung ương, từ 7 đến ngày 9 tháng 12 năm 1978, Trung Quốc đă quyết định đánh Việt Nam.

Trong ngày 9/12/1978, Quyết định này đă được “tuyệt mật” chuyển tới tay tướng Hứa Thế Hữu (Tướng Hữu cùng với Dương Đắc Chí là hai tướng chỉ huy cuộc chiến tranh 17/2).

Trong khi măi tới ngày 25/12/1978, quân đội Việt Nam mới bắt đầu mở chiến dịch đánh sang Phnom Penh.
Khi Khmer Đỏ chưa nắm được chính quyền, đang “ăn nhờ, ở đậu” gần Trung ương Cục (Việt Nam), Pol Pot, Yeng Sary đă “đi lại” với Bắc Kinh.

Năm 1970, Lon Non lật đổ Sihanouk, Pol Pot đă rất cay cú khi Sihanouk được đưa về Hà Nội. Pol Pot nhận ra, họ không phải là lực lượng duy nhất mà Việt Nam ủng hộ ở đất nước nhỏ bé này.

Cho dù sau đó “lá bài” Sihanouk cũng được “nuôi” ở Bắc Kinh như một ông hoàng, người Trung Quốc đă khéo léo nhen nhúm hiềm khích Việt Nam cho Pol Pot. Chính v́ thế mà ngay trong năm 1975, Khmer Đỏ đă phản bội Việt Nam, bắn giết ở Phú Quốc, ở Thổ Chu và từ năm 1977 đánh sang An Giang, Tây Ninh, có khi vào sâu hơn 10 km.

Tuy nhiên, cho dù có bị “mất mặt” khi chế độ diệt chủng Khmer Đỏ do Trung Quốc hậu thuẫn bị Việt Nam đánh đổ ở Phnom Penh. Liệu Trung Quốc có phải là một “đàn anh” trung thành với lân bang đến mức hy sinh ḿnh như vậy?

Vấn đề 'nạn kiều'

Người Hoa và vấn đề “nạn kiều” cũng đóng một vai tṛ nhất định. Thật khó lư giải v́ sao cuộc “cải tạo tư sản công thương nghiệp”, đụng tới hàng trăm ngh́n người Hoa, lại được Việt Nam tiến hành năm 1978, khi mà mối quan hệ với Trung Quốc đang hết sức căng, nếu như không đề cập đến câu chuyện sau đây, câu chuyện mà sách vở chưa bao giờ nói đến.

Bí thư Thành ủy TP HCM vào thời điểm 1975, ông Vơ Văn Kiệt, kể: “Sau ngày 30/4, ở khu vực Chợ Lớn có một chi bộ có vũ trang thuộc bộ phận hải ngoại của đảng Cộng Sản Trung Quốc".

"Chi bộ này xuất hiện bí mật từ trước 30/4 và khi đó họ đ̣i được công khai hoạt động". Để một lực lượng Trung Quốc có vũ trang ở Chợ Lớn th́ cũng không khác chi “đặt mồi lửa dưới đống củi”, Việt Nam buộc phải “giải giáp” họ. Bắc Kinh rất khó chịu về vụ “giải giáp” này.

Nhưng, cho dù có bao nhiêu người Hoa đă phải ra đi trong năm 1978 th́ “nạn kiều” vẫn là một “lá bài” mà Trung Quốc cũng chủ động “chơi” chứ không hẳn là nguyên nhân khiến cho Đặng Tiểu B́nh đưa quân sang Việt Nam xâm lược.

Tác giả của “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt” c̣n chỉ ra một vấn đề rất có thể cũng là nguyên nhân: Năm 1978, Đặng Tiểu B́nh vừa khôi phục lại quyền lănh đạo quân đội.

“Ông có ư thức nhạy bén… thông qua cuộc chiến tranh, vừa thăm ḍ được sự trung thành (của quân đội), vừa làm cho các nhà lănh đạo (Trung Quốc) khác nhận rơ những mặt phải cải cách quân đội”.

Đại tá Hà Tám, chỉ huy trung đoàn 12 anh hùng đánh Trung Quốc tháng 2/1979, cho biết: “Mặc dù pháo theo cùng của Trung Quốc bắn khá chính xác, nhưng, bộ binh th́ chủ yếu dùng ‘biển người’; chỉ huy của Trung Quốc lúc ấy ra trận mà vẫn có người che ô, quân th́ chờ kèn kêu mới xông trận”.

Sau ngày 17/2, Trung Quốc đă gấp rút cải cách quân đội, và họ đă “thử nghiệm” lại trên Biên giới Việt Nam vào ngày 28/4/1984 bằng một chiến dịch với phương thức chiến tranh hoàn toàn mới.

Tính toán của Trung Quốc

Đặng Tiểu Bình nói: “Người Trung Quốc làm ǵ cũng có tính toán”.

Cuộc chiến tranh được huy động khi mà Trung Quốc đang vô cùng lạc hậu sau các cuộc cách mạng “da thịt tàn nhau” không chỉ nhắm đến một mục tiêu.

Bằng cách kể lể kiểu chương hồi, cuốn sách mà Trung Quốc cho công bố - “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt” - đă để lộ một ư đồ thâm sâu của Đặng, đó là vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa.

Ngay sau khi kết thúc chiến tranh ở miền Nam, các nhà lănh đạo Việt Nam đă bày tỏ thái độ khá kiên định về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa, Trường Sa, quần đảo mà từ lâu Trung Quốc đă rắp tâm thôn tính.
Tháng 6/1975, Bộ Ngoại Giao Việt Nam gửi công hàm cho Trung Quốc về vấn đề Hoàng Sa. Ngày 24/9/1975, khi gặp Đặng Tiểu B́nh ở Bắc Kinh, Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đă “yêu cầu phó thủ tướng Đặng Tiểu B́nh đàm phán về vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa”.

Tháng 4/1977, trên đường đi Liên Xô ghé qua Bắc Kinh, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đă gửi đến Trung Quốc thông điệp của Việt Nam về hai quần đảo ấy. Tuy nhiên, trước sau Trung Quốc đều một mực “yêu cầu Việt Nam trở lại lập trường trước năm 1974”.

“Lập trường trước năm 1974”, theo cuốn sách “10 Năm Chiến Tranh Trung Việt” là “Tuyên bố của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958”. Cuốn sách nói là Đặng Tiểu B́nh đă rất “khó chịu” với Bí thư thứ nhất Lê Duẩn, Đặng nói: “Vấn đề này không cần thiết phải đàm phán… (đó) là lănh thổ Trung Quốc”.

Có lẽ, năm 1979, Đặng Tiểu B́nh nghĩ là có thể đè bẹp ư chí của người Việt Nam trong vấn đề đ̣i lại Hoàng Sa và Trường Sa nên đă phát động chiến tranh. Và, các yếu tố như Liên Xô, Campuchia được Đặng vận dụng tối đa để cô lập Việt Nam trên trường quốc tế.

Điều cay đắng là, lẽ ra Đặng đă không thể cô lập Việt Nam để gây đổ máu của dân ta như thế nếu như sau 1975, Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trong khối ASEAN ngay và đặc biệt, b́nh thường ngoại giao với Mỹ.

Năm 1977, khi Mỹ ch́a tay ra cho Việt Nam, theo Tổng thống Jimmy Carter, “vấn đề bồi thường chiến tranh đă gây khó khăn”.

Rồi, trong khi Việt Nam đang loay hoay th́ Đặng Tiểu B́nh đă khai thác yếu tố này ngay, để thiết lập được quan hệ ngoại giao với Mỹ và đặt Việt Nam vào t́nh huống bị bao vây, cấm vận.

Tất nhiên, “ư thức hệ” đóng một vài tṛ quan trọng trong quyết định “nhất biên đảo” với Liên Xô; năm ấy, báo Nhân Dân vẫn chỉ trích Đặng về chủ thuyết “mèo trắng, mèo đen” và ngày nay, chúng ta vẫn cần phải quan tâm tới bài học ấy.

Tôi công bố bài viết này không chỉ v́ sắp đến ngày 17/2 mà c̣n v́, muốn lưu ư, “người Trung Quốc làm ǵ cũng có tính toán”, không nên đặt cuộc chiến tranh 17/2 ra ngoài âm mưu Biển Đông. Bản Giốc, Tục Lăm… giờ đă xong; nhưng, Hoàng Sa, Trường Sa th́ vẫn đó.

(nguồn: bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2009/02/090213_huyduc_1979.shtml)

Posted by: VuHungAnh Feb 19 2012, 06:18 PM

VII – Ý kiến về Chiến tranh Biên giới 1979 (đăng ngày 16/2/2009)

Nhân kỷ niệm sự kiện 17/02/1979, BBC Tiếng Việt và Tiếng Trung phối hợp trao đổi để đưa lên các bài nói đến cuộc xung đột mà truyền thông cả hai nước vẫn chưa thảo luận rộng rãi.

BBC cũng nhận được tin nói một số trang mạng kể cả các trang được cho là chính thức ở Trung Quốc 'vận động thanh niên' biểu tình kỷ niệm cuộc chiến và đả phá Việt Nam.

Các ý kiến phê phán Việt Nam có thể còn xuất hiện tại các chatroom, theo các đồng nghiệp Trung Quốc ở BBC.

Người Trung Quốc nghĩ gì?

Trang mạng BBC Chinese cũng nhận được nhiều ý kiến, gồm cả bạn đọc trong và ngoài Trung Quốc, về cuộc chiến 30 năm về trước.

Bạn đọc ký tên Trần Kiện từ Trung Quốc viết: "Năm đó tôi 16 tuổi và chưa hiểu được kỹ về tình hình vào lúc ấy. Nhưng đánh giá những gì tuyên truyền của nhà nước nói thì tôi có thể thấy được mục tiêu hành động của Trung Quốc là dạy cho Việt Nam một bài học. Trung Quốc giúp Việt Nam vô cùng nhiều nhưng Việt Nam không đáp trả và lại còn coi Trung Quốc là kẻ thù. Trung Quốc đúng là cần dạy cho Việt Nam một bài học."

Độc giả ký tên Victor từ Canada viết: "Đây là cuộc 'cẩu đả cẩu' giữa hai chế độ độc tài cộng sản."

Một người không nêu tên viết: "Nhiều thanh niên đã bị giết trong cuộc chiến mà chẳng đem lại được gì cả. Chẳng có ai ngoài gia đình họ nay thương nhớ họ. Đó là sự thực cho cả hai bên."

Một độc giả ẩn danh khác thì hỏi: "Vì sao từng đấy năm trôi qua mà chính quyền Trung Quốc không vinh danh những người lính Trung Quốc đã bị giết trong cuộc chiến đó? Vì sao? Họ sợ làm Việt Nam giận dữ?"

Một người ký tên Roar từ Nigeria thì bày tỏ ý kiến rằng: "Trung Quốc không phải là kẻ xâm lược vì chưa bao giờ có chuyện kẻ xâm lược lại giao trả đất họ đã chiếm. Theo những gì tôi biết, sau khi quân đội Trung Quốc xâm lăng Việt Nam, họ thấy rằng từ thực phẩm, quần áo, đồ dùng của người Việt ở địa phương đều do chính Trung Quốc cho."

Các biên tập viên BBC Tiếng Trung cũng cho biết cuộc chiến Biên giới với Việt Nam năm 1979 được báo chí nước này gọi theo các tên khác nhau nhưng không dùng từ "xâm lăng" như gọi cuộc chiến của Hoa Kỳ tại Iraq. Họ cũng nói có khác biệt giữa cách nhận định Việt Nam của giới quan sát tại vùng gần Việt Nam như Quảng Tây, vốn hiểu vấn đề kỹ hơn, và một số giới ở phía Bắc có cái nhìn hướng ngoại và coi nhẹ hơn quan hệ với Việt Nam.

(nguồn: bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2009/02/090213_chinese_war_comments.shtml)

Posted by: VuHungAnh Feb 19 2012, 06:21 PM

VIII – Truyền thông VN “sợ Trung Quốc”? (tác giả: Nguyễn Hùng, đăng ngày 13/2/2009)

Ngày kỷ niệm 30 năm cuộc chiến Việt Trung, 17/2/2009 đang tới gần và đây là phép thử đối với sự can đảm của truyền thông Việt Nam.

Những bài viết công phu và có lửa về các biến cố ở biên giới phía Bắc cách đây ba thập niên đă xuất hiện nhiều trên blog và trên truyền thông ở ngoài Việt Nam.

Nhưng các tờ báo chính thống cho tới giờ vẫn im hơi lặng tiếng và không có cơ sở để nghĩ rằng họ sẽ thay đổi vào thứ Hai tuần sau.

Lấy một ví dụ nhỏ. Khi Thủ tướng Ôn Gia Bảo của Trung Quốc bị ném giày ở Đại học Cambridge thứ Hai tuần trước, hầu như không tờ báo nào của Việt Nam đưa tin.

Cho tới cuối tuần đó mới có một bài báo nói về điều được gọi là ''văn hóa quái dị'' của chuyện ném giầy và trong đó ông Ôn Gia Bảo được nhắc tới với tên ''thủ tướng của một nước''.

Trong khi đó trong cùng bài viết, tên của một đại sứ Israel bị ném giầy và dĩ nhiên tên của Tổng thống George W. Bush được tác giả bài viết đề cập tới.

Trước đó cũng đă có nhiều cơ sở để tin rằng truyền thông Việt Nam có sự sợ hăi khi nhắc tới hai chữ Trung Quốc trong những t́nh huống mà họ sợ rằng Bắc Kinh có thể phật ḷng.

Cho dù đó là các vụ bê bối, những chỉ trích Trung Quốc của thế giới hay những cuộc biểu t́nh phản đối của chính Việt Nam.

Thái độ này khác hẳn với các diễn biến của những năm 79/80, khi mà những lời hát ''quân xâm lược bành trướng dă man đă dày xéo mảnh đất tiền tiêu. Lửa đă cháy và máu đă đổ trên khắp dải biên cương... '' vang vang khắp nơi.

Há miệng mắc quai

Nhưng có lẽ truyền thông ngày nay chỉ sợ chỉ trích có Trung Quốc ngoài nỗi sợ 'miệng nhà quan có gang có thép'.

Mỗi dịp 30/4 hàng năm người ta chẳng hề ngại khi nhắc tới thành tích 'oanh liệt' của miền Bắc đối với Mỹ (mà trên thực tế là đối với người Việt).

Sự kiểm duyệt truyền thông của Việt Nam chỉ làm cho ngành này trông thiểu năo khi đứng cạnh truyền thông quốc tế.

Thế nhưng liệu đại sứ Việt Nam ở Trung Quốc sẽ giải thích thế nào nếu bị triệu đến khi đài báo Việt Nam chỉ trích Bắc Kinh?

Giá như họ không kiểm soát truyền thông có lẽ Việt Nam đă có thể nói rằng báo chí tư nhân hoạt động theo luật pháp và họ không vi phạm luật nên không can thiệp nổi.

Nhưng sự khao khát kiểm soát của nhà cầm quyền đă khiến họ há miệng mắc quai.

(nguồn: bbc.co.uk/vietnamese/forum/story/2009/02/090213_china_fear.shtml)


Posted by: VuHungAnh Feb 19 2012, 06:24 PM

IX – Bài cuối: TQ nói về chiến tranh biên giới 1979 (đăng ngày 16/2/2012)

Nhân dịp 33 năm cuộc chiến biên giới Việt-Trung, mời quý vị cùng điểm qua nguồn tin Trung Quốc nói về sự kiện này.

Gần đây, các trang mạng kể cả chính thống của Trung Quốc đăng tải một số bài viết về cuộc chiến biên giới 1979. Nhà nghiên cứu Dương Danh Dy gửi từ Hà Nội bản dịch của ông cho bài trên mạng China.com, tựa đề "Trong cuộc đánh trả tự vệ Việt Nam năm 1979: V́ sao không chia cắt Việt Nam, thương vong khi rút về lớn hơn khi tấn công?".

Bài viết nhận định: "Năm 1979, trong trận đánh trả tự vệ Việt Nam, quân đội Trung Quốc với thế nhanh chóng tấn công, quân Việt từng bước tan ră, quân đội Trung Quốc nhắm thẳng Hà Nội. Sau đó Trung Quốc tuyên bố trận đánh đă đạt mục đích, tự rút quân về nước".

Tuy nhiên, bài này cũng thừa nhận: "Lâu nay chúng ta luôn tuyên truyền và miêu tả rằng chúng ta đă thắng lợi và Việt Nam đă thất bại, nhưng cùng với thời gian những văn kiện của chính quyền và tư liệu của Việt Nam cho thấy, cuộc chiến này không lạc quan như tuyên truyền trước đây, trong đó có nhiều bài học nặng nề đau đớn khiến chúng ta không thể không phản tỉnh một cách sâu sắc".

Các bài học đó là: Thứ nhất, kỷ luật quân sự nghiêm túc đă làm "quân ta" phải trả giá trầm trọng.

"Ba kỷ luật lớn, tám điều chú ư mà quân đội ta giữ nghiêm đă phát huy tác dụng lớn trong cuộc nội chiến Quốc, Cộng; thế nhưng khi chúng ta vào Việt Nam đánh quân đội và chính quyền Việt Nam mà vẫn thực hiện ba kỷ luật lớn tám điều chú ư là tự trói chân trói tay ḿnh lại, hy vọng dùng những cái đó để tranh thủ sự giúp đỡ và ủng hộ của nhân dân Việt Nam th́ chẳng khác ǵ đàn gẩy tai trâu, tự chuốc lấy nhục."

"Nhân dân Việt Nam không phải là công dân Trung Quốc, làm sao họ có thể gần gũi quân đội nước ngoài đánh vào đất nước họ?"

"Chiến tranh là chiến tranh, nhất là chiến tranh giữa các quốc gia, anh không thể hy vọng nhân dân nước khác đánh trống khua chiêng hoan nghênh anh xâm chiếm người ta, đó chẳng qua chỉ là tṛ bịt tai đi ăn cắp chuông, tự lừa dối ḿnh và lừa dối người."

Bài học thứ hai, theo bài trên China.com, là "không quân phát triển tŕ trệ, lạc hậu không có sức công kích".
"Thứ ba, hải quân Biển Đông lúc đó c̣n chưa phát triển. Cuộc chiến hoàn toàn diễn ra trên lục địa Việt Nam."
Tác giả bài viết tỏ vẻ luyến tiếc về việc Trung Quốc không nhân cơ hội thu chiếm luôn các đảo ở Biển Đông.

"Đánh Việt Nam vừa để dạy bài học, vừa thu hồi lănh thổ bị chiếm, vùng gần biên giói trên bộ bị Việt Nam chiếm giữ đă thu hồi hết cớ làm sao không thu hồi các đảo, băi trên Biển Đông bị Việt Nam chiếm giữ?"

"Điều giải thích duy nhất là hải quân của chúng ta chưa đủ, không chỉ chưa đủ để đánh lùi hải quân Việt Nam chiếm giữ đảo băi của ta mà c̣n khó có thể đóng giữ ở đó, đánh lùi được kẻ địch tới xâm phạm. Điều khiến người ta lấy làm tiếc là các đảo băi trên Biển Đông dựng như đă bị các nước láng giềng xung quanh chia nhau chiếm hết rồi."

Đặc biệt, bài viết còn cho rằng tới nay hải quân Trung Quốc "vẫn chưa dùng tới sức đă có của ḿnh để giải pḥng và bảo vệ các đảo, băi thiêng liêng đó".

Lý do thứ tư gây ra tổn thất cho quân đội Trung Quốc được cho là vì "sức ép bên ngoài".

"Khi quân đội ta đă tiến gần Hà Nội, dưói sức ép của thế lực quốc tế đứng đầu là Liên Xô, chúng ta không chỉ tuyên bố đ́nh chỉ tấn công, mà c̣n công khai tuyên bố lập tức rút quân."

"Đó là một sai lầm chính trị và quân sự to lớn, trước khi rút quân đă tuyên bố rút sẽ khiến kẻ thù dễ dàng có thời gian và không gian chuẩn bị phản kích, địch có chuẩn bị c̣n ta th́ không, địch thong dong mà chúng ta vội vă, không bị thương vong lớn mới là chuyện lạ."

Tổn thất lớn

Cho tới nay, thống kê vẫn chưa đồng nhất về con số thương vong của hai bên trong cuộc chiến biên giới Việt-Trung, mà Trung Quốc khởi xướng với động cơ mà Bắc Kinh gọi là "đánh trả tự vệ".

Phía Trung Quốc nói quân lính Việt Nam chết và bị thương vào khoảng 50.000 - 70.000, lính Trung Quốc khoảng 20.000.

Cũng trên mạng China.com từng đưa ra con số được nói là theo ghi chép từ hồ sơ mật về Trận Phản kích Tự vệ với Việt Nam, rằng Trung Quốc "tiêu diệt gần 6 vạn quân Việt Nam, trong đó hơn 42.000 đă chết và hơn 10.000 người bị thương, hơn 2.000 người bắt làm tù binh".

Phía Việt Nam thì trong một số bản tin hiếm hoi nói tiêu diệt hơn 30.000 lính Trung Quốc.

Tạp chí Time của Mỹ lại đưa ra con số khá khác biệt: ít nhất 20.000 lính Trung Quốc thiệt mạng, trong khi số bộ đội Việt Nam chết chưa tới 10.000 .

Hàng nghìn dân thường Việt Nam cũng thiệt mạng và thương vong.

(nguồn: bbc.co.uk/vietnamese/forum/2012/02/120216_chinaview_border_war.shtml)


Posted by: Hoacamchuong Feb 19 2012, 09:37 PM

Hoan hô VHA!
Những tư liệu bạn đưa lên đây thật tuyệt vời. Trong đó, những ǵ đă "công khai" từ những ngày "tiếng súng đă vang trên bầu trời biên giới" đều chính xác, bởi tôi là người lính vừa xuất ngũ ngay trong giai đoạn đó, nên tôi nhớ rất rơ. C̣n những ǵ thuộc về "thâm cung bí sử" th́ rất đáng tin, bởi đó là những tư liệu với cách nh́n nhận của những người ngoài cuộc (các học giả nước ngoài).

Đúng như bạn nhận định, điều rất khó hiểu là báo chí chính thống của ta cứ... im hơi lặng tiếng măi thôi. Có vấn đề ǵ chăng?
Rất may là từ ngày hôm kia (17 tháng Hai, 2012), báo Thanh niên bắt đầu đăng loạt bài nhiều kỳ: "Cột thiêng nơi địa đầu Tổ quốc" của tác giả Nguyên Phong. Trong đó tác giả nh́n nhận vấn đề một cách khá thẳng thắn, và không ngại dùng từ (vốn đang được coi là)... kỵ húy: phía Trung Quốc. Các bạn có thể tham khảo trên Thanhniênonline: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120218/cot-thieng-noi-dia-dau-to-quoc-ky-3-ap-luc-tren-vai-nguoi-cam-moc.aspx

Không biết có c̣n báo nào đăng những bài tương tự nữa không (v́ tôi không thể đọc hết các báo), nhưng có lẽ đấy cũng là tín hiệu đáng mừng. Hy vọng rằng mọi bí ẩn của lịch sử sẽ được công khai hóa để... Dân ta phải biết sử ta!
Mong lắm thay!

Posted by: Jan Feb 20 2012, 08:42 AM

@bác HCC (& bác VHA): Cảo thơm lần rở trước đèn... Theo sử Tàu Tam Quốc, có anh Đặng Ngải nói lắp biggrin.gif

QUOTE
Vô đề


Chế Lan Viên - 1979

Suốt một đời đại cán

Tân trang thành cao bồi

Thế mới là hảo hán

Thế mới là chịu chơi !


Tam phản và ngũ phản

Cờ đỏ rồi sách hồng

Đem thù ra làm bạn

Giết bạn là chiến công !

Posted by: VuHungAnh Feb 20 2012, 04:12 PM

QUOTE (Hoacamchuong @ Feb 19 2012, 09:37 PM) *
Hoan hô VHA!
Những tư liệu bạn đưa lên đây thật tuyệt vời. Trong đó, những ǵ đă "công khai" từ những ngày "tiếng súng đă vang trên bầu trời biên giới" đều chính xác, bởi tôi là người lính vừa xuất ngũ ngay trong giai đoạn đó, nên tôi nhớ rất rơ. C̣n những ǵ thuộc về "thâm cung bí sử" th́ rất đáng tin, bởi đó là những tư liệu với cách nh́n nhận của những người ngoài cuộc (các học giả nước ngoài).

Đúng như bạn nhận định, điều rất khó hiểu là báo chí chính thống của ta cứ... im hơi lặng tiếng măi thôi. Có vấn đề ǵ chăng?
Rất may là từ ngày hôm kia (17 tháng Hai, 2012), báo Thanh niên bắt đầu đăng loạt bài nhiều kỳ: "Cột thiêng nơi địa đầu Tổ quốc" của tác giả Nguyên Phong. Trong đó tác giả nh́n nhận vấn đề một cách khá thẳng thắn, và không ngại dùng từ (vốn đang được coi là)... kỵ húy: phía Trung Quốc. Các bạn có thể tham khảo trên Thanhniênonline: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20120218/cot-thieng-noi-dia-dau-to-quoc-ky-3-ap-luc-tren-vai-nguoi-cam-moc.aspx

Không biết có c̣n báo nào đăng những bài tương tự nữa không (v́ tôi không thể đọc hết các báo), nhưng có lẽ đấy cũng là tín hiệu đáng mừng. Hy vọng rằng mọi bí ẩn của lịch sử sẽ được công khai hóa để... Dân ta phải biết sử ta!
Mong lắm thay!

Cảm ơn bác Hoacamchuong đă động viên. Em th́ rất tin rằng một ngày gần đây, những điều "khó hiểu" kia sẽ trở nên rơ ràng và b́nh thường, không c̣n trong bóng tối nữa.

Một lần nữa xin chúc mừng bác, một thành viên của NCM nay lại đảm đương thêm trọng trách cao cả mới! biggrin.gif

Posted by: VuHungAnh Feb 20 2012, 04:21 PM

QUOTE (Jan @ Feb 20 2012, 08:42 AM) *
@bác HCC (& bác VHA): Cảo thơm lần rở trước đèn... Theo sử Tàu Tam Quốc, có anh Đặng Ngải nói lắp biggrin.gif

Bác Jan thật là cao minh quá. Không dễ ǵ hiểu ngay ra ư của bác. Em chợt nhớ ra chuyện "hai sĩ tranh hùng" nhưng rồi cả hai đều ngỏm củ tỏi. Một là Đặng Sĩ-tái (tức Đặng Ngải), c̣n sĩ kia là Chung Sĩ-quư (tức Chung Hội). V́ tranh công mà cuối cùng tiêu diệt lẫn nhau. Ấy là chuyện xưa. C̣n nay, hậu duệ của Sĩ-tái kia th́ có nhà sử học cho rằng th́ là có ǵ để gọi là tài? - v́ thực ra ông ta cũng chỉ làm cái việc là đưa TQ trở lại quỹ đạo phát triển b́nh thường mà thôi. Ấy là c̣n chưa kể đến bao nhiêu cái tội khác, tỷ dư tội xâm lược chẳng hạn. Và một loạt cái khác nữa mà như nhà thơ "họ Chế" kia đă phác thảo rất tài t́nh....

Posted by: Jan Feb 21 2012, 02:48 PM

QUOTE (VuHungAnh @ Feb 20 2012, 04:21 PM) *
Bác Jan thật là cao minh quá. Không dễ ǵ hiểu ngay ra ư của bác. Em chợt nhớ ra chuyện "hai sĩ tranh hùng" nhưng rồi cả hai đều ngỏm củ tỏi. Một là Đặng Sĩ-tái (tức Đặng Ngải), c̣n sĩ kia là Chung Sĩ-quư (tức Chung Hội). V́ tranh công mà cuối cùng tiêu diệt lẫn nhau. Ấy là chuyện xưa. C̣n nay, hậu duệ của Sĩ-tái kia th́ có nhà sử học cho rằng th́ là có ǵ để gọi là tài? - v́ thực ra ông ta cũng chỉ làm cái việc là đưa TQ trở lại quỹ đạo phát triển b́nh thường mà thôi. Ấy là c̣n chưa kể đến bao nhiêu cái tội khác, tỷ dư tội xâm lược chẳng hạn. Và một loạt cái khác nữa mà như nhà thơ "họ Chế" kia đă phác thảo rất tài t́nh....

Hi hi, thế là có thể mở tiệm may com-lê được rùi, cảm ơn bác VHA nhiều nhiều nghe tongue.gif Kissinger, kiến trúc sư trưởng của 'ngoại giao ping-pông' và những sự kiện Hoàng Sa 74, Chiến tranh biên giới 2/1979 (Đặng-sỹ-lăn chỉ rư là thực thi thôi biggrin.gif), năm kia có cho ra cuốn 'China' (cũng kiếm bộn tiền), có nhắc đến 'Three Kingdoms' (Tam Quốc), đọc mà cũng phải suy gẫm nhiều lắm
QUOTE (VuHungAnh @ Feb 19 2012, 05:52 PM) *
Như thế là, khi sống bên cạnh anh khổng lồ phương bắc, chúng ta chẳng những phải luôn luôn cảnh giác mà c̣n phải mài sắc nhận thức trên mọi phương diện, đặc biệt là lịch sử. Để sao cho không một cường quốc nào có thể lợi dụng được chúng ta, để dân tộc ta không phải lao vào ṿng chiến nữa (1). Muốn vậy, chúng ta chớ nên b́nh chân như vại. Cần phải biết nhiều thứ, thậm chí là phải biết tất cả…

(1) Trong cuộc khủng hoảng Biển Đông năm ngoái, thượng tướng Nguyễn Chí Vịnh, thứ trưởng BQP (khi đó c̣n là trung tướng) có tổng kết như sau: “Trong lịch sử, đă nhiều lần các cường quốc khác nhau trên thế giới từng đàm phán trên lưng dân tộc ta. Kết quả là dân tộc ta bị xoáy vào các cuộc chiến tranh và chịu nhiều tổn thất hết sức to lớn về người và của. Kể từ nay trở đi, chúng ta sẽ không để cho điều đó xảy ra nữa”.

Posted by: Hậu sinh Mar 26 2012, 09:59 AM





Em không biết viết lách nên post vài bài để mời bác Vũ Hùng Anh ra tay!

Posted by: VuHungAnh Mar 26 2012, 11:13 AM

Hết sức cảm ơn Hậu Sinh đă nhắc nhở. Mấy ngày hôm nay bận lu bu nên chỉ có thể viết ngắn. Hơn nữa cũng phải có mạch truyện để xâu chuỗi các sự kiện lại với nhau nhưng cái mạch ấy lại chưa xuất hiện….

Ngày kỷ niệm sinh nhật Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh 26/3 năm nay các trang nhạc anh em với NCM như BCDCNT và BCKQ đă đăng nhiều bài hát để kỷ niệm từ lâu. Riêng VHA muốn có một cái ǵ mới nhưng kế hoạch bị trễ nên cứ lần lữa măi. Bây giờ mời cả nhà cùng nghe lại cái sôi nổi phơi phới của lớp lớp thanh niên lên đường xây dựng các vùng kinh tế mới của miền Tây Bắc nước ta trong những năm đầu thập kỷ 60 thế kỷ trước nhé. Bài hát này nói về thanh niên mà lại rất xứng đáng cho vào topic Những tuyệt phẩm của nền tân nhạc VN, nhưng chả hiểu sao lại ít người biết đến thế. Bài hát Muôn nẻo đường quê hương sáng tác của Phó Đức Phương do hai nghệ sĩ Kiều Hưng và Tuyết Thanh thể hiện:



Trong một lần gặp gỡ hiếm hoi với nhạc sĩ tại một đám cưới đứa cháu con ông anh (ông anh của VHA làm bên thể thao, đă đặt hàng nhạc sĩ Phó Đức Phương viết nhạc cho lễ khai mạc và bế mạc Paralympic 2003), VHA có hỏi nhạc sĩ rằng ông có biết bài này là của ai không nhé. Đoạn VHA đă hát một đoạn bài hát này. Nhạc sĩ buông bát đũa hỏi tại sao lại biết bài này, biết lâu chưa? Thế là được dịp VHA tuôn ra một tràng nào là biết đă lâu nhưng chả thấy người sinh thành ra nó đả động đến bao giờ, không biết nguồn cơn ra sao. Nhạc sĩ ôn tồn bẩu:

- Đă là người sinh thành th́ bao giờ khi viết mà cảm xúc chả mănh liệt. Nếu không th́ không bao giờ viết. C̣n đón nhận hay không là ở người nghe chứ. Bạn nghe và nhớ, lại yêu đến thế chắc có nhiều tâm sự lắm đây…

- Vâng, thưa anh. – VHA trả lời. – Các nhạc sĩ trong đó có cả anh chắc không thể biết được khi các anh viết nhạc cho hay, cho đông đảo bạn nghe nhạc thưởng thức, chính là các anh đă góp phần giáo dục nên bao người đấy ạ. Nên bản thân em luôn coi những nhạc sĩ như anh là thầy dạy của ḿnh, mặc dù chưa một ngày cắp sách đến nghe giảng….

Nhạc sĩ nắm chặt tay, bẩu nhất định một lúc nào đó nhớ tới nhà chơi nhà đấy nhé.

Posted by: nobita82 Mar 26 2012, 11:45 AM

QUOTE (VuHungAnh @ Mar 26 2012, 11:13 AM) *
Hết sức cảm ơn Hậu Sinh đă nhắc nhở. Mấy ngày hôm nay bận lu bu nên chỉ có thể viết ngắn. Hơn nữa cũng phải có mạch truyện để xâu chuỗi các sự kiện lại với nhau nhưng cái mạch ấy lại chưa xuất hiện….

Ngày kỷ niệm sinh nhật Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh 26/3 năm nay các trang nhạc anh em với NCM như BCDCNT và BCKQ đă đăng nhiều bài hát để kỷ niệm từ lâu. Riêng VHA muốn có một cái ǵ mới nhưng kế hoạch bị trễ nên cứ lần lữa măi. Bây giờ mời cả nhà cùng nghe lại cái sôi nổi phơi phới của lớp lớp thanh niên lên đường xây dựng các vùng kinh tế mới của miền Tây Bắc nước ta trong những năm đầu thập kỷ 60 thế kỷ trước nhé. Bài hát này nói về thanh niên mà lại rất xứng đáng cho vào topic Những tuyệt phẩm của nền tân nhạc VN, nhưng chả hiểu sao lại ít người biết đến thế. Bài hát Muôn nẻo đường quê hương sáng tác của Phó Đức Phương do hai nghệ sĩ Kiều Hưng và Tuyết Thanh thể hiện:



Trong một lần gặp gỡ hiếm hoi với nhạc sĩ tại một đám cưới đứa cháu con ông anh (ông anh của VHA làm bên thể thao, đă đặt hàng nhạc sĩ Phó Đức Phương viết nhạc cho lễ khai mạc và bế mạc Paralympic 2003), VHA có hỏi nhạc sĩ rằng ông có biết bài này là của ai không nhé. Đoạn VHA đă hát một đoạn bài hát này. Nhạc sĩ buông bát đũa hỏi tại sao lại biết bài này, biết lâu chưa? Thế là được dịp VHA tuôn ra một tràng nào là biết đă lâu nhưng chả thấy người sinh thành ra nó đả động đến bao giờ, không biết nguồn cơn ra sao. Nhạc sĩ ôn tồn bẩu:

- Đă là người sinh thành th́ bao giờ khi viết mà cảm xúc chả mănh liệt. Nếu không th́ không bao giờ viết. C̣n đón nhận hay không là ở người nghe chứ. Bạn nghe và nhớ, lại yêu đến thế chắc có nhiều tâm sự lắm đây…

- Vâng, thưa anh. – VHA trả lời. – Các nhạc sĩ trong đó có cả anh chắc không thể biết được khi các anh viết nhạc cho hay, cho đông đảo bạn nghe nhạc thưởng thức, chính là các anh đă góp phần giáo dục nên bao người đấy ạ. Nên bản thân em luôn coi những nhạc sĩ như anh là thầy dạy của ḿnh, mặc dù chưa một ngày cắp sách đến nghe giảng….

Nhạc sĩ nắm chặt tay, bẩu nhất định một lúc nào đó nhớ tới nhà chơi nhà đấy nhé.


Ngay từ lần đầu em nghe ca khúc "Muôn nẻo đường quê hương" em đă rất thích bài hát này. Lâu nay em t́m măi sheet của bài này mà không có. Bác nào có sheet của bài này share cho em mới ạ. Em cảm ơn các bác nhiều.

Posted by: VuHungAnh Mar 28 2012, 09:44 AM

Nhớ ngày giỗ Tổ Hùng Vương


Dù ai đi ngược về xuôi,
Nhớ ngày Giỗ Tổ mùng 10 tháng Ba.
Dù ai buôn bán gần xa
Nhớ ngày Giỗ Tổ tháng Ba th́ về


Ngày 10 tháng Ba âm lịch tới đây (nhằm ngày 31/3/2012) là ngày giỗ Tổ Hùng Vương. Ngày này đă chính thức được Bộ Chính trị BCH TU ĐCS VN ghi vào Nghị quyết lấy làm ngày Giỗ Quốc Tổ từ năm 2007 và cũng đă được Thủ tướng chính phủ ra quyết định áp dụng trong cả nước từ năm đó.

Giỗ Quốc Tổ, gọi tắt là Giỗ Tổ, là một đặc thù của nền văn hiến Việt Nam. Trên thế giới có lẽ ít có dân tộc nào nhớ đến ngày giỗ tổ hay nói đúng ra là nhớ đến tổ tiên, người đă sáng lập ra đất nước, giống ṇi như người Việt Nam.


Truyền thuyết kể rằng Tổ Phụ Lạc Long Quân lấy Tổ Mẫu Âu Cơ sinh ra 100 con, 50 con theo Cha xuống biển, 50 con theo Mẹ lên núi và con cả được truyền ngôi lấy hiệu là Hùng Vương. Thường thường nói đến giỗ Tổ là nói đến giỗ Tổ Hùng Vương. Nhưng niên hiệu lập quốc là năm 2879 trước công nguyên, thời Kinh Dương Vương, người sáng lập ra họ Hồng Bàng.

Kinh Dương Vương lấy Long Nữ sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân lấy Âu Cơ sinh ra Hùng Vương. Hùng Vương là cháu đích tôn của Kinh Dương Vương. Giỗ Tổ v́ vậy là giỗ Tổ Kinh Dương Vương. Trong thời khai quốc, Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương đều là những Tổ Phụ quan trọng của ṇi giống Lạc Hồng. Giỗ Tổ v́ thế cũng là tưởng nhớ đến các Tổ Phụ Tổ Mẫu thời khai quốc, chứ không chỉ nhớ đến Hùng Vương.

Về nguồn gốc ngày Giỗ Tổ th́ không thấy sử sách truyền lại, nhưng có lẽ đă có từ rất lâu đời, từ thời c̣n nước Văn Lang. Trong thời Bắc thuộc lễ Giỗ Tổ bị cấm, hơn nữa đất nước bị mất chủ quyền, không c̣n cấp lănh đạo quốc gia để cử hành lễ Giỗ Tổ. Từ khi dành lại được chủ quyền, triều đ́nh các triều đại nối tiếp nhau đă cử hành lễ Giỗ Tổ tại lăng miếu Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ. Hằng năm đến ngày Giỗ Tổ, triều đ́nh đều cử quan thay mặt vua tới đền Hùng cúng tế long trọng.

Mỗi năm đến ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch, dân ta lại tưng bừng cử hành lễ Giỗ Quốc Tổ. Tiền nhân đă chọn ngày mùng 10 tháng 3 để Giỗ Tổ là có tính toán có chủ đích, v́ ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch có liên quan đến quan niệm về vũ trụ đồ sộ mà tiền nhân từ thời khai quốc đă để lại.


Ngày Giỗ Quốc Tổ mùng 10 tháng 3 đă làm chuyển động cả hệ thống vũ trụ quan, nhân sinh quan từ âm dương, ngũ hành, lạc thư, hà đồ, lịch số, dịch số và hồng phạm cửu trù. Tiền nhân đă chọn ngày 10 tháng 3 mừng lễ Giỗ Quốc Tổ là để xưng tụng công đức của Tổ Phụ, ca tụng ngôi Cửu Ngũ Hoàng cực của Quốc Tổ. Chọn ngày mùng 10 tháng 3 làm ngày Giỗ Tỗ là để đem lại cho quốc thái dân an, cho ṇi giống Lac Hồng măi măi trường tồn cùng sông núi.

Chọn ngày mùng 10 tháng 3 làm ngày Giỗ Tổ, tiền nhân chứng tỏ hệ thống lư số vũ trụ quan, nhân sinh quan từ thái cực, âm dương, ngũ hành, lạc thư, hà đồ, lịch pháp, dịch số, đến hồng phạm cửu trù đều là của người Việt do các bậc Thánh nhân ḍng Việt sáng tạo ngay từ thời thượng cổ, lập quốc.

Mỗi năm đến ngày Giỗ Tổ, con cháu Lạc Hồng thành kính dâng lễ vật, ca tụng công đức Tổ Tiên để nhớ công ơn các Ngài, ra sức giữ ǵn toàn vẹn lănh thổ, đưa đất nước đến phú cường thịnh vượng, làm vẻ vang ṇi giống. Quốc Tổ đă để lại một giải non sông gấm vóc này cho toàn dân, mọi người đều b́nh quyền, không một ai hay một tổ chức nào có quyền tự nhận là chủ nhân độc quyền bắt người khác phải phục tùng như tôi tớ nô lệ.

Để thấu hiểu cái chất Việt bắt nguồn từ Hùng Vương linh thiêng đang hừng hực trong huyết quản mỗi người Việt ta, xin mời cả nhà cùng nghe lại một bài hát hay của VOV đă phát cách nay 32 năm. Bài hát này bạn vnmaths vừa upload lên BCKQ sớm hôm nay (thứ 4, 28/3/2012 tức 7/3 âm lịch). Cảm ơn vnmaths về bài hát này:


Từ đất Tổ lên đường (sáng tác: Nguyễn An – thể hiện: Tiến Thành & tốp ca nam nữ Đài TNVN)

1) Nh́n hướng Bắc lửa khói
Nơi biên cương giặc tới
Đây quê hương ngàn xưa
Chân núi Hùng lại chia tay hôm nay
Đường ra đi quyết giữ nước
Ḷng nhớ măi mối thù này!

Ta hăy nhớ ghi sâu trong ḷng
Lũ phản bội nhuộm máu đôi tay
Khi quân thù c̣n xâm lược
C̣n đi chiến đấu hành quân đi xa

2) Màu ngói mới hồng tươi
Vươn trên sông cầu mới
Ta đang xây cuộc đời
Nhưng lũ giặc chặn đôi tay ta đây
Đường ra đi quyết giữ nước
Ḷng không quên mối thù này!

Mang chiến thắng dâng lên quê nhà
Đất ngàn xưa hào khí dâng cao
Khi quân phản bội xâm lược
C̣n đi chiến đấu hành quân đi xa!

3) Lại chia tay em nhé
Khi non sông giục giă
Ta chưa yên gần nhau
Khi lũ giặc c̣n gây bao thương đau
Đường biên cương đă nhốm máu
Ḷng quên sao mối thù này

Ta hăy nhớ ghi sâu trong ḷng
Lũ phản bội nhuộm máu đôi tay
Khi quân thù c̣n xâm lược
C̣n đi chiến đấu hành quân đi xa

4) Từ quê hương Hùng Vương
Nơi cha ông dựng nước
Đang ngân vang gọi ta
Tiếng trống đồng ngàn năm xưa rung lên
Đường ta đi quyết giữ nước
Diệt cho tan quân thù này

Ta hăy nhớ ghi sâu trong ḷng
Lũ phản bội nhuộm máu đôi tay
Khi quân thù c̣n xâm lược
C̣n đi chiến đấu hành quân đi xa

Mang chiến thắng dâng lên quê nhà
Đất ngàn xưa hào khí dâng cao
Khi quân phản bội xâm lược
C̣n đi chiến đấu – ta hành quân đi xa….


(Bài viết có sưu tầm tài liệu từ các báo)

Posted by: VuHungAnh Apr 14 2012, 02:21 PM

Đất nước Lào tươi đẹp đang vào xuân với tết Bunpimay cổ truyền nhiều màu sắc các bộ tộc Lào!

Theo truyền thống, Tết Lào diễn ra trong suốt tháng thứ năm Phật Lịch (một loại lịch cổ truyền của các dân tộc Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar), bắt đầu từ ngày thứ sáu của tháng thứ năm và kết thúc vào ngày thứ năm của tháng thứ sáu, trong đó ngày lễ chính (Wun Salong) được tổ chức vào dịp trăng tṛn. Hiện nay Tết Lào được tổ chức từ ngày 13 tháng 4 đến ngày 16 tháng 4 dương lịch hàng năm, khi bầu trời thanh cao, các ḍng sông lớn đều dồi dào nước tượng trưng cho một năm mới nhiều lộc. Tết Bunpimay diễn ra trong ba ngày. Ngày đầu tiên cũng là ngày cuối cùng của năm cũ, người ta lau chùi quét dọn sạch sẽ từ trong nhà ngoài ngơ. Ngày thứ hai không được tính đến v́ đó là giao thời giữa năm cũ và năm mới. Hội bắt đầu vào ngày 16 cũng là ngày cuối cùng với nhiều hoạt động tưng bừng khắp nơi. Ngày cuối cũng là ngày kết thúc tuần trăng. Trong ba ngày này người Lào được nghỉ, không làm việc và cũng không có các hoạt động buôn bán.

Trời đẹp tháng Ba
Gió lâng lâng
Gió lâng lâng dịu dàng ngân tiếng sáo
Êm như ru đón chờ mùa xuân về…

Ơ… ơ… ơ…

Xuân ơi! Xuân về rộn ràng phơi phới
Lời hát véo von
Bầy chim đó đây nhảy nhót trên cành

Vang bài ca từ bốn phương trời
Vọng về đây niềm tin thắng lợi
Niềm tin sáng ngời!

Đẹp thay đất Lào đất nước tự do
Thắm tươi trong vườn hoa mới
Hăy hát lên bài ca thắng lợi!

Ơ…ơ…ơ…

Xuân ơi! Xuân về rộn ràng phơi phới
Lời hát véo von từ khắp đó đây
Vương ngàn sắc trên đất này
Vang bài ca từ bốn phương trời
Vọng về đây niềm tin yêu mới
Niềm tin thắng lợi rộn vang nơi nơi

Đất nước sáng tươi! Tổ quốc vinh quang!
Xây đắp tương lai cho mầu xanh cách mạng
Đẹp thay đất Lào!

Xuân về tươi thắm hơn ngàn hoa
Xuân về tươi thắm hơn ngàn hoa!


Chúng ta cùng nghe một bài hát rất hay của nhạc sĩ Lào Bun Thoong qua giọng hát NSND Lê Dung mà chúng ta đang t́m kiếm bấy lâu nay:

Xuân thắng lợi (Sáng tác: Bun Thoong – Tŕnh bày: Lê Dung):
http://www.mediafire.com/?aotvyda7t1pr6aa


Posted by: VuHungAnh Apr 22 2012, 09:34 PM


Kỷ niệm lần thứ 142, ngày sinh Vladimir Ilich Lenin


Hôm nay 22/4 nhân dân tiến bộ trên thế giới kỷ niệm lần thứ 142 ngày sinh Vladimir Ilich Lenin (22/4/1870 – 22/4/2012), lănh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản toàn thế giới, nhà lư luận kiệt xuất của chủ nghĩa xă hội khoa học, nhà kinh điển của chủ nghĩa duy vật biện chứng và cùng với K. Marx và F. Engels, Người đă sáng lập học thuyết Mac – Lenin. Đi theo con đường của Lenin, cách mạng Tháng Mười ở Nga đă lập nên nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới vào 1917. C̣n ở phương Đông, đó là cách mạng Tháng Tám 1945 ở Việt Nam. Lê-nin vĩ đại muôn đời bất diệt!



Vầng dương sáng ngời ngời
Rực soi ấm ḷng người
Từ trên năm châu tiếng hát vang vang ca ngợi Lê-nin!

Ḱa lúa chín ngập đồng
Hồng tươi thắm đầu cành
Đời đang reo vui phơi phới
Máy nhịp nhàng quay khói cuốn bay

Nh́n sông nhớ mạch nguồn
Nh́n bông nhớ ruộng vườn
Việt Nam có Bác có suối Lê-nin vững vàng vui ca

Đời áp bức nhọc nhàn
Đời tăm tối bần hàn
Và cùng nhau theo Lê-nin phá tan tành gông xiềng!
Vùng lên theo Lê-nin đi tới phương trời
Hương hoa bay thơm ngát ḷng người
Tay trong tay chung t́nh thân ái!

Cùng đi theo Lê-nin xây đắp cuộc đời
Mênh mông như sóng lúa biển trời
Đường thênh thang bay tới trăng sao!

Ôi Lê-nin! Đời từ khi nghe tiếng Lê-nin
Người người sống trong niềm ước mơ: thấy cuộc đời đổi mới!
Ôi Lê-nin! Niềm tin sáng trong tim người người
Lư tưởng kia đang rọi đường tới xă hội đẹp tươi!


Ánh sáng Lê-nin (Nguyễn Văn Quỳ) Đoàn ca nhạc Đài TNVN:
http://www.mediafire.com/?e363cc6n0781szb

Posted by: VuHungAnh Apr 26 2012, 09:32 AM


Kỷ niệm các ngày lễ lớn của dân tộc, ngày Giải phóng hoàn toàn Miền Nam 30/4 và Quốc tế Lao động 1/5, xin mời cả nhà nghe lại không khí hừng hực cùng bước chân thần tốc của Quân Giải phóng tiến vào giải phóng Sài G̣n qua một sáng tác nổi tiếng của Hồ Bắc, nhạc sĩ lăo thành rất được yêu mến và là người mà Tổ công tác của NCM vừa đến thăm, qua bài hát Sài G̣n quật khởi:


Trong cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, biết bao người con ưu tú của đất nước đă ngă xuống, những anh hùng chưa biết tên và đă biết tên. Trong số đó có một nữ anh hùng đă may mắn trở về sau ngày chiến thắng. Tấm gương bất khuất trước kẻ thù của chị đă vang vọng khắp năm châu. Bước ra từ vành móng ngựa của kẻ thù với cái án 20 năm khổ sai, chị đă mỉm cười ngạo nghễ. Khi được hỏi tại sao lại cười, có phải v́ bản án 20 năm coi như là thoát tội chết chăng? Chị dơng dạc trả lời: Thật là nực cười cho những người tự cho là nắm chân lư như các ông! Không một kẻ mạnh, một lẽ phải nào có cách hành xử như các ông. Tôi đă nh́n thấy ngày các ông sụp đổ! Và cái ngày sụp đổ đó đă đến: ngày 30/4/1975. Người nữ cộng sản ấy chính là anh hùng Vơ Thị Thắng mà sau này đă được giao trọng trách Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch. Nụ cười bất khuất của chị đă đi vào văn, thơ và cả nhạc nữa để trở thành huyền thoại. Ca khúc Nụ cười chiến thắng của nhạc sĩ Trương Tuyết Mai:


Trong hàng ngũ chiến sĩ ra trận có cả các văn nghệ sĩ mà trong số đó có một người con của quê hương Cà Mau. Đó là nhạc sĩ Hoàng Bửu. Xin giới thiệu với cả nhà một bài hát hay của nhạc sĩ Hoàng Bửu viết ngay sau khi đất nước thống nhất (cuối 1975) nhưng thực ra nó đă được thai nghén từ những năm trước đó khi tác giả trong những cuộc hành quân đêm thực hiện mệnh lệnh tác chiến như anh đă tâm sự sau này. Bài hát đă được phát trên làn sóng VOV khi đó nhưng đă lâu rồi không phát nữa. Bài hát cho ta thấy lại lịch sử hào hùng của vùng đất Bạc Liêu cũng như của cả miền Nam đi trước về sau, bài hát Bạc Liêu quê tôi qua giọng hát NSUT Thu Phương:

1) Có ai về quê hương tôi Bạc Liêu
Hăy về thăm ruộng muối đang mặn t́nh
Ḷng biển ơi bao năm dậy sóng
Muối vẫn trắng trong như ḷng mỗi người
Đây biển lúa như t́nh mênh mông
Chân trời xanh in màu đất nước
Đây vầng khói đây chiều thân thiết
Đây quê hương yêu dấu vẫn vang câu ḥ.

2) Có ai về quê hương tôi Bạc Liêu
Hăy về thăm người má tóc bạc nhiều
Cả cuộc đời dâng cho Tổ quốc
Tám mươi năm chất nặng căm hờn
Người mẹ yêu nhưng ḷng bao la
Mẹ cùng con một đời chiến đấu
Diệt thù chung bảo vệ quê hương
Đây bao ngôi sao sáng tôi ca Việt Nam!

3) Ôi t́nh bác trong ḷng quê hương
Chẳng ǵ hơn độc lập tự do
Ước mơ – hôm nay xây bao ước mơ cho trẻ thơ
Hát vang – nay quê hương đang hát vang khúc quân hành
Vui đi trong nắng mới giữa trời tương lai
Nắng xuân đang tràn về…

4) Có ai về quê hương tôi Bạc Liêu
Hăy ṿng qua thăm xóm Mỹ Điền
Và về thăm Châu Hưng lũy thép
Đă bao năm đánh giặc giữ làng
Ôi Bạc Liêu đất mẹ hôm nay
Bao ṇng súng giữ trời xanh trong
Dù kẻ cướp muốn làm giông tố
Quê hương ta nay có ánh sáng bừng lên!

5) Ôi t́nh bác trong ḷng quê hương
Chẳng ǵ hơn độc lập tự do
Ước mơ – hôm nay xây bao ước mơ cho trẻ thơ
Hát vang – nay quê hương đang hát vang khúc quân hành
Vui đi trong nắng mới dưới trời tương lai
Nắng xuân đang tràn về…
Bạc Liêu!


Bạc Liêu quê tôi (sáng tác: Hoàng Bửu – thể hiện: NSNT Thu Phương):
http://www.mediafire.com/?4npq4mg0ajyx1c4

Vài nét về nhạc sĩ Hoàng Bửu:

Hoàng Bửu tên thật là Lê Hoàng Bửu. Năm 1963, khi chiến trường miền Nam đi vào giai đoạn ác liệt, Hoàng Bửu lúc đó mới bước vào tuổi 14. Sinh trưởng ở miền đất tận cùng heo hút mà năm tháng thanh xuân lại lọt thỏm vào tâm điểm của cuộc chiến tranh bi hùng và khốc liệt, rời quê hương, anh tham gia vào đoàn văn công giải phóng của huyện.

Mùa nước rong trên mũi Cà Mau, bông tràm trắng rừng U Minh, hạt muối trắng Bạc Liêu và làng Sen xứ Nghệ - quê hương đă trở thành điểm nhấn trong nhiều ca khúc của nhạc sĩ Hoàng Bửu. Với anh, quê hương là nguồn cảm hứng vô tận. Từ người giỏi đàn mandolin đến đàn guitar, Hoàng Bửu trở thành nhạc công trụ cột của các đoàn văn công giải phóng ở Cà Mau và văn công giải phóng Quân khu 9 đi phục vụ khắp chiến trường Tây Nam Bộ.

Nhiều người thắc mắc rằng, quê Hoàng Bửu ở kinh Ông Đơn, xă Thanh Tùng, huyện Đầm Dơi, thế nhưng trong tác phẩm đầu tay anh lại viết rằng: "Bạc Liêu quê tôi"? Anh mỉm cười: "Quê hương của dân tộc Việt Nam vốn dĩ rộng lớn hơn quê của riêng một cá nhân nào đó. Đêm đêm hành quân qua ruộng muối, đồng lúa trĩu bông và tiếp xúc với những người dân quê mà ḷng tôi xao xuyến và tự nhủ làm thế nào để hát về quê hương, về hạt muối nặng t́nh. Ca khúc "Bạc Liêu quê tôi" ra đời trong hoàn cảnh đó" - nhạc sĩ trầm ngâm nhớ lại

Kư ức tuổi thơ và những hy sinh của đồng đội và đồng bào mà anh đă chứng kiến qua cuộc chiến tranh đă trở thành nỗi ray rứt và bật lên thành những giai điệu ngọt ngào, xao động. Nốt nhạc, lời ca nói hộ cho nhiều người về ngày quê hương ḥa b́nh thống nhất, về cuộc sống áo ấm, cơm no. Từ trái tim ḥa nhịp với cuộc sống mới, anh viết về mùa xuân phố phường ngập nắng, đầy hoa và trở thành những cung bậc đẹp trong ca khúc "Mùa xuân chim én bay" được hát vang trong những ngày đầu thống nhất đất nước.


Ca khúc "Thăm thẳm chiều quê" th́ thầm như lời tâm sự: "Đă xa rồi một thời thơ trẻ/ Xa miền quê cái xóm nhỏ bên sông/Xa miền quê con cúm núm kêu đồng/Xa tiếng rừng xào xạc đêm đêm/Ở đó có mẹ tôi bao năm ngồi đan lưới/Bên ánh đèn dầu chập chờn đêm thâu". Ca khúc của Hoàng Bửu gợi nhớ bao h́nh ảnh đẹp khắp các miền quê. Như mùa bông điên điển trong "Quê tôi Đồng Tháp", mùa khóm ở vùng đất phèn mặn Cà Mau trong ca khúc "Đêm Thới B́nh", mùa con ong làm mật ở rừng tràm qua ca khúc "Trở lại U Minh". Mạch quê hương luôn lưu chảy không chỉ ở Cà Mau - quê anh mà được nhân lên qua các vùng miền với các ca khúc như "Về thăm Bảy Núi", "Hà Tiên biển hát", "Quê tôi Đồng Tháp" và xa hơn là: "Gửi Đà Lạt", "Nhớ Bắc", "Hà Nội đêm thức" và "Nhớ Điện Biên"...

Mấy mươi năm xa quê Đầm Dơi, dù làm ǵ, đi đâu, về đâu, câu hát mẹ ru con, con b́m bịp kêu nước lớn, nước ṛng, mùa trái mắm trên sông, mùa bông bồn bồn rụng trắng luôn luôn theo anh suốt những chặng đường. Khi viết về nơi chào đời, chất liệu đó được biến thành tiết tấu, tiết điệu vừa d́u dặt, khoan thai vừa khát khao cháy bỏng. Nó không chỉ là t́nh cảm thiết tha mà có lúc ngân vang, hào hùng như áng sử thi về các mẹ, các chị trong đoàn quân đi đấu tranh trực diện năm nào. "Nhớ Đầm Dơi" - một sự nâng niu, chắt chiu dường như cả cuộc đời Hoàng Bửu dành riêng để dâng tặng cho quê mẹ.

Trong các ca khúc của anh, nhiều người vẫn nhắc "Con về hát giữa Làng Sen". Giới chuyên môn đánh giá đây là đỉnh cao của đề tài về tấm ḷng kính yêu vô hạn của những người con quê hương Cà Mau với Bác Hồ. Với tất cả tấm ḷng thành kính của ḿnh, của đồng bào, chiến sĩ miền Nam nơi tận cùng Tổ quốc về Bác Hồ kính yêu, Hoàng Bửu bắt đầu từ cảm xúc quê hương.

...Trong cuộc đời hoạt động nghệ thuật mặc dù phải kiêm nhiệm những công việc quản lư Nhà nước với vai tṛ là Giám đốc Trung tâm Văn hóa rồi Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin..., nhạc sĩ Hoàng Bửu vẫn ưu ái dành thời gian cho sáng tác.

Với hai tác phẩm nhạc giao hưởng "Bài ca Đất Mũi" và "Đảo không xa bờ" và 50 ca khúc khác là cả một quá tŕnh lao động nghệ thuật quên ḿnh của người nghệ sĩ vốn một thời "tay đàn - tay súng" Hoàng Bửu.

Sau khi tốt nghiệp Đại học tại Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh vào năm 1986, nhạc sĩ Hoàng Bửu đă được sang Liên Xô để tu nghiệp. Chính khoảnh khắc xa quê, xa người thân, bạn bè đă tạo cho anh nhiều cảm xúc để anh viết lên những ca khúc vừa dịu êm, vừa khát khao cháy bỏng khi nhớ về quê hương của ḿnh.

Trở về quê hương, với không khí thân quen, cảnh vật gần gũi đă khơi dậy nhiều cảm xúc trong tâm hồn của người nhạc sĩ này. Dịu dàng Cà Mau, Đảo không xa bờ, hay Hát trên mũi đất phù sa ,…được ra đời kể từ đó. Khi cảm nhận về tác phẩm của anh, nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn đă viết:“Đó là những âm điệu được bắt nguồn từ hơi thở của những câu ḥ, điệu lư, ca dao,…dạt dào mênh mông sông nước, trải rộng t́nh người, thấm đẫm t́nh đời và giàu chất nhân văn…”

Khi nói về khuynh hướng sáng tác và tác phẩm của ḿnh, nhạc sĩ Hoàng Bửu chân t́nh chia sẻ: "Tôi nghĩ nói những điều mới th́ tôi không dám nghĩ tới. Tất cả để cho công chúng đánh giá thôi. Ḿnh nghĩ là cố gắng viết theo cảm xúc của ḿnh!"

Chính tính khiêm tốn, đặc biệt luôn biết sáng tạo và đóng góp tích cực v́ sự nghiệp âm nhạc nước nhà mà năm 2001 anh đă vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú và đón nhận nhiều huân chương, huy chương cao quư khác. Với anh, nhịp đập con tim chính là nhịp đập của quê hương, là kư ức đă in sâu trong tiềm thức. Và âm nhạc sẽ lưu giữ, khơi gợi để làm sống lại những cảm xúc, t́nh cảm chân thành đó.

Năm nay ngoài 60 tuổi, với cây đàn, người nhạc sĩ tài hoa này vẫn c̣n khát khao gửi t́nh người, t́nh đất, t́nh quê vào nhạc. Và nhiều thính giả vẫn khát khao trông đợi những giai điệu nồng nàn bởi t́nh yêu dành cho âm nhạc của anh. (Nguồn: http://www.baocamau.com.vn và http://www.vtvcantho.vn)

Posted by: VuHungAnh May 6 2012, 11:48 AM



Kỷ niệm 58 năm chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ (7/5/1954 – 7/5/2012) chúng ta cùng nghe lại bản anh hùng ca Chiến thắng Điện Biên nổi tiếng của nhạc sĩ tài danh Đỗ Nhuận:

Chiến thắng Điện Biên (Đỗ Nhuận) Đoàn ca nhạc Đài TNVN:


Giải phóng Điện Biên
Bộ đội ta tiến quân trở về
Giữa mùa (này) hoa nở
Miền Tây Bắc tưng bừng vui
Bản Mường xưa nương lúa mới trồng
Ḱa đàn em bé giữa đồng nắm tay x̣e hoa

Dọc đường chiến thắng ta tiến về
Đoàn dân công tiền tuyến vẫy chào pháo binh vượt qua
Súng đại bác quấn lá ngụy trang
Từng đàn bươm bướm trắng dỡn lá ngụy trang

Xiết bao sướng vui từ ngày lên Tây Bắc
Đồng bào nao nức mong đón ta trở về
Giờ chiến thắng ta đă về
Vui mừng đón chúng ta tiến về

Núi sông bừng lên!
Đất nước ta sáng ngời
Cánh đồng Điện Biên
Cờ chiến thắng tưng bừng trên trời!

2) Giải phóng miền Tây
Bộ đội ta đă mau trưởng thành
Giữa trận Điện Biên Phủ
Càng thêm quyết tâm ở trên!

Đổ mồ hôi phá núi bắc cầu
Vượt rừng qua suối đắp đường thắng lợi về đây
Phương châm đánh chắc ta tiến lên
Lực lượng như băo táp
Quân thù mấy cũng phải tan

Vang lừng tiếng súng khi mừng công
Thỏa ḷng ta dâng Bác bấy lâu chờ mong
Xiết bao sướng vui nh́n đồng quê phơi phới
Nông dân hăng hái khi chúng ta trở về
Ruộng đất chúng ra đă về
Vui mừng đón chúng ta tiến về

Chiến sĩ Điện Biên!
Thế giới đang đón mừng
Chiến dịch đại thắng lợi
Góp sức xây dựng ḥa b́nh!


Chiến thắng Điện Biên Phủ là chiến thắng vĩ đại tiếp tục khẳng định chân lư: Dân tộc Việt Nam sẽ chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược dù cho chúng có hùng mạnh đến đâu, tào bạo và ác độc đến đâu đi nữa. Kể từ đó trở đi Điện Biên Phủ đă trở thành niềm tự hào của dân tộc ta và của nhân dân tiến bộ toàn thế giới trong cuộc chiến đấu với thực dân và đế quốc.

Và cũng kể từ đó, Điện Biên Phủ đă trở thành một danh từ chỉ một trận huyết chiến lớn có tính chất quyết định chiến cuộc của một cuộc chiến tranh. Đó chính là vào cuối 1972, trong cuộc đọ sức trên không trong 12 ngày đêm trên bầu trời Hà Nội và các tỉnh thành phố của miền Bắc, chúng ta đă bẻ găy trận chiến phá hoại bằng pháo đài bay B52 của đế quốc Mỹ, làm nên một trận Điện Biên Phủ thứ hai – trận Điện Biên Phủ trên không!

Ngày nay, Điện Biên đă đi vào tâm tư t́nh cảm và cuộc sống của chúng ta như một trong những giá trị tinh thần và vật chất hiện hữu và sống động:

T́nh yêu Điện Biên (sáng tác: Thuận Yến – thể hiện: NSUT Hoàng Chè):


1) Hỡi đồi cao A1! Hỡi đồi cao Him Lam!
Bên ḍng sông Nậm Rốm, bồi hồi bàn chân qua
Sông từng dăng lửa cháy, gió thổi bờ lau khô

Lối vào hầm Đờ Cát - giữa đồng ngô xanh tươi
Một căn hầm đổ nát, như màu hoang đất bùn
Đồng Mường Thanh reo vui, bốn bề dâng sóng lúa!

Lên Điện Biên hôm nay, ḷng như say điệu hát!
Có mùa hoa ban nở - trên nẻo rừng tôi qua
Có t́nh yêu muôn thuở - là Điện Biên quê ta!

2) Dẫu thời gian qua rồi! Măi ḷng tôi không nguôi!
Mang t́nh yêu Điện Biên dọc đường dài kháng chiến
Qua Trường Sơn hùng vĩ tới rừng xanh U Minh

Núi rừng c̣n thay lá, măi Điện Biên xanh tươi
Và nông trường nhà máy đă mọc trên đất này
Mà ngày xưa tôi mơ trước giờ vui chiến thắng!

Lên Điện Biên hôm nay ḷng như say điệu hát!
Có mùa hoa ban nở trên nẻo rừng tôi qua
Có t́nh yêu muôn thuở là Điện Biên quê ta!


Nghe NSUT Hoàng Chè hát về t́nh yêu Điện Biên, ta không khỏi bùi ngùi xúc cảm như chiến thắng Điện Biên mới diễn ra ngày nào! Thực sự Điện Biên đă đi vào tim mỗi chúng ta và trở thành một phần linh hồn của dân tộc, trở thành một địa danh lịch sử đáng tự hào nhất - nơi có những di tích giờ đă hiển hiện bên nương lúa, nông trường và nhà máy như anh chiến sĩ đă từng mơ sẽ có ngày mọc lên ở nơi đây trước giờ ăn mừng chiến thắng Điện Biên năm xưa!

Posted by: VuHungAnh May 17 2012, 04:37 PM


Kỷ niệm lần thứ 122 ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh




1) Một vùng huyền thoại

Một ngày tháng Tư 2012. Trong khi chờ đợi đến ngày cùng các thành viên của Nhóm công tác của NCM tới thăm nhạc sĩ Hồ Bắc, đồng thời lại nhân có mấy ngày được giải phóng khỏi công việc, người nghe nhạc bèn rong ruổi mấy dặm đường phía tây Thủ đô. Như dự định từ trước, người nghe nhạc (NNN) nhằm hướng Sơn Tây mà tiến. Quốc lộ 32 đầy bụi và bùn cùng ổ gà ổ voi xưa, giờ đă biến mất. Thay vào đó là một quốc lộ thênh thang, có đoạn rộng cả trăm mét, cứ thế dông thẳng đến thành phố Sơn Tây. Hơn 40 cây số mà vèo một cái là hết. Đi tiếp hai mươi cây số nữa với ư định thăm nơi định cư của tổ tiên, ngó sang bên đường NNN chợt nhận ra một địa danh nổi tiếng đă đi vào bài hát mà bấy lâu nay ước ao có ngày được đến, nay bỗng đâu bất ngờ hiện ra ngay trước mặt. Ấy là Di tích Cây đa Bác Hồ.

Cổng di tích:


Bia giới thiệu di tích:


Người nghe nhạc dừng xe, đẩy cánh cổng khép hờ, bước vào. Tịnh không một bóng người. Chỉ nghe tiếng chim hót phía xa. Khung cảnh cây cối xanh tươi mướt mát, hai bên là hồ nước có những lá sen và những bông sen hồng, sơn thủy thật là hữu t́nh. Bỗng đâu trong tâm trí văng vẳng những câu hát của một bài ca về mảnh đất trăm nghề:

Anh lên Ba V́ cho em nhắn hỏi
Dâu đồi mùa nay đă đẹp lắm chưa?
Sông Đáy sông Hồng đôi ḍng nước chảy
Sóng vỗ đôi bờ xanh ngắt dâu xanh…


Con đường trải xi-măng dẫn thẳng đến g̣ đất cao trên đó có một cây đa cổ thụ lớn đang tỏa bóng mát bao trùm một vùng g̣ khá rộng. Cây đa cành lá rậm rạp tươi tốt ngay cả vào cái mùa khô không một cơn mưa thế này quả là điều lạ. Phía trước là tấm bia ghi lời Bac dạy trong dịp Tết trồng cây năm nào: “V́ lợi ích mười năm trồng cây – V́ lợi ích trăm năm trồng người”:

Cây đa Bác trồng:




Không chuẩn bị trước, phía bên ngoài lại không một ai bán hương hoa, NNN đành gom mấy nén hương c̣n sót lại bên bát hương, được tất cả sáu nén, châm lửa và khấn vái, thỉnh lên hương hồn Bác những ước nguyện như thường lệ vào những lúc thế này. Mong Bác phù hộ độ tŕ cho quốc thái, dân an, cho sức khỏe và kiến thức đặng phục vụ cộng đồng đến mức cao nhất….

Gió hây hây thổi, rặng thông vi vút. Nắng hanh ngoài kia đang gắt nhưng trong này, dưới những tán cây ken dày, không khí vẫn mát dịu. NNN tản bước xung quanh. Rất nhiều cây lưu niệm do các lănh đạo Đảng và Nhà nước đă đến thăm nơi này trồng như góp thêm bóng mát vào với cây đa Bác trồng năm nào. Không mang máy ảnh to, chỉ có máy ảnh du lịch, NNN bấm mấy kiểu ảnh để lưu lại không gian nơi này.

Những cây lưu niệm do lănh đạo Đảng và Nhà nước trồng:




Chầm chậm quay trở ra, không gian vẫn ắng lặng. Có tiếng cá đớp dưới những chiếc lá sen nổi trên mặt hồ nước rộng… Ôi thôi, cổng đă khóa từ bao giờ. Thế là thế nào nhỉ? Lúc vào không có ai cơ mà. Đường vắng tịnh không có người lại qua. Không biết gọi ai bây giờ nhỉ? Chẳng khéo hôm nay ngủ lại ở đây mất. Ôi, lần đầu văng cảnh quê nhà đấy ư? Bỗng có mấy cháu nhỏ đi học về đang líu ríu chở nhau trên xe đạp đi ngang qua. Các cháu th́ biết được cái ǵ nhỉ? Thôi, làm hơi thuốc đă vậy.

Chừng một giờ sau có tiếng lọc cọc phía xa. Một ông cụ quần ống thấp ống cao nom lam lũ đang tiến lại. Lại gần th́ thấy cụ khá quắc thước, chắc cũng gần 80 rồi. Thôi, cứ hỏi ông cụ xem thế nào đă, mặc dù cũng chả có mấy hy vọng.

- Cháu chào bác ạ. Bác ơi, bác có biết ai trông giữ di tích này không ạ? Cháu hôm nay về thăm quê, đi ngang qua đây gặp di tích nên đă vào thăm nhưng bị khóa ở đây, không biết phải gặp ai bây giờ hả bác?

- À ra thế! – Ông lăo mỉm cười – Tôi ra đây cũng là v́ việc này đấy. Ban năy có một anh gác ở đây thấy người vào mà không hỏi han ǵ cả, sợ người ta vào phá phách nên đă khóa lại về báo tôi. Giờ là đổi ca trưa, tôi ra thay đây.

- Vậy là bác canh gác di tích này đấy ạ. May mắn quá. – Người nghe nhạc thở ra một hơi rơ dài. – Cháu xin lỗi bác. Hôm nay cháu vào mà không thấy ai nên không biết thưa bẩm ở đâu. Vậy nên đă mạn phép bác vào thăm di tích.

- Thôi được rồi, được rồi. Anh nói thế là được rồi. Nh́n thấy anh thế này tôi biết không phải người xấu. – Vừa nói ông cụ vừa cập rập mở khóa. – Anh cũng thích thăm thú di tích này ư?

- Đây là cây đa Bác Hồ mà bác. Cây đa này đă đi vào thơ ca nhạc họa rồi ạ. Có một bài hát rất hay viết về chính cây đa này đấy ạ. – Trong tâm trí NNN văng vẳng giai điệu của bài Dưới bóng đa Bác Hồ sáng tác của Nguyễn Hữu qua giọng hát ngọt ngào của nghệ sĩ Thu Hiền cuối những năm 70 thế kỷ trước:


- Phải rồi. Anh chắc đă xem tấm bia ngoài kia th́ đă biết rồi. Cây đa này được Bác Hồ trồng đúng vào ngày mồng 1 Tết Kỷ Dậu, nhằm ngày 18 tháng 2 năm 1969. Gần bảy tháng trước ngày bác mất. Khu vực này là xă Vật Lại thuộc huyện Ba V́, tỉnh Hà Tây. Đây là cái cây cuối cùng mà Bác đă trồng trước khi Người đi xa. Anh nên biết là không phải tự nhiên mà Bác trồng cây ở đây đâu. Hôm Bác trồng cây đa này tôi cũng có mặt. Nom Bác lúc ấy đă khá mệt mỏi rồi, bước chân không c̣n nhanh nhẹn như những lần trước bác về thăm Ba V́. Vậy nhưng Bác vẫn tự tay vun gốc và tưới cây. Măi về sau này người ta mới biết nơi đây chính là một long mạch quan trọng trong hệ thống long mạch của Thủ đô. Trồng cây vào vị trí này sẽ rất tốt, rất vượng phát cho thế nước. Trong hệ thống long mạch ấy, long mạch ở đây là vị trí cuối cùng ở phía nam. Ư Bác là luôn nhớ miền Nam….

Giọng ông cụ chậm dần. Nh́n sang thấy hai mắt ông lăo đỏ hoe. Một giọt nước mắt lăn dài trên g̣ má nhăn nheo. Ông cụ đưa tay áo lên lau mắt. NNN vẫn lặng yên, chân bước theo ông lăo vào phía trong.

- Nơi đây vào dịp lễ tết rất đông người đến tham quan. Có nhiều người nước ngoài cũng đến đây. Lắm lúc họ xin tôi cho vào nghỉ trưa. Tôi cũng chả chối từ, c̣n đề nghị xă làm hai dăy nhà ở hai bên lấy chỗ nghỉ cho khách. Thế là họ vào ngồi nghỉ, giở cơm nước ra ăn, gói ghém gọn gàng rồi đi. Họ cũng chụp nhiều ảnh lắm, ai cũng bảo ở đây yên tĩnh và phong cảnh đẹp…

- Bác diễn giải như hướng dẫn viên chuyên nghiệp vậy. Không biết bác đă làm công việc này lâu chưa?

- Tôi trông coi ở đây đă 35 năm nay rồi. Trước c̣n khỏe th́ không vấn đề ǵ, mưa nắng sớm tối tôi đều sẵn sàng mở cổng phục vụ. Sau đến tuổi về hưu nhưng v́ ở xă chẳng ai nhận trông nên tôi lại xin trông coi, như là niềm vui ấy mà. Thế anh c̣n định đi đâu nữa?

- Cháu định đi một vài nơi xung quanh đây nữa…

- Tôi khuyên anh nên lên đỉnh Ba V́. Ở đấy có đền thờ Bác Hồ trên ngọn núi cao nhất ấy…

Tạm biệt ông lăo, NNN lại lên đường. Nhằm hướng Vườn Quốc gia Ba V́ mà tiến. Qua khu du lịch Suối Hai, đến Ao Vua, ṿng sang VQG Ba V́. Đường lên núi uốn lượn quanh co, may mà trải nhựa phẳng rất tốt. Mây bay lừng lững dưới chân, có lúc tấp cả vào mặt. Ban năy th́ nóng nực, c̣n bây giờ th́ lạnh cóng. Mười hai km mà sao lâu quá. Rồi cuối cùng cũng đến nơi. NNN rẽ phải lên đền Thượng trước. Những bậc thang dài và cao làm thở không ra hơi. Xuống rồi lên đền thờ Bác mà thoáng ngại. Thế nhưng mặc dù đường lên đỉnh núi đặt điện thờ Bác dài gần 2 km nhưng lại vô cùng dễ đi v́ bậc thấp. NNN đi liền một lèo lên tận đỉnh núi. Không gian u tịch, chỉ nghe tiếng gơ mơ mà không thấy một bóng người. Chiếc tháp cao 12 tầng từ xa nom bé tư thế mà khi vào trong sao mà rộng thế. NNN lui lại và sang điện thờ Bác nằm cách đó một quăng ngắn. Lại thắp hương và lầm rầm khấn Bác…

Tháp cầu an trên đỉnh núi Ba V́:


Bên trong điện thờ Bác:


Đền thờ Bác trên đỉnh Ba V́:


Chiếc tháp cầu an trên đỉnh Ba V́ nh́n từ bên dưới chỉ như một đầu tăm:


Trên độ cao 1400 mét so với mực nước biển, nơi đây chỉ thấp hơn Sa Pa 1600 mét một tư tẹo. Bác Hồ được nhân dân thờ phụng nơi đây dường như rất gần trời cao. Tương truyền nơi đây lưu giữ một phần thi hài Bác khi các bác sĩ làm thủ tục ướp thi hài. Bởi vậy chẳng phải ngẫu nhiên thời gian trước đây rộ lên chuyện trục tâm linh nối Thăng Long với chân núi Ba V́ này. Chắc là để nối liền các long mạch cho vận mạch thông suốt đây. C̣n rất nhiều điều chưa biết và cũng chưa hay khi nói ra vào lúc này. Chỉ biết rằng, hiển nhiên Bác của chúng ta đă vào hàng các vị Thánh của dân nước Việt ta rồi đấy.

Ba V́ – Hà Tây, thật là một vùng huyền thoại.

2) Việt Nam – Hồ Chí Minh rực sáng muôn đời (Thuận Yến) Kiều Hưng:
http://www.mediafire.com/?4fmsf6hxi9p10dk

Đây là bản thu chất lượng tốt hơn bản thu đă giới thiệu trước đây. Mong BQT baicakhongquen và baicadicungnamthang sớm cập nhật để phục vụ bạn nghe nhạc tốt hơn.

Posted by: nobita82 May 17 2012, 05:10 PM

Chiều nay cơ quan em vừa tổ chức Lễ kỉ niệm 122 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, em được xem 2 bộ phim tài liệu khá hay, một phim nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ở Nga (cụ thể là Saint Petersburg), một phim nói về Chủ tịch Hồ Chí Minh khi ở Pháp.

Posted by: VuHungAnh Jul 18 2012, 04:46 PM


Ngày hôm nay hai nước Việt Nam – Lào sẽ kỷ niệm trọng thể 50 năm thiết lập quan hệ ngoại giao (5/9/1962 – 5/9/2012) và 35 năm kư Hiệp ước Hữu nghị Hợp tác (18/7/1977 – 18/7/2012). Lễ kỷ niệm sẽ mở màn cho hai tháng liên hoan đoàn kết hữu nghị Việt Lào suốt từ nay tới giữa tháng 9/2012.

Trong bài diễn văn phát trên VTV1 tối hôm qua, TBT Nguyễn Phú Trọng đă nói: Trong lịch sử thế giới hiện đại chưa bao giờ và chưa ở đâu có mối quan hệ hữu nghị nào đặc biệt như vậy, chưa bao giờ có hai nước anh em láng giềng lại có t́nh hữu nghị thắm thiết đến như thế.

Điều đó không phải tự nhiên mà có. Trong lịch sử của mỗi nước, hai dân tộc anh em Việt Lào chưa bao giờ mâu thuẫn hay xung đột nhau cả. T́nh h́nh có khác với các nước láng giềng khác của Lào: Myanmar, Trung Quốc hoặc Thái Lan trong lịch sử đă từng gây hấn hoặc xâm lược Lào, đặc biệt là Thái Lan đă nhiều lần đưa quân xâm lược Lào trong thời gian của những chế độ phong kiến trước đây. Riêng Việt Nam th́ không, chưa có bất cứ vụ việc nào xảy ra giữa hai nước trong suốt mấy ngàn năm sống bên nhau.

Trong sự nghiệp đấu tranh chống Pháp rồi chống Mỹ, một may mắn lớn của cả hai dân tộc là đă được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Cayxon Phomvihan dẫn đường và d́u dắt trong t́nh đoàn kết anh em bền chặt chung chiến hào chống kẻ thù chung cho đến ngày toàn thắng. Mối t́nh hữu nghị keo sơn trước mọi thử thách và thời gian ấy đă được Chủ tịch Hồ Chí Minh tổng kết trong một vần thơ nổi tiếng:

Việt Lào hai nước chúng ta
T́nh sâu hơn nước Hồng Hà – Cửu Long!


Ư nghĩa của mối t́nh hữu nghị Việt Lào trong ngày hôm nay càng có trở nên to lớn hơn bao giờ hết. Trong t́nh h́nh thế giới và khu vực đang ngày càng trở nên bất ổn, an ninh chung đang bị đe dọa, chủ nghĩa dân tộc cực đoan đang nổi lên ở khắp mọi nơi và có chỗ đang chuyễn dần sang chủ nghĩa đế quốc th́ mối t́nh thủy chung trong sáng Việt Lào càng ngời sáng đẹp đẽ như tấm gương soi mẫu mực cho quan hệ quốc tế hiện nay.

Dựa trên vần thơ của Bác, nhạc sĩ Trần Chương đă sáng tác bài hát rất hay với đầu đề là nguyên cả vần thơ ấy, một cái tựa đề dài nhất nhưng vẫn đặc biệt súc tích:

Việt Lào hai nước chúng ta, t́nh sâu hơn nước Hồng Hà – Cửu Long (Trần Chương) Kiều Hưng & Lê Dung:



Thương lả thương nhau
Thương lả thương nhau
Thương lả thương nhau

Thương nhau mấy núi cũng trèo
Thương nhau mấy núi cũng trèo

Mấy sông cũng lội (là) mấy sông cũng lội
Mấy đèo cũng qua (là) mấy đèo – mấy đèo cũng qua

Việt – Lào hai nước chúng ta – hai nước chúng ta
Việt – Lào hai nước chúng ta – hai nước chúng ta

T́nh sâu (mà) hơn nước
T́nh sâu, t́nh sâu (mà) hơn nước
Hồng Hà (chứ) Hồng Hà, Hồng Hà – Cửu Long
(Chứ) Hồng Hà, Hồng Hà – Cửu Long


Ngàn đời xanh tươi!

Mấy h́nh ảnh về đất nước Lào mà VHA đă chụp cách đây vài năm khi sang thăm Lào:

Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo phía Lào:


Trên quảng trường Thạt-luổng:








Bảo tàng Cayxon Phomvihan:


P/S: Mong vnmaths sửa lại tên cho bài hát này là: “Việt Lào hai nước chúng ta, t́nh sâu hơn nước Hồng Hà – Cửu Long”

Posted by: VuHungAnh Jul 26 2012, 06:27 PM

Kỷ niệm 65 năm ngày Thương binh Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2012)

Chúng ta cùng nghe lại một số bài hát viết về người chiến sĩ trên trận tuyến chống quân thù mà trong đó có những anh hùng đă anh dũng hy sinh trong cuộc chiến chống bọn bành trướng bá quyền phương Bắc:

Bài hát Bài ca trên đỉnh P̣ Hèn, một sáng tác của Thế Song qua giọng hát Lê Dung ca ngợi Hoàng Thị Hồng Chiêm, người con gái đất Mỏ anh hùng:



Cũng ca ngợi gương liệt nữ Hoàng Thị Hồng Chiêm, cô mậu dịch viên yêu nước đă hy sinh trong trận đánh trả bọn bành trướng dă man, nhạc sĩ Dân Huyền có bài Bông hoa Hồng Chiêm được thể hiện qua giọng hát Kiều Hưng:



Bài hát Chúng tôi là đồng đội của Lê Đ́nh Chinh (Phạm Tuyên):



Và đây là người chiến sĩ trên quần đảo thân yêu của Tổ Quốc, bài hát Trường Sa anh đứng đó (nhạc Văn An, lời thơ Nguyễn Đức Mậu) qua giọng hát Xuân Thanh:



Biển đảo của Tổ Quốc là máu xương của cha ông gửi lại, là thiêng liêng, là tiền đồ của dân tộc. Hăy nghe những âm thanh của cơi tâm linh dân tộc vọng về qua bài hát Gửi đảo Trường Sa (Thế Công):



Trường Sa đó, Hoàng Sa c̣n xa tít tắp hơn. Xa không phải v́ quá xa mà là v́ kẻ thù đă đánh chiếm mất Hoàng Sa của ta rồi. Chúng ta kiên tŕ đ̣i lại bằng được Hoàng Sa về với Tổ Quốc ta. Sự kiên tŕ của ta là không thể có ǵ sánh bằng dù có phải trải qua bao nhiêu thế hệ đi nữa:



Dường như dân tộc ta chưa bao giờ có ḥa b́nh dài lâu, mà chỉ có những quăng nghỉ để rồi lại bước vào cuộc chiến mới? Nếu có phải như vậy th́ mới bảo vệ và giành lại non sông gấm vóc mà cha ông đă để lại th́ chúng ta cũng quyết tâm lên đường! Bài hát Từ đất Tổ lên đường, sáng tác Nguyễn An:



Nếu Tổ quốc cần, VuHungAnh tin rằng sẽ có nhiều cựu chiến binh cũng sẽ mặc lại bộ quân phục cũ để lên đường cùng bạn bè và đồng đội như trong ca khúc Lời tạm biệt lúc lên đường (Vũ Trọng Hối) sau đây:


Posted by: VuHungAnh Aug 19 2012, 11:19 PM

Mười Chín Tháng Tám


Mười Chín Tháng Tám – chớ quên là ngày khởi nghĩa!



Phải, thế là đă mùa Thu. Mùa thu như nhắc nhở ta nhớ lại mùa thu này 67 năm về trước. Ngày 19/8/1945 ở Hà Nội là ngày cướp chính quyền về tay nhân dân. Ngày ấy, khi đoàn biểu t́nh của quần chúng nhân dân lao động dưới sự lănh đạo của Đảng, từ hướng Văn Điển (đường Giải Phóng ngày nay) đổ về Hà Nội th́ trong ḍng người có nhạc sĩ Xuân Oanh. Ông nhập vào ở khu Cửa Nam, trong ḷng hừng hực, trái tim rộn ràng, một giai điệu mới mẻ h́nh thành ngay tắp lự. Đoàn người hùng dũng bước đi. Câu ca đầu tiên từ ông khởi lên và như ḍng chảy tuôn trào, câu này nối tiếp câu kia. Ông hát trước, đoàn người hát theo ông.

Cứ thế, từ Cửa Nam về đến Nhà hát Lớn là trọn bài. Mười chín tháng Tám không chỉ được người đi biểu t́nh hát trong ngày khởi nghĩa mà sau đó c̣n vang rền trên khắp 36 phố phường Hà Nội suốt những ngày tháng Tám ấy. Sau ngày khởi nghĩa bài hát mới được Xuân Oanh kư âm lại và được khắc gỗ in ra như những truyền đơn rải khắp Hà Nội và các tỉnh lân cận.

Toàn dân Việt Nam đứng đều lên góp sức một ngày
Thề đem xương máu quyết ḷng chiến đấu cho tương lai

Mười Chín Tháng Tám khi quốc dân căm hờn kêu thét
Tiến lên cùng hô mau diệt tan hết quân thù chung

Mười Chín Tháng Tám ánh sao tự do đem tới
Cờ bay muôn nơi tung ánh sao vàng
Máu pha tươi hồng trên lá cờ đi khắp chốn giang sơn

Người Việt Nam đều thống nhất reo vang lời thề
Mười Chín Tháng Tám chớ quên là ngày khởi nghĩa
Hạnh phúc sáng tô non sông Việt Nam

Ngày 19/8 năm nay trôi qua như bao ngày b́nh thường khác. Nhịp sống cứ trôi đi hổi hả với biết bao nỗi lo toan. Con băo số 5 mang tên Kaitak vừa tràn qua Hà Nội đă để lại một chút thất thần trên những gương mặt người đâu đó. Nhiều đường phố có nhiều đoạn nước ngập chưa rút hết. Ngay trước ṭa nhà Keangnam cao nhất Hà Nội vẫn c̣n là một biển nước mênh mông. Bất chợt một sắc thái nhếch nhác của Thủ đô bày ra khiến cho ta chạnh ḷng... Nếu như lo toan về nền kinh tế đất nước là nỗi lo cả năm cả đời, nỗi lo về t́nh h́nh văn hóa đi liền theo đó là nỗi lo nhiều năm và nỗi lo về toàn vẹn lănh thổ của Tổ quốc là nỗi lo nhiều chục năm... th́ mong sao mỗi người dân VN ta cũng hăy nhớ ngày 19/8 như hôm nay đây là ngày Cách mạng thành công. Ngày khai sinh ra mọi khai sinh của đất nước, của mọi nhà.

Posted by: VuHungAnh Aug 29 2012, 10:40 AM


67 năm nước Việt Nam mới


Sáu mươi bảy năm về trước, ngày 2/9/1945 nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa, nay là CHXHCN Việt Nam, ra đời. Đó là mốc son đánh dấu nước Việt Nam mới từ chế độ phong kiến tiến thẳng lên chủ nghĩa xă hội không qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa. Về sự kiện này có rất nhiều ca khúc đă phản ánh xuất sắc không khí tưng bừng hồ hởi của toàn dân tộc trong ngày khai sinh đất nước. Ta hăy nghe lại một bản tráng ca như thế, bài Ba Đ́nh nắng (1948) – sáng tác nhạc của Bùi Công Kỳ (1919-1985), phổ thơ Vũ Hoàng Địch (1923-2009), qua sự thể hiện của nghệ sĩ Trần Khánh và đoàn ca nhạc Đài TNVN vào năm 1957:


Nh́n non sông gấm vóc của chúng ta một dải từ địa đầu Lũng Cú đến mũi Cà Mau bao gồm cả biển Đông rộng lớn với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa yêu dấu, trong mỗi chúng ta bỗng cảm xúc thân thương yêu mến trào dâng ngập ḷng. Hăy đi đến tận cùng cảm xúc ấy qua một sáng tác của Hồ Bắc, nhạc sĩ lăo thành mà Tổ công tác của NCM hân hạnh được đến thăm mới đây, hợp xướng Ca ngợi Tổ Quốc qua thể hiện của đoàn ca nhạc Đài TNVN cùng toàn văn bản nhạc của hợp xướng này được viết cho bốn bè do chính tác giả trao tặng cho Tổ công tác:


























Posted by: VuHungAnh Sep 2 2012, 10:36 PM

Ngày Quốc Khánh b́nh yên

Ngày 2/9/2012 năm nay thật b́nh yên. Nhân dân cả nước, người náo nức sum họp gia đ́nh, người nô nức du lịch đó đây. Thật là một cái Tết Độc Lập yên vui, niềm vui đến với mọi người và mọi nhà. Ḥa chung niềm vui với bao người, người nghe nhạc (NNN) cũng lên đường t́m kiếm niềm vui cho ḿnh. Người người đi lại đông đúc quá, cứ đổ măi về thành phố biển không dứt, NNN quyết định rời xa quốc lộ mà rẽ vào một người bạn quen nơi thôn dă.

Chén rượu được mấy tuần. Câu chuyện dần trôi về chiều. Rồi bóng đêm cũng buông. Trên màn h́nh TV, chương tŕnh “Trường Sa mến yêu của Việt Nam ta” đang trực tiếp lên sóng. Phải, thật là rất phải khi nói về Trường Sa vào ngày này v́ khi cả nước hân hoan thế này mà không nghĩ về, nói về Trường Sa là không ổn tư nào. Các bài hát được tŕnh diễn qua các giọng hát của các ca sĩ trẻ. Tùng Dương hát Nơi đảo xa (Thế Song). C̣n tâm trí NNN th́ lại âm vang giọng lĩnh xướng của Hữu Nội trong Gửi đảo Trường Sa (Thế Công):


Như một pháo đài
Sừng sững giữa biển khơi
Trường Sa vẫn đứng đó
Vượt qua muôn băo tố
Giữa biển trời bao la….

Nói về Trường Sa th́ c̣n rất nhiều bài hát để có thể hát lên. Vừa hay nhạc sĩ Phạm Tuyên bước lên sân khấu. Sau lời thăm hỏi như lệ thường vào lúc thế này của dẫn chương tŕnh Hữu Bằng, nhạc sĩ trả lời trong cái cười mỉm:

- Vẫn c̣n sống đây!

Cả hội trường rộ lên tiếng cười. Ra là phong cách mới của nhạc sĩ đấy. Hai tuần trước, Tổ công tác của NCM đă đến thăm ông, khi vừa gặp mặt chúng tôi chào và hỏi ông vẫn mạnh khỏe chứ th́ ông cũng nói như vậy: “Vẫn chưa chết, c̣n sống đây!”. Sững người. Không ngờ nhạc sĩ lại có phong cách sốc thế. Ông khoe đă viết được bài hát mới về Trường Sa, một chuỗi liên tưởng suốt ¼ thế kỷ qua, kể từ khi viết Ta ca Trường Sa. Chợt anh bạn bảo nhỏ:

- Thằng lớn nhà ḿnh cũng đang ở Trường Sa.

Ra thế đấy. NNN thấy ḿnh quan liêu rồi. Bao nhiêu năm mà không hỏi bạn về chuyện con cái. Ra thằng lớn tốt nghiệp trường quân sự xong cứ đ̣i ra đảo. Không như bọn bạn cùng lứa chỉ thích ở lại tp HCM làm việc, thằng này c̣n lư luận “Bố đă đi bộ đội được mấy năm mà con không ra đảo được một năm à?”. Thôi, cứ để cho cháu nó đi, NNN cũng đành an ủi bạn ḿnh như vậy. Lại một giai điệu nữa vang lên bên tai, Trường Sa anh đứng đó (Văn An & Nguyễn Đức Mậu) qua sự giọng hát Xuân Thanh:


Một vùng đảo xa mang hồn Tổ quốc
Và một ḍng tên gắn liền đất nước
Là thịt là da gửi lại của ông cha
Bao thân thiết – ôi Trường Sa (á a) Trường Sa!
Những người lính xa nhà giữ đảo
Xẻ chiến hào trên cồn cát cằn trơ
Những người lính một ḷng yêu đảo
Xa quê hương gắn bó từng giờ…


Nói điều ǵ bây giờ cũng là khách sáo. Những điều to tát tồn tại ngay bên ta, ngay trong ta b́nh dị như thế. Chợt NNN thấy ấm ḷng. Cái ḍng máu Việt nó di truyền mạnh thế. Mấy nǵn năm rồi mà đến bây giờ chẳng ai dạy dỗ ǵ nhiều, vẫn cứ bất khuất thế. Cả mấy anh em đều lặng yên, lặng lẽ nhấp môi những ngụm nóng bỏng. Chương tŕnh truyền h́nh trực tiếp cũng đi tới hồi kết. Những nốt nhạc trầm hùng mà da diết của Trần Chung trong Đất nước tôi vang lên:


Đất nước tôi biển Đông sóng reo
Trường Sơn bát ngát núi rừng xa mờ cánh đồng
Đất nước tôi tên làng tên sông
C̣n vang danh bao đấng anh hùng
Rạng rỡ trang sử sách như c̣n đây
Vó ngựa phi diệt quân ngoại xâm
Và đất nước tôi ḱa bao chiến công
C̣n nghe lắng đọng trong vần thơ trong lời ca….

Posted by: VuHungAnh Oct 10 2012, 09:53 AM


10 tháng Mười 2012: kỷ niệm 58 năm giải phóng Thủ Đô


Năm mươi tám năm trước, đúng ngày 10/10/1954, đoàn quân Việt Minh tiến về Giải phóng Thủ Đô. Cờ đỏ sao vàng rợp trời, nhân dân đổ ra hai bên đường náo nức đón chào đoàn quân tiến về.


Đoàn quân tiến về giải phóng Hà Nội trong sự chào đón nồng nhiệt của nhân dân

Không khí náo nức ấy đă được ghi lại trong bộ Biên niên sử bằng âm thanh là các ca khúc cách mạng Việt Nam, trong số đó không thể nào không nhắc đến Tiến về Hà Nội của nhạc sĩ tài danh Văn Cao với sự thể hiện của Tiến Thành và đoàn ca nhạc Đài TNVN sau đây:


Năm 1954, sau cuộc kháng chiến chống Pháp Hà Nội nhỏ bé lắm: dân số Hà Nội chỉ có 53.000 người, diện tích nội thành cũng chỉ vẻn vẹn 152 km².

58 năm sau, vào năm 2012 này, dân số Hà Nội đă hơn 7 triệu với diện tích 3.345 km². Hà Nội hiện có 10 quận, 1 thị xă, 18 huyện, mật độ dân số trung b́nh 1.979 người/km², đông nhất là quận Đống Đa với mật độ 35.341 người/km². C̣n theo đường phố, th́ Hàng Ngang – Hàng Đào có mật độ dân số thuộc loại đứng hàng đầu thế giới, với trên 50.000 người/km2. Dân số đô thị chiếm khoảng 42% tổng dân số Hà Nội.

Hà Nội của ta ngày càng đẹp tươi, xứng đáng là Thủ đô ngàn năm văn hiến, thành phố v́ ḥa b́nh. Trong dịp kỷ niệm ngày Giải phóng Thủ đô năm nay trong danh sách những Công dân tiêu biểu của Thủ đô có tên một nhạc sĩ lăo thành của Hà Nội: nhạc sĩ Hoàng Vân, người mà Nhóm công tác của NCM rất hân hạnh được tới thăm mới đây. Nhạc sĩ Hoàng Vân đích thực là người Hà Nội: ông sinh ra ở Hà Nội, lớn lên và trưởng thành ở Hà Nội, sáng tác rất nhiều bài hát về Hà Nội, trong đó bài T́nh yêu Hà Nội chính là tiếng ḷng của một người con Hà Nội đối với mảnh đất chôn rau cắt rốn của ḿnh, rất ân t́nh, đằm thắm nhưng cũng rất mănh liệt:


1) Tôi yêu Hà Nội những sớm mùa thu
Soi gương mặt hồ xanh biếc trời mây
Khi xa Hà Nội càng thấy yêu hơn

Tôi yêu Hà Nội có những người con
Đi xa ngàn dặm theo tiếng gọi thiêng
Tên anh để lại nhớ thương cho mọi người

Hà Nội ngàn xưa năm cửa ô muôn vàn thương mến
Hà Nội của tôi trang sách khuya thức với sao đêm
Hà Nội ngày nay trí tuệ xanh và con tim bốc cháy (ớ)
Ngọn đuốc sáng trên con đường mà tôi đang bước đi

2) Tôi yêu Hà Nội những sớm mùa thu
Soi gương mặt hồ xanh biếc trời mây
Khi xa Hà Nội càng thấy yêu hơn

Tôi yêu Hà Nội có những người con
Đi xa ngàn dặm theo tiếng gọi thiêng
Tên anh để lại nhớ thương cho mọi người

Hà Nội cần lao năm cửa ô mỗi ngày thêm mới!
Bồi hồi ḷng ta đêm pháo hoa nhớ tháng năm xa
Một bản t́nh ca, máu và hoa ngàn năm tươi sáng măi (ớ)
Trong đôi mắt, trong nụ cười người mà tôi mến yêu!


Tập thể bạn yêu nhạc của diễn đàn nhaccachmang.net xin kính chúc nhạc sĩ Hoàng Vân mạnh khỏe măi để sáng tác nhiều tác phẩm đặc sắc trên tầm cao của ḿnh.

Posted by: VuHungAnh Nov 5 2012, 04:15 PM


95 năm Cách mạng tháng Mười vĩ đại


I – Cách mạng tháng Mười diễn ra vào ngày 24/10/1917 tại Petrograd, nơi đóng đại bản doanh của chính phủ tư sản Nga do thủ tướng Alecxandr Kerensky đứng đầu. Lênin từ nước ngoài đă trở về nước trực tiếp lănh đạo cuộc cách mạng.

Rạng sáng 25/10/1917 toàn bộ chính phủ tư sản lâm thời bị bắt giữ tại Cung điện Mùa đông. Sau đó cuộc cách mạng hoàn tất trong ngày 25/10 trên cả nước. Ngay trong đêm 25/10 mà theo lịch mới là đêm 7/11/1917, Đại hội Xô viết toàn Nga khai mạc tại Điện Smolnưi (cũng tại Petrograd) đă thành lập ra chính quyền Xô Viết do Lênin đứng đầu, chính thức đánh dấu Cách mạng tháng Mười thành công.


Lênin tại Điện Smolnưi trong cách mạng tháng Mười Nga

Sự ra đời của Nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới đă mở đầu cho những chiến công kỳ vĩ của nhân dân Liên Xô trong lịch sử nhân loại sau đó. Chính Liên Xô đă chặn đứng họa phát-xít trên quy mô thế giới. Chính chiến thắng của Hồng quân Liên Xô đă tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều nhà nước công nông ra đời, trong đó có nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa sau cách mạng tháng Tám lịch sử. Chính sự lớn mạnh của Liên Xô đă ngăn chặn những bước phiêu lưu của chủ nghĩa đế quốc ở quy mô thế giới trong những năm thế giới chia thành hai phe trong “chiến tranh lạnh” những năm 1945 – 1990. Chính trong những năm sau cách mạng, những nghiên cứu của các nhà khoa học Liên Xô đă đóng góp to lớn vào những thành tựu khoa học kỹ thuật của loài người.

Cách mạng tháng Mười thành công chính là minh chứng hùng hồn cho sự đúng đắn của chủ nghĩa Marx – Lenin trên thực tế. Ngày nay chủ nghĩa Marx – Lenin đă trở thành một lực lượng vật chất to lớn không thể bác bỏ mà ngay chính chủ nghĩa tư bản cũng vận dụng linh hoạt và bước đầu thành công trong cái gọi là “chủ nghĩa tư bản hài ḥa”.

Ngay từ những năm cách mạng tháng Tám chưa thành công, lănh tụ Nguyễn Ái Quốc đă nêu rơ trong cuốn Đường kách mệnh: “Chỉ có đi theo con đường Cách mạng Tháng Mười – con đường duy nhất đúng đắn – cách mạng Việt Nam mới giành được độc lập, tự do thực sự”.

Năm mươi năm sau cuộc Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn khẳng định: “Càng nhớ lại những ngày tủi nhục mất nước, nhớ lại mỗi bước đường đấu tranh cách mạng đầy hy sinh gian khổ mà cũng đầy thắng lợi vẻ vang th́ giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam càng thấm thía công ơn to lớn của Lênin và Cách mạng Tháng Mười”.

Trong nền âm nhạc cách mạng VN có nhiều ca khúc ca ngợi Liên Xô và t́nh đoàn kết hữu nghị Xô – Việt. Có thể kể đến các ca khúc: Ánh sáng Lênin (Nguyễn Văn Quỳ), Gửi tới Lênin (Trần Chung), Bạch dương và cây tre (Phạm Tuyên), Tên anh trên khắp nẻo đường Việt Nam (Vũ Thanh), Tiếng đàn balalaica trên sông Đà (Trần Chung), Tháng Mười – tháng Tám (Trần Chung), Volga – Hồng Hà (Văn An), Tiếng đàn balalaica trên sông Đà (Hồ Đạt Chính)… Tiếc rằng chúng ta chưa được nghe nhiều ca khúc trong số đó do từ lâu rồi VOV không phát.

Hôm nay mời cả nhà cùng nghe mấy bài hát Nga do các nghệ sĩ Việt Nam tŕnh bày:

Anh yêu em (nhạc Sêrêmenchep, lời Puskin) Lê Dung:
http://www.mediafire.com/?coxrioef57mx53c

Giờ này anh ở đâu (nhạc Xalaviôp Xêđôi, lời Phachianov) Đăng Dương, Trọng Tấn & Việt Hoàn:
http://www.mediafire.com/?flxsx6le8hrxv3b

Ḷng mẹ (?) Trọng Tấn: http://www.mediafire.com/?yvu5azcdd2pdmwy

Posted by: khonggiadinh79 Nov 5 2012, 07:20 PM

Mấy bài này cũng hay. Tuy nhiên , bài cuối cùng. Sao nghe nó khác quá. Nếu tôi nhớ không nhầm th́ ngày trước trên Đài TNVN có phát bài này rồi, nhưng nghe nó không giống cái bài này.

Tôi cũng không rơ là ai hát, cũng là nam. Nhưng mà lâu rồi nên không biết có phải người này không. Hồi đó tôi nghe tôi thích lắm. Nhưng do không để ư nên cũng chẳng biết nó lại là Nhạc Nga ag.

Có bác nào c̣n bản thu Tiếng Việt nào nữa th́ cho nên đi.

Posted by: khonggiadinh79 Nov 5 2012, 07:28 PM

Nhân tiện đây, các bác cho tôi yêu cầu nho nhỏ. Hôm nọ tôi nghe trên VOV người ta có phát bài hát này, nghe hay quá, tôi t́m măi cũng chỉ được có bản này, nhưng mà nó chưa thật đầy đủ. Tôi ao ước bác nào có bản thu đầy đủ của bài này th́ cho tôi xin lại nghe cho thích.

Ở trường cô dậy em thế - (Bài hát Nga ) - Thu Phương đơn ca.
http://www.mediafire.com/?7le9cucrxm77b7v

Posted by: timlaikyuc Nov 5 2012, 09:26 PM

QUOTE (khonggiadinh79 @ Nov 5 2012, 07:28 PM) *
Nhân tiện đây, các bác cho tôi yêu cầu nho nhỏ. Hôm nọ tôi nghe trên VOV người ta có phát bài hát này, nghe hay quá, tôi t́m măi cũng chỉ được có bản này, nhưng mà nó chưa thật đầy đủ. Tôi ao ước bác nào có bản thu đầy đủ của bài này th́ cho tôi xin lại nghe cho thích.

Ở trường cô dậy em thế - (Bài hát Nga ) - Thu Phương đơn ca.
http://www.mediafire.com/?7le9cucrxm77b7v


Thực ra bản thu mà khonggiadinh79 sưu tầm được thời lượng chỉ thiếu 1s thôi, ngay từ note nhạc đầu tiên nên khi nghe có cảm giác không có trước có sau, và chất lượng th́ tiếng bass hầu như không c̣n và có vẻ tiếng bị méo.

Đây là bản thu đủ thời lượng và chất lượng chấp nhận được, khonggiadinh79 và cả nhà thưởng thức nhé.

Ở trường cô dạy em thế - (Bài hát Nga) - Thu Phương
http://www.mediafire.com/?1v6rr2izsa6yos6

Posted by: khonggiadinh79 Nov 5 2012, 10:18 PM

ôi chúa ơi. Bác timlaikyuc ơi. Bác thật tuyệt vời, cảm ơn bác nhiều nha. HI HI, suớng quá, vậy là em đă toại nguyện rồi. Bác timlaikyuc muôn năm.

Posted by: VuHungAnh Nov 6 2012, 10:28 AM

QUOTE (khonggiadinh79 @ Nov 5 2012, 10:18 PM) *
ôi chúa ơi. Bác timlaikyuc ơi. Bác thật tuyệt vời, cảm ơn bác nhiều nha. HI HI, suớng quá, vậy là em đă toại nguyện rồi. Bác timlaikyuc muôn năm.

Cứ cái đà này, e rằng bạn khonggiadinh79 sẽ phải hô "bác TLKU muôn năm" nhiều lần nữa đấy! Cứ từ từ mà chuẩn bị bạn ạ! biggrin.gif

Posted by: VuHungAnh Nov 6 2012, 10:33 AM

II – Thành phố Petrograd này có tên như vậy vào năm 1914 nhưng người Việt ta vốn quen với tên gọi Leningrad hơn v́ nó được mang tên của lănh tụ V.I. Lênin sau khi Người mất vào 1924. Tên gọi Leningrad của thành phố được mang trong 67 năm. Đến năm 1991 khi Liên Xô tan ră, người ta đổi tên thành phố trở lại mang tên Sankt-Peterburg (Санкт-Петербург) và ta hay gọi là Xanh Petecbua.

Nói đến cách mạng tháng Mười cũng nên nói về Quốc ca Liên Xô. Trong suốt chiều dài lịch sử của Liên bang Xô viết và nay người kế thừa là Liên bang Nga, người ta đă nhiều lần thay đổi quốc ca. Tuy nhiên bản nhạc có thời gian sử dụng làm quốc ca lâu nhất và cũng là quốc ca hiện tại của Liên bang Nga chính là tác phẩm do nhạc sĩ Alecxandr Alecxandrov sáng tác vào năm 1939. Bản nhạc này thực sự là bản giao hưởng nhỏ hùng tráng và được viết với bút pháp nghệ thuật đặc sắc. Trong nhiều năm quốc ca của Liên Xô thực ra chỉ là quốc thiều, người ta chỉ cử nhạc không lời mà không có lời ca để hát.

Quốc thiều Liên bang Nga (nhạc Alecxandr Alecxandrov) Dàn nhạc Giao hưởng Quốc gia Nga:
http://www.mediafire.com/?xeba1nldzd0p6xd

Măi đến năm 2000 trong một sắc lệnh kư ngày 27/11/2000 chiểu theo ư kiến của đại đa số đại biểu Đu-ma quốc gia Nga (như là Thượng viện vậy), tổng thống Nga mới chọn tác phẩm thơ của nhà thơ Xergei Mikhalkov làm lời cho quốc thiều để trở thành Quốc ca chính thức của nước Nga, giống như các nước trên thế giới.

Quốc ca Liên bang Nga (nhạc Alecxandr Alecxandrov, lời Sergei Mikhalkov) Dàn hợp xướng Matxcơva:
http://www.mediafire.com/?1byv10abihdwq7w

1) Россия - священная наша держава,
Россия - любимая наша страна.
Могучая воля, великая слава -
Твое достоянье на все времена!

Славься, Отечество наше свободное,
Братских народов союз вековой,
Предками данная мудрость народная!
Славься, страна! Мы гордимся тобой!

2) От южных морей до полярного края
Раскинулись наши леса и поля.
Одна ты на свете! Одна ты такая -
Хранимая Богом родная земля

Славься, Отечество наше свободное,
Братских народов союз вековой,
Предками данная мудрость народная!
Славься, страна! Мы гордимся тобой!

3) Широкий простор для мечты и для жизни
Грядущие нам открывают года.
Нам силу дает наша верность Отчизне.
Так было, так есть и так будет всегда!

Славься, Отечество наше свободное,
Братских народов союз вековой,
Предками данная мудрость народная!
Славься, страна! Мы гордимся тобой!


Thực sự quốc ca Nga là một tác phẩm rất hay. Mấy năm trước đây khi VTV chưa có chương tŕnh phát suốt đêm như bây giờ, nhiều khi mải việc thông đêm VHA thường mở đài Truyền h́nh Nga để nghe quốc ca Nga phát lúc 0 giờ (giờ Matxkva, tức 3 – 4 giờ sáng theo giờ Hà Nội, tùy mùa hè hay mùa đông). Khi dàn hợp xướng hát bài quốc ca, h́nh ảnh trên màn h́nh quay suốt từ phần Viễn Đông của nước Nga với Nakhotka, Kamtratka, Vladivostok, biển Bering… lướt sang phần Trung Nga với hồ Baikan, rừng taiga và Xiberia đầy băng giá… tới phần châu Âu với dăy Ural rồi Matxkva, Sankt Peterburg – Leningrad… trong ḷng người nghe nhạc dội lên cảm xúc mănh liệt về sự vĩ đại của nước Nga, về bao đau thương mà đất nước này phải gánh chịu cũng như bao vinh quang đă mang đến cho nhân loại. Cuộc chiến Thế giới thứ hai đă lấy đi 25 triệu nhân mạng của Liên Xô, trong đó chỉ riêng giải phóng Ba Lan 600 000 người lính đă ngă xuống! Không thể kể hết những khổ đau, mất mát của nước Nga. Thế nhưng sự thể bây giờ ra sao nhỉ? Người ta đang đ̣i xét lại vai tṛ của Liên Xô trong Đại chiến thứ 2. C̣n Đông Âu nơi mà Liên Xô đă giải phóng khỏi ách phát xít năm xưa th́ bây giờ đă là Cộng đồng châu Âu EU rồi. Sự vật vần xoay khôn lường. Và như thế, một lẽ rất tự nhiên, người Nga và người Việt trở nên gần gũi nhau chính v́ những trang sử hào hùng và tâm hồn đồng điệu trước thời cuộc như thế.

Posted by: Ngọc Thạch Nov 6 2012, 11:43 PM

QUOTE (VuHungAnh @ Nov 6 2012, 10:33 AM) *
II – Thành phố Petrograd này có tên như vậy vào năm 1914 nhưng người Việt ta vốn quen với tên gọi Leningrad hơn v́ nó được mang tên của lănh tụ V.I. Lênin sau khi Người mất vào 1924. Tên gọi Leningrad của thành phố được mang trong 67 năm. Đến năm 1991 khi Liên Xô tan ră, người ta đổi tên thành phố trở lại mang tên Sankt-Peterburg (Санкт-Петербург) và ta hay gọi là Xanh Petecbua.

Nói đến cách mạng tháng Mười cũng nên nói về Quốc ca Liên Xô. Trong suốt chiều dài lịch sử của Liên bang Xô viết và nay người kế thừa là Liên bang Nga, người ta đă nhiều lần thay đổi quốc ca. Tuy nhiên bản nhạc có thời gian sử dụng làm quốc ca lâu nhất và cũng là quốc ca hiện tại của Liên bang Nga chính là tác phẩm do nhạc sĩ Alecxandr Alecxandrov sáng tác vào năm 1939. Bản nhạc này thực sự là bản giao hưởng nhỏ hùng tráng và được viết với bút pháp nghệ thuật đặc sắc. Trong nhiều năm quốc ca của Liên Xô thực ra chỉ là quốc thiều, người ta chỉ cử nhạc không lời mà không có lời ca để hát.

Quốc thiều Liên bang Nga (nhạc Alecxandr Alecxandrov) Dàn nhạc Giao hưởng Quốc gia Nga:
http://www.mediafire.com/?xeba1nldzd0p6xd

Măi đến năm 2000 trong một sắc lệnh kư ngày 27/11/2000 chiểu theo ư kiến của đại đa số đại biểu Đu-ma quốc gia Nga (như là Thượng viện vậy), tổng thống Nga mới chọn tác phẩm thơ của nhà thơ Xergei Mikhalkov làm lời cho quốc thiều để trở thành Quốc ca chính thức của nước Nga, giống như các nước trên thế giới.

Quốc ca Liên bang Nga (nhạc Alecxandr Alecxandrov, lời Sergei Mikhalkov) Dàn hợp xướng Matxcơva:
http://www.mediafire.com/?1byv10abihdwq7w

1) Россия - священная наша держава,
Россия - любимая наша страна.
Могучая воля, великая слава -
Твое достоянье на все времена!

Славься, Отечество наше свободное,
Братских народов союз вековой,
Предками данная мудрость народная!
Славься, страна! Мы гордимся тобой!

2) От южных морей до полярного края
Раскинулись наши леса и поля.
Одна ты на свете! Одна ты такая -
Хранимая Богом родная земля

Славься, Отечество наше свободное,
Братских народов союз вековой,
Предками данная мудрость народная!
Славься, страна! Мы гордимся тобой!

3) Широкий простор для мечты и для жизни
Грядущие нам открывают года.
Нам силу дает наша верность Отчизне.
Так было, так есть и так будет всегда!

Славься, Отечество наше свободное,
Братских народов союз вековой,
Предками данная мудрость народная!
Славься, страна! Мы гордимся тобой!


Thực sự quốc ca Nga là một tác phẩm rất hay. Mấy năm trước đây khi VTV chưa có chương tŕnh phát suốt đêm như bây giờ, nhiều khi mải việc thông đêm VHA thường mở đài Truyền h́nh Nga để nghe quốc ca Nga phát lúc 0 giờ (giờ Matxkva, tức 3 – 4 giờ sáng theo giờ Hà Nội, tùy mùa hè hay mùa đông). Khi dàn hợp xướng hát bài quốc ca, h́nh ảnh trên màn h́nh quay suốt từ phần Viễn Đông của nước Nga với Nakhotka, Kamtratka, Vladivostok, biển Bering… lướt sang phần Trung Nga với hồ Baikan, rừng taiga và Xiberia đầy băng giá… tới phần châu Âu với dăy Ural rồi Matxkva, Sankt Peterburg – Leningrad… trong ḷng người nghe nhạc dội lên cảm xúc mănh liệt về sự vĩ đại của nước Nga, về bao đau thương mà đất nước này phải gánh chịu cũng như bao vinh quang đă mang đến cho nhân loại. Cuộc chiến Thế giới thứ hai đă lấy đi 25 triệu nhân mạng của Liên Xô, trong đó chỉ riêng giải phóng Ba Lan 600 000 người lính đă ngă xuống! Không thể kể hết những khổ đau, mất mát của nước Nga. Thế nhưng sự thể bây giờ ra sao nhỉ? Người ta đang đ̣i xét lại vai tṛ của Liên Xô trong Đại chiến thứ 2. C̣n Đông Âu nơi mà Liên Xô đă giải phóng khỏi ách phát xít năm xưa th́ bây giờ đă là Cộng đồng châu Âu EU rồi. Sự vật vần xoay khôn lường. Và như thế, một lẽ rất tự nhiên, người Nga và người Việt trở nên gần gũi nhau chính v́ những trang sử hào hùng và tâm hồn đồng điệu trước thời cuộc như thế.

Chào bạn VuHungAnh. Cảm ơn bạn đă đăng lời của Quốc ca LB Nga hiện nay. Tuy vậy trong bài viết của bạn có một chi tiết tôi nghĩ là bị nhầm bạn ạ. Nó là thế này : Quốc ca Liên Xô là bài hát có lời, hồi trước đă được dịch ra tiếng Việt và tôi c̣n nhớ lơm bơm mấy câu không liền mạch như sau :"Ngàn năm càng bền vững đời đời kết liên...Liên bang Xô Viết như keo sơn liền một khối". Đến khi Liên Xô tan ră, nước Nga dưới sự lănh đạo của En-xin không dùng Quốc ca Liên Xô nữa mà dùng một bản nhạc ca ngợi thánh hay chúa ǵ đấy làm Quốc thiều, không có lời nên các cầu thủ Nga ra nước ngoài đấu bóng đá than phiền: Đội Nga thua là phải v́ không hát được Quóc ca. Đến khi ông Pu-tin lên, Du-ma quyết định lấy lại bài Quốc ca Liên Xô trước đây nhưng đặt lời mới cho phù hơp v́ không c̣n Liên bang các nước Cộng hoà XHCN Xô viết nữa mà chỉ c̣n Liên bang Nga, từ đó chúng ta lại được nghe vang lên hùng tráng bản nhạc của Alexandr Alexandrov mà bao thế hệ người Việt đă ghi vào tâm khảm. Ở trang này nhiều bác lớn tuổi, bác nào c̣n nhớ lời bài Quôc ca LX trước đây (tiếng Việt) làm ơn chép hộ lên với cho cả nhà thưởng thức. Xin cảm ơn và chào bạn VuHungAnh

Posted by: VuHungAnh Nov 7 2012, 11:07 AM

Bác Ngọc Thạch nhớ thật tài t́nh. Nhân gợi ư của bác, về những thay đổi quốc ca Nga và Liên Xô, ta có thể thấy:

1) Sau khi cách mạng thành công, trong hai năm 1917 – 1918 quốc ca Nga là bài Рабочая Марсельеза sáng tác nhạc của K. Gi. Rôsê và A. K. Gladunov, lời của P. L. Lavrov.

2) Trong những năm 1918 – 1943, quốc ca Liên Xô và Liên bang Nga chính là bài Quốc tế ca, do nhạc sĩ người Pháp gốc Bỉ Pierre Degeyter (1848-1932) viết năm 1888 và lời là bài thơ của nhà thơ Eugene Pottier (1816-1887) sáng tác vào tháng 6/1871. Lời Nga do nhà thơ Nga A. Ia. Kôsê dịch ra tiếng Nga như sau:

Вставай, проклятьем заклейменный,
Весь мир голодных и рабов !
Кипит наш разум возмущенный
И в смертный бой вести готов.
Весь мир насилья мы разрушим
До основанья, а затем
Мы наш, мы новый мир построим:
Кто был ничем, тот станет всем !
Это есть наш последний
И решительный бой
С Интернационалом
Воспрянет род людской !
Никто не даст нам избавленья -
Ни бог, ни царь и ни герой
Добьемся мы освобожденья
Своею собственной рукой.
Чтоб свергнуть гнет рукой умелой,
Отвоевать свое добро,
Вздувайте горн и куйте смело,
Пока железо горячо !
Это есть наш последний
И решительный бой
С Интернационалом
Воспрянет род людской !
Лишь мы, работники всемирной
Великой армии труда,
Владеть землей имеем право,
Но паразиты - никогда !
И если гром великий грянет
Над сворой псов и палачей,
Для нас все так же солнце станет
Сиять огнем своих лучей.
Это есть наш последний
И решительный бой
С Интернационалом
Воспрянет род людской!


3) Đến năm 1944, trước t́nh h́nh mới ở mặt trận đ̣i hỏi có bài quốc ca mới kịp thời động viên binh sĩ, một cuộc vận động sáng tác quốc ca đă được tổ chức với gần 180 bài hát tham dự nhưng cuối cùng I. Stalin và Bộ CT BCH ĐCSLX nhất trí quyết định chọn nhạc của A. Alecxanđrôp và lời là bài thơ của hai nhà thơ X. V. Mikhalcôp và G. Ele-Reghixtan làm quốc ca và được sử dụng cho đến năm 1977. Lời quốc ca này như sau:

Союз нерушимый республик свободных
Сплотила навеки Великая Русь.
Да здравствует созданный волей народов
Единый, могучий Советский Союз !
Славься, Отечество наше свободное,
Дружбы народов надежный оплот !
Знамя советское, знамя народное
Пусть от победы к победе ведет !
Сквозь грозы сияло нам солнце свободы,
И Ленин великий нам путь озарил:
Нас вырастил Сталин - на верность народу,
На труд и на подвиги нас вдохновил !
Славься, Отечество наше свободное,
Счастья народов надежный оплот !
Знамя советское, знамя народное
Пусть от победы к победе ведет !
Мы армию нашу растили в сраженьях.
Захватчиков подлых с дороги сметем !
Мы в битвах решаем судьбу поколений,
Мы к славе отчизну свою поведем !
Славься, Отечество наше свободное,
Славы народов надежный оплот !
Знамя советское, знамя народное
Пусть от победы к победе ведет!


4) Từ 1977 đến 1991 quốc ca Nga vẫn là bài hát của A. Alecxandrov, lời của S. Mikhalkov và G. El Reghistan nhưng được sửa chữa chút ít, thành:

Союз нерушимый республик свободных
Сплотила навеки Великая Русь.
Да здравствует созданный волей народов
Единый, могучий Советский Союз !
Славься, Отечество наше свободное,
Дружбы народов надежный оплот !
Партия Ленина - сила народная
Нас к торжеству коммунизма ведет !
Сквозь грозы сияло нам солнце свободы,
И Ленин великий нам путь озарил:
На правое дело он поднял народы,
На труд и на подвиги нас вдохновил !
Славься, Отечество наше свободное,
Дружбы народов надежный оплот !
Партия Ленина - сила народная
Нас к торжеству коммунизма ведет !
В победе бессмертных идей коммунизма
Мы видим грядущее нашей страны,
И Красному знамени славной Отчизны
Мы будем всегда беззаветно верны !
Славься, Отечество наше свободное,
Дружбы народов надежный оплот !
Партия Ленина - сила народная
Нас к торжеству коммунизма ведет!


5) Trong những năm dưới thời tổng thống B. Elxin quốc ca Nga là bản nhạc của nhà soạn nhạc M. Glinca nhưng không có lời do có nhiều lời thơ được chọn trong đó có các lời của các tác giả nổi tiếng như N. Benxon, A. Ekimov và E. Evtusenko vào đến chung kết nhưng cuối cùng tổng thống không chọn phương án nào.

6) Kể từ 2001, tổng thống V. Putin đă quyết định lấy lại bản nhạc của A. Alecxandrov đă từng là quốc ca dưới thời Liên Xô cũ nhưng với lời thơ mới cũng do nhà thơ S. Mikhalkov viết lại, làm quốc ca của Liên bang Nga hiện nay như ta đă biết.

Posted by: Ngọc Thạch Nov 7 2012, 11:49 AM

QUOTE (VuHungAnh @ Nov 7 2012, 11:07 AM) *
Bác Ngọc Thạch nhớ thật tài t́nh. Nhân gợi ư của bác, về những thay đổi quốc ca Nga và Liên Xô, ta có thể thấy:

1) Sau khi cách mạng thành công, trong hai năm 1917 – 1918 quốc ca Nga là bài Рабочая Марсельеза sáng tác nhạc của K. Gi. Rôsê và A. K. Gladunov, lời của P. L. Lavrov.

2) Trong những năm 1918 – 1943, quốc ca Liên Xô và Liên bang Nga chính là bài Quốc tế ca, do nhạc sĩ người Pháp gốc Bỉ Pierre Degeyter (1848-1932) viết năm 1888 và lời là bài thơ của nhà thơ Eugene Pottier (1816-1887) sáng tác vào tháng 6/1871. Lời Nga do nhà thơ Nga A. Ia. Kôsê dịch ra tiếng Nga như sau:

Вставай, проклятьем заклейменный,
Весь мир голодных и рабов !
Кипит наш разум возмущенный
И в смертный бой вести готов.
Весь мир насилья мы разрушим
До основанья, а затем
Мы наш, мы новый мир построим:
Кто был ничем, тот станет всем !
Это есть наш последний
И решительный бой
С Интернационалом
Воспрянет род людской !
Никто не даст нам избавленья -
Ни бог, ни царь и ни герой
Добьемся мы освобожденья
Своею собственной рукой.
Чтоб свергнуть гнет рукой умелой,
Отвоевать свое добро,
Вздувайте горн и куйте смело,
Пока железо горячо !
Это есть наш последний
И решительный бой
С Интернационалом
Воспрянет род людской !
Лишь мы, работники всемирной
Великой армии труда,
Владеть землей имеем право,
Но паразиты - никогда !
И если гром великий грянет
Над сворой псов и палачей,
Для нас все так же солнце станет
Сиять огнем своих лучей.
Это есть наш последний
И решительный бой
С Интернационалом
Воспрянет род людской!


3) Đến năm 1944, trước t́nh h́nh mới ở mặt trận đ̣i hỏi có bài quốc ca mới kịp thời động viên binh sĩ, một cuộc vận động sáng tác quốc ca đă được tổ chức với gần 180 bài hát tham dự nhưng cuối cùng I. Stalin và Bộ CT BCH ĐCSLX nhất trí quyết định chọn nhạc của A. Alecxanđrôp và lời là bài thơ của hai nhà thơ X. V. Mikhalcôp và G. Ele-Reghixtan làm quốc ca và được sử dụng cho đến năm 1977. Lời quốc ca này như sau:

Союз нерушимый республик свободных
Сплотила навеки Великая Русь.
Да здравствует созданный волей народов
Единый, могучий Советский Союз !
Славься, Отечество наше свободное,
Дружбы народов надежный оплот !
Знамя советское, знамя народное
Пусть от победы к победе ведет !
Сквозь грозы сияло нам солнце свободы,
И Ленин великий нам путь озарил:
Нас вырастил Сталин - на верность народу,
На труд и на подвиги нас вдохновил !
Славься, Отечество наше свободное,
Счастья народов надежный оплот !
Знамя советское, знамя народное
Пусть от победы к победе ведет !
Мы армию нашу растили в сраженьях.
Захватчиков подлых с дороги сметем !
Мы в битвах решаем судьбу поколений,
Мы к славе отчизну свою поведем !
Славься, Отечество наше свободное,
Славы народов надежный оплот !
Знамя советское, знамя народное
Пусть от победы к победе ведет!


4) Từ 1977 đến 1991 quốc ca Nga vẫn là bài hát của A. Alecxandrov, lời của S. Mikhalkov và G. El Reghistan nhưng được sửa chữa chút ít, thành:

Союз нерушимый республик свободных
Сплотила навеки Великая Русь.
Да здравствует созданный волей народов
Единый, могучий Советский Союз !
Славься, Отечество наше свободное,
Дружбы народов надежный оплот !
Партия Ленина - сила народная
Нас к торжеству коммунизма ведет !
Сквозь грозы сияло нам солнце свободы,
И Ленин великий нам путь озарил:
На правое дело он поднял народы,
На труд и на подвиги нас вдохновил !
Славься, Отечество наше свободное,
Дружбы народов надежный оплот !
Партия Ленина - сила народная
Нас к торжеству коммунизма ведет !
В победе бессмертных идей коммунизма
Мы видим грядущее нашей страны,
И Красному знамени славной Отчизны
Мы будем всегда беззаветно верны !
Славься, Отечество наше свободное,
Дружбы народов надежный оплот !
Партия Ленина - сила народная
Нас к торжеству коммунизма ведет!


5) Trong những năm dưới thời tổng thống B. Elxin quốc ca Nga là bản nhạc của nhà soạn nhạc M. Glinca nhưng không có lời do có nhiều lời thơ được chọn trong đó có các lời của các tác giả nổi tiếng như N. Benxon, A. Ekimov và E. Evtusenko vào đến chung kết nhưng cuối cùng tổng thống không chọn phương án nào.

6) Kể từ 2001, tổng thống V. Putin đă quyết định lấy lại bản nhạc của A. Alecxandrov đă từng là quốc ca dưới thời Liên Xô cũ nhưng với lời thơ mới cũng do nhà thơ S. Mikhalkov viết lại, làm quốc ca của Liên bang Nga hiện nay như ta đă biết.

Ôi, cảm ơn bạn VuHungAnh, bạn giỏi quá, t́m được đầy đủ tư liệu về Quốc ca LX và Nga qua các thời ḱ. Tôi th́ dốt tin học nên nhớ được cái ǵ th́ viết lên chứ khoản t́m kiếm kém lắm. Cảm ơn bạn lần nữa

Posted by: Vĩ Cầm Đỏ Nov 8 2012, 10:52 AM

Trong bom đạn, chúng tôi vẫn luôn nhớ tới Liên Xô


NS Trần Mùi


Thời tuổi trẻ, chúng tôi c̣n lư giải mơ hồ v́ sao t́nh hữu nghị giữa Việt Nam và Liên Xô ngày ấy lại sâu đậm và t́nh nghĩa đến như vậy? Chúng tôi cũng tự hỏi v́ sao chúng tôi lại yêu mến nước Nga trong khi chưa một lần trong đời đặt chân đến nước Nga?

Những kiệt tác văn học đồ sộ của Lép Tônx-tôi - “Chiến tranh – Ḥa B́nh”, “Ana Karenina” - cho đến “Sông Đông êm đềm”, “Đất vỡ hoang” của Mi-khai-in Sô-lô-khốp…cùng những ca khúc : “Chiều Mátx-cơ-va”, “Đôi bờ”, “Kachiusa” rồi “Cây thùy dương” chúng tôi đọc và nghe trong sự mê si cuồng nhiệt …Những bài hát cùng tác phẩm văn học ấy đă đưa chúng tôi đến một thế giới nhân văn đầy t́nh người với người dân Nga chân thành và giản dị. Chúng tôi yêu mến Liên Xô từ những ngày ấy…và trong những năm tháng ở chiến trường miền Nam “hành trang” của chúng tôi cũng vẫn luôn là những giai điệu, ca từ thuở nào...

Chiến trường miền Nam sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968 ngày trở nên ác liệt hơn, pháo đài bay B52 dội bom liên tục hàng ngày, cuộc sống của anh em chúng tôi ngày một thiếu thốn gian khổ, đói và rét cùng bệnh tật. Giữa sống và chết chỉ là sợi chỉ mỏng manh.

Chiến dịch mở rộng khắp miền Nam, tần suất phục vụ bộ đội ngày càng nhiều, trên sân khấu đất bên một vạt rừng mới được phát quang, hai chiếc đèn Măng Sông leo lét ánh sáng, không hệ thống âm thanh…chúng tôi vẫn đàn, vẫn hát những bài hát chiến sĩ ưa thích…và khi màn đêm buông xuống, bên đống lửa bập bùng cùng cái lạnh ở rừng, chúng tôi lại quây quần bên người chiến sĩ hát vang những bài ca chúng tôi hay hát hồi c̣n ở quê nhà.

“Chiều Mátx-cơ-va", "Cây liễu", "Tổ quốc tôi", "Kachiusa”…vang lên trong rừng chiến khu từ đất nước Việt Nam xa xôi bom đạn, những nghệ sĩ, chiến sĩ miền Nam lại nhớ tới Liên Xô…


Khán pḥng Pḥng ḥa nhạc Tchaikovsky trong chương tŕnh biểu diễn của Đoàn Nghệ thuật Cộng ḥa miền Nam Việt Nam. Ảnh: T.L.
(Nguồn: http://sggp.org.vn/vanhoavannghe/2012/11/303594/)
…Từ biên giới Liên Xô những ngày cuối năm, trời thật lạnh. Tuyết phủ trắng xóa trên mặt đất, trên những cành cây và các mái nhà…Chưa bao giờ chúng tôi nh́n thấy tuyết, một màu trắng mịn màng và lạ lẫm đến như vậy.
Đất nước và con người Liên Xô đă giành những t́nh cảm nồng hậu nhất cho những người con từ chiến trường Việt Nam xa xôi đến.

Gia Bai Kal – thành phố biên giới hôm nay nhộn nhịp, từng đoàn thanh niên trong bộ áo quần truyền thống tay cầm hoa, cầm cờ Việt Nam và Liên Xô đi đón đoàn. Trong sân ga những biểu ngữ lớn với ḍng chữ “T́nh hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và Liên Xô đời đời bền vững”, “Chào mừng Đoàn Nghệ thuật Cộng ḥa miền Nam Việt Nam đến thăm và biểu diễn hữu nghị tại Liên Xô”. Đoàn Quân nhạc với những bản nhạc rộn ràng đón chào. Trời lạnh nhưng ḷng chúng tôi ấm áp bởi t́nh cảm hữu nghị nồng ấm ấy. Nghi thức đón tiếp với Bánh ḿ đen và Muối đă nói lên tất cả.

Si-bê-ri mênh mông với những rừng cây bạch dương đầy tuyết phủ. Hồ Bai-kan rộng lớn nước đă đóng thành băng, thành phố khoa học Nô-vô-si-biếc đang hiện dần phía trước, đêm rồi lại ngày, con tầu vẫn lao nhanh giữa vùng đất trắng xóa…

Mátx-cơ-va trái tim của Liên bang Xô viết đă nồng nhiệt chào đón Đoàn Nghệ thuật của nhân dân miền Nam. Khách sạn mang tên “Nước Nga” là khách sạn sang trọng và lớn nhất được dành cho Đoàn nghỉ. Các bạn Liên Xô đă quan tâm lo lắng cho anh chị em chúng tôi từ những vật dụng sinh hoạt nhỏ bé nhất : Từ chiếc khăn len quàng cồ, mũ lông cừu che tai, găng đeo tay đến chiếc áo khoác ấm nặng trĩu, đồ ăn thức uống hàng ngày cho phù hợp với khẩu vị...

Ban tổ chức tiếp đón do Bộ Văn hóa cử đi theo trong suốt thời gian chúng tôi ở Liên Xô. Một tập thể nghệ sĩ ưu tú trong đó có Đạo diễn, nghệ sĩ múa, nhạc sĩ Xô viết luôn luôn ở bên với các nghệ sĩ Việt Nam để giúp đỡ và giải quyết, chỉ bảo về chuyên môn. Các nghệ sĩ Liên Xô đă làm việc ngày đêm, không quản mỏi mệt để dàn dựng cho chúng tôi một cách chính xác các bài hát, điệu múa của Nga, Ucrana, Cazactan, Tuyếc Mêni…


Nhạc sĩ Trần Mùi tại Liên Xô
Trên sân khấu những giọt mồ hôi của các nghệ sĩ Việt Nam và Liên Xô ḥa quyện cho t́nh hữu nghị chân thành ấy.
Chúng tôi không thể nào quên được đêm biểu diễn đầu tiên tại pḥng ḥa nhạc mang tên Tchai-cốp-xki pḥng ḥa nhạc nổi tiếng trên thế giới, được diễn nơi đây là niềm vinh dự to lớn mà các bạn dành cho Đoàn. Trước cửa Nhà hát là những tấm áp phích “Chào mừng Đoàn nghệ thuật Cộng ḥa miền Nam VN” “Một đoàn nghệ thuật chiến đấu từ miền Nam Việt Nam đến thăm và biểu diễn hữu nghị tại Liên Xô”…

Trong bộ quân phục với những chiếc huân huy chương lấp lành trên ngực các nghệ sĩ Việt Nam và Liên Xô tṛ chuyện vui vẻ như những người thân lâu ngày mới gặp lại. Phóng viên các hăng thông tấn, truyền h́nh và báo chí ghi lại những giây phút ân t́nh ấy không dứt. Quốc ca của Mặt trận Dân tộc Giải phóng và Quốc ca Liên Xô vang lên trước buổi biểu diễn.

Trong những giây phút xúc động ấy, chúng tôi lại nhớ đến đồng bào và chiến sĩ miền Nam đang cầm súng chiến đấu…

Cả nhà hát là một biển người, những tràng vỗ tay không dứt sau mỗi tiết mục. Bài hát Việt Nam bài hát Liên Xô mà chúng tôi vẫn hát trong đêm ở rừng chiến khu nay lại vang lên giữa thủ đô Xô Viết như một lời tâm t́nh từ đáy ḷng của ḿnh cùng nghệ sĩ bạn đệm đàn trong tiêng hoan hô vang dội.

Cả sân khấu là một rừng hoa, đêm biểu diễn vô h́nh chung là cuộc mít-tinh với những tiếng hô vang và những cánh tay giơ cao ủng hộ Việt Nam “Nhân dân Việt Nam nhất định thắng”, “Chủ tịch Hồ Chí Minh muôn năm”, “T́nh hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Liên Xô muôn năm”, “ Chào mừng các nghệ sĩ đến từ chiến trường miền Nam anh hùng”…

Cho dù ở bất cứ nơi đâu, các bạn Liên Xô đă dành tất cả cho Việt Nam không chỉ bằng trái tim mà bằng tất cả những hành động của ḿnh cho những nghệ sĩ chiến sĩ của miền Nam VN...

Những ǵ c̣n canh cánh bên ḷng nay đă được giải đáp. Giờ đây, chúng tôi có thể hiểu nhiều và thấm thía về t́nh hữu nghị “có một không hai ấy” giữa Việt Nam và nước Nga ngày nay cũng như các nước trong cộng đồng các quốc gia độc lập SNG.

Chúng ta có câu “Lửa thử vàng, gian nan thử sức”, “Thức lâu mới biết đêm dài”… T́nh hữu nghị ấy đă qua bao thăng trầm trong thử thách cần phải được ǵn giữ và phát huy măi măi. Chúng tôi biết ơn và trân trọng t́nh cảm hữu nghị ấy của nhân dân Liên Xô trước đây, và nay là nước Nga, cũng như các nước trong Cộng đồng các quốc gia độc lập đă và đang vun đắp cho t́nh hữu nghị ngày một bền vững, đơm hoa kết trái…


Thành phố Hồ Chí Minh
6. 11. 2012


(Bài đă đăng trên Sài G̣n Giải phóng ngày 8.11.2012)

Posted by: Ngọc Thạch Nov 9 2012, 06:20 PM

QUOTE (Ngọc Thạch @ Nov 7 2012, 11:49 AM) *
Ôi, cảm ơn bạn VuHungAnh, bạn giỏi quá, t́m được đầy đủ tư liệu về Quốc ca LX và Nga qua các thời ḱ. Tôi th́ dốt tin học nên nhớ được cái ǵ th́ viết lên chứ khoản t́m kiếm kém lắm. Cảm ơn bạn lần nữa

Bạn VuHungAnh ơi, hôm nay tôi gặp một người bạn, anh này c̣n nhớ gần như toàn bộ bản dịch Quốc ca Liên Xô ra tiếng Việt hồi thập kỉ 50 bạn ạ. Tôi đă ghi lại và đánh ra đây để bạn có khái niệm nhé:
Ngàn năm càng bền vững người người kết liên tự do
Đời đời Liên bang Xô-viết như keo sơn liền một khối
Một chí Liên xô Nga bao gồm các dân tộc ta
Một cuờng quốc vui đồng tâm và nguyện kiến tthiết hoà b́nh.
A! Vinh quang này sáng chói đời đời
A! Vinh quang này sáng chói một trời
Huy hoàng dâng lên cờ Liên Xô hùng uy phấp phới.
Đây ḷng nhân ái mênh mông,
Đây tung bay cờ nhân dân toàn hồng.
Tiến lên hiên ngang đời đời Liên bang Xô Viết

C̣n thiếu một vài câu nữa mà không nhớ ra bạn ạ.
Chào bạn.

Posted by: VuHungAnh Dec 17 2012, 09:34 PM

Nh́n lại chuyện xưa nhớ chuyện nay. Dường như ư nghĩa của chiến thắng đă qua vẫn c̣n nằm ở tương lai?



40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không

68 năm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam


Thế là đă 40 năm trôi qua kể từ tháng 12/1972 ác liệt năm ấy. Nói về sự kiện này, người ta thường nói “trận huyết chiến 12 ngày đêm”, "trận Điện Biên Phủ trên không" hoặc “cuộc tập kích chiến lược trong 12 ngày đêm của không quân Mỹ trên bầu trời Hà Nội, Hải Pḥng”. Thật là một sự kiện long trời lở đất. Sự vĩ đại của chiến thắng này và ư nghĩa to lớn quyết định chiến cuộc của nó khiến nó được mang tên gọi “chiến thắng Điện Biên Phủ trên không”. Ta hăy cùng hồi tưởng lại cái không khí sục sôi của 12 ngày đêm cuối năm 1972 ấy qua một sáng tác nổi tiếng không thể không nhắc tới ở đây:


Bối cảnh

Kể từ khi Mỹ đưa quân vào miền nam nước ta năm 1964, mặc dù chúng triển khai nhiều âm mưu và thủ đoạn cũng như các chiến dịch khác nhau nhưng đều bị quân dân ta làm cho thất bại. Thừa thắng xông lên, tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta tiến hành cuộc tổng tấn công và nổi dậy trên toàn miền Nam buộc đế quốc Mỹ và tay sai phải ngồi vào bàn đàm phán ở Hội nghị Paris tháng 5/1968 để bàn về việc kết thúc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Tuy nhiên, cho đến tháng 11/1972, Hội nghị 4 bên ở Paris đă họp đến gần 160 phiên nhưng vẫn bế tắc. Nhận định kẻ thù ắt sẽ dùng con bài chiến lược cuối cùng là không quân ḥng giành thế chủ động trên bàn Hội nghị Paris, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đă lệnh cho các lực lượng vũ trang: “Có nhiều khả năng địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng pháo đài bay chiến lược B52 đánh vào Hà Nội, Hải Pḥng. Do đó nhiệm vụ của quân chủng Pḥng không – Không quân là tập trung mọi khả năng, nhằm đúng đối tượng B52 mà tiêu diệt”.

Đúng như dự đoán, ngày 14/12/1972, Tổng thống Mỹ R. Nixon kư phê chuẩn chiến dịch Linebecker 2, bắt đầu đánh phá bằng đường không vào Hà Nội, Hải Pḥng từ 7 giờ sáng ngày 18/12/1972 (giờ Washington, c̣n giờ Hà Nội là 19 giờ ngày 18/12/1972), đồng thời tiếp tục thả thuỷ lôi phong toả cảng Hải Pḥng. Cuộc tập kích chiến lược bằng B52 kéo dài 12 ngày đêm, từ 18/12 đến 29/12/1972 đă phá tan tành hai thành phố lớn cùng hầu hết các cơ sở kinh tế của chúng ta kèm theo hàng ngàn dân thường thiệt mạng nhưng đă kết thúc bằng thất bại thảm hại của không lực Hoa Kỳ.

B52 là ǵ?

B52 là loại "siêu pháo đài bay chiến lược" do hăng Boeing sản xuất, chiếc đầu tiên được đưa bay thí nghiệm vào 16/4/1952 nên được gọi B52. Sau 20 năm, đến năm 1972, B52 đă trải qua 8 lần cải tiến từ B-52A đến B-52G, B-52H. Mỗi chiếc B-52G hoặc H (loại bị bắn rơi tại Hà Nội tháng 12/1972) có thể mang trên dưới 100 quả bom với tổng trọng lượng từ 17 đến 30 tấn cùng nổ chỉ trong phạm vi 3 đến 10 giây đồng hồ.

Về kích thước, B52 cao hơn 12 mét, dài hơn 49 mét, sải cánh hơn 56 mét và nặng trên 200 tấn. B52 khi mang 30 tấn bom có thể bay cao 20 km và bay liên tục 20.000 km không cần tiếp nhiên liệu. Mỗi B52 được trang bị 15 máy điện tử phát nhiễu chống các loại ra-đa của đối phương. Khi B52 tấn công mục tiêu c̣n có máy bay EB66 gây nhiễu phía ngoài và nhiều tốp F4 thả nhiễu tiêu cực là những bó sợi hợp kim nhôm trong khu vực có độ dài khoảng từ 40 km đến 70 km, dầy khoảng 2km để gây nhiễu. Trung b́nh mỗi B52 đi chiến đấu có 7 máy bay chiến thuật đi kèm. Với những tính năng ưu việt và được đội h́nh máy bay tiêm kích, máy bay gây nhiễu điện tử dày đặc bảo vệ, B52 là "con quái vật" rất khó bị tiêu diệt...

Hoa Kỳ cho rằng “Đối phương không thể có cách chống đỡ và không c̣n một sinh vật nào tồn tại nổi dưới những trận mưa bom kinh khủng của loại B52 bất khả xâm phạm”.

Diễn biến trận huyết chiến

Ngày đầu tiên của “Điện Biên Phủ trên không” (18/12/1972), 3 máy bay B52 bị tiêu diệt và trận quyết định ngày 26/12/1972 có 8 máy bay B52 bị tiêu diệt.

Đêm 18 rạng sáng ngày 19/12/1972, Đế quốc Mỹ cho 87 lần chiếc B52, 135 lần chiếc máy bay chiến thuật ném bom Hà Nội. Đêm 19/12, chúng tổ chức tiếp 3 đợt bắn phá dă man Hà Nội với 93 lần chiếc B52 và 163 lần chiếc máy bay chiến thuật.

Đêm 20 rạng sáng 21/12/1972, không quân Mỹ đánh phá Hà Nội với 8 tốp B52 (24 chiếc), gần 170 chiếc máy bay chiến thuật. Đêm đầu, quân dân Hà Nội đă bắn rơi 3 B52 Mỹ, 4 máy bay chiến thuật, bắt sống 6 giặc lái. Chiếc B-52G đầu tiên rơi tại chỗ ở Phù Lỗ, Đông Anh. Sau đó ta hạ tiếp 7 B52, bắt sống nhiều giặc lái.

Mức độ B52 bị tiêu diệt đạt 17,6% (34/193 chiếc), vượt xa mức mà Nhà Trắng có thể chấp nhận được là từ 1 – 2%. C̣n báo chí phương Tây nhận định chua cay: “Cứ với tốc độ này, chỉ 3 tháng nữa B52 sẽ bị tuyệt chủng!”.

Trong phiên 171 của Hội nghị Paris tại lâu đài Kléber ngày 21/12/1972, vừa vào họp trưởng đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tuyên bố: “Để biểu thị sự phản đối những cuộc ném bom cực kỳ dă man và thái độ đàm phán lật lọng của phía Mỹ, đoàn đại biểu Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa với sự đồng ư của đoàn đại biểu Cách mạng Lâm thời Cộng ḥa miền Nam Việt Nam quyết định bỏ phiên họp lần thứ 171”.


Ngày 21/12, ga Hàng Cỏ (ga Hà Nội hiện nay) và các phố lân cận như Lư Thường Kiệt, Trần Quư Cáp,
Nguyễn Khuyến bị đánh phá bằng bom điều khiển bằng laser. Các khu lao động cũng phải hứng những trận
mưa bom. Ngay đêm 18/12, đêm đầu của chiến dịch Linebacker 2, hơn 300 người đă thiệt mạng

Cả 2 đoàn Việt Nam bỏ Hội nghị ra về. Cuộc họp chỉ kéo dài 58 phút.

Đêm 28/12/1972, được thông báo có B52, thượng úy phi công Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích. Anh báo cáo với trung đoàn trưởng: “Bắn mà B52 địch không rơi tại chỗ, tôi sẽ xin lao thẳng vào nó”.

21 giờ 45 ngày 28/12/1972, Vũ Xuân Thiều bắn bị thương chiếc B-52D của phi công Lewis rồi anh đă lao thẳng chiếc Mig của ḿnh vào B52 địch. Phía Hoa kỳ công nhận đây là chiếc máy bay cuối cùng bị không quân Bắc Việt bắn hạ tại chỗ.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, không lực Mỹ đă huy động gần một nửa số máy bay chiến lược B52 (193/400 chiếc) với 663 lần xuất kích; một phần ba số máy bay chiến thuật (1.077/3.041 chiếc) với 3.920 lần xuất kích, cùng nhiều lực lượng, phương tiện, vũ khí khác. Đó thực sự là một cuộc chiến tàn bạo và huỷ diệt mà theo Mỹ, chúng có thể biến Hà Nội thành b́nh địa...

Với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đến ngày 29/12, riêng Hà Nội đă bắn rơi 23 B52, nhiều chiếc bị rơi ngay tại chỗ, bắt sống nhiều giặc lái.

Sau sự kiện này, Tổng thống Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam từ 30/12/1972 và đi đến việc kư kết Hội nghị Paris ngày 27/1/1973 với cam kết "chấm dứt vô điều kiện chiến tranh ở Việt Nam đồng thời rút hết quân Mỹ về nước".

Ư nghĩa của chiến thắng

Việc đế quốc Mỹ kư kết hiệp định Paris với cam kết rút hết quân Mỹ khỏi Việt Nam chính là điều kiện tiên quyết “Mỹ cút” để sau đó chúng ta đánh cho “ngụy nhào” tiến tới thắng lợi cuối cùng năm 1975. Thế nhưng ư nghĩa của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” không chỉ giới hạn ở đó.

Khi t́m hiểu quá tŕnh đi đến quyết định ném bom miền Bắc Việt Nam vào tháng 12/1972, chúng ta nhận thấy Tổng thống Mỹ R. Nixon đă lừa dối có hệ thống toàn dân Mỹ. Trước tháng 12/1972, tương quan lực lượng trên chiến trường đang nghiêng về phía có lợi cho VN nhưng phía Mỹ đă tuyên truyền đến dân Mỹ là “ḥa b́nh trong tầm tay”, c̣n trên thực tế bàn đàm phán họ phá vỡ cuộc thương lượng, đẩy mạnh ném bom miền Bắc để tạo sức ép làm tê liệt ư chí VN qua đó ḥng thu được kết quả đàm phán có lợi cho phía Mỹ. Thế nhưng trên báo chí lại nói là đàm phán thất bại là do phía VN thiếu thiện chí!

Với 35000 tấn bom ném xuống Hà Nội và Hải Pḥng th́ gạch vụn là mục tiêu thừa nhận của Lầu Năm Góc nhằm "làm tê liệt đời sống hàng ngày của Hà Nội và Hải Pḥng, và phá hủy khả năng của Bắc Việt Nam ủng hộ các lực lượng ở Nam Việt Nam".

Thiếu tá Carl H. Jeffcoat, một phi công Mỹ bị bắt trong chiến dịch "Linerbacker 2" ngay tại Hà Nội đă không ngần ngại cáo buộc ngay chính Tổng thống Nixon: "Ở Mỹ, tất nhiên có người nói không đúng sự thật. Đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) đôi lúc cũng có thể nói sai. Cũng có thể có nghị sỹ này, bộ trưởng kia nói không thật đúng. C̣n tổng thống của chúng tôi th́ tôi nghĩ rằng ông ta đă nói là có cơ sở, có đầy đủ cơ sở để nói Tuyệt đối đúng. Thật thà và Trung thực là yêu cầu số một mà người dân Mỹ trông đợi đối với tổng thống của họ...

Không thể khác được. Nếu tổng thống mà nói không đúng sự thật th́ mất ḷng tin của người dân Mỹ. Đông đảo dân Mỹ mà mất ḷng tin ở người cần được tin nhất là tổng thống, th́ chế độ Mỹ sụp đổ! Từ lúc đi học, chúng tôi đă nhiều lần nghe nói: ở Mỹ ḷng tin vào tổng thống cũng ngang như, thậm chí c̣n quan trọng hơn ḷng tin ở Chúa!"
.

Và kết quả là sự dối trá đă chuốc lấy thất bại thảm hại cho nước Mỹ khi tham chiến ở Việt Nam. Ngày nay, bài học xưa của nước Mỹ dường như chưa được người ta thuộc ḷng. Sự dối trá đang được lặp lại nhưng với quy mô lớn hơn trước, bài bản hơn trước và mức độ trắng trợn của sự dối trá dường như cũng lớn hơn trước. Tập đoàn bành trướng bá quyền đang xây dựng rất công phu hệ thống nói dối lớn nhất hành tinh để nói dối và lừa bịp 1,3 tỷ người bản địa và hàng trăm triệu người trên thế giới ḥng hiện thực hóa mưu đồ ngông cuồng của chúng. Thế nhưng tất cả những cái đó thảy đều là phi nhân tính nên không thể nào thuận ḷng người và phù hợp quy luật (ư trời) được. Tất cả rồi sẽ biến thành mây khói trong chốc lát. Chỉ có hàng tỷ người dân vô tội là kẻ phải gánh chịu hậu quả thê thảm sẽ xảy ra trong tương lai mà thôi.

Posted by: dtvt2006 Dec 17 2012, 10:31 PM

QUOTE (VuHungAnh @ Dec 17 2012, 09:34 PM) *
Nh́n lại chuyện xưa nhớ chuyện nay. Dường như ư nghĩa của chiến thắng đă qua vẫn c̣n nằm ở tương lai?



40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không

68 năm thành lập Quân đội Nhân dân Việt Nam


Thế là đă 40 năm trôi qua kể từ tháng 12/1972 ác liệt năm ấy. Nói về sự kiện này, người ta thường nói “trận huyết chiến 12 ngày đêm”, "trận Điện Biên Phủ trên không" hoặc “cuộc tập kích chiến lược trong 12 ngày đêm của không quân Mỹ trên bầu trời Hà Nội, Hải Pḥng”. Thật là một sự kiện long trời lở đất. Sự vĩ đại của chiến thắng này và ư nghĩa to lớn quyết định chiến cuộc của nó khiến nó được mang tên gọi “chiến thắng Điện Biên Phủ trên không”. Ta hăy cùng hồi tưởng lại cái không khí sục sôi của 12 ngày đêm cuối năm 1972 ấy qua một sáng tác nổi tiếng không thể không nhắc tới ở đây:


Bối cảnh

Kể từ khi Mỹ đưa quân vào miền nam nước ta năm 1964, mặc dù chúng triển khai nhiều âm mưu và thủ đoạn cũng như các chiến dịch khác nhau nhưng đều bị quân dân ta làm cho thất bại. Thừa thắng xông lên, tết Mậu Thân 1968, quân và dân ta tiến hành cuộc tổng tấn công và nổi dậy trên toàn miền Nam buộc đế quốc Mỹ và tay sai phải ngồi vào bàn đàm phán ở Hội nghị Paris tháng 5/1968 để bàn về việc kết thúc chiến tranh xâm lược Việt Nam.

Tuy nhiên, cho đến tháng 11/1972, Hội nghị 4 bên ở Paris đă họp đến gần 160 phiên nhưng vẫn bế tắc. Nhận định kẻ thù ắt sẽ dùng con bài chiến lược cuối cùng là không quân ḥng giành thế chủ động trên bàn Hội nghị Paris, Bộ Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam đă lệnh cho các lực lượng vũ trang: “Có nhiều khả năng địch sẽ đánh phá trở lại toàn miền Bắc với mức độ ác liệt hơn, kể cả việc dùng pháo đài bay chiến lược B52 đánh vào Hà Nội, Hải Pḥng. Do đó nhiệm vụ của quân chủng Pḥng không – Không quân là tập trung mọi khả năng, nhằm đúng đối tượng B52 mà tiêu diệt”.

Đúng như dự đoán, ngày 14/12/1972, Tổng thống Mỹ R. Nixon kư phê chuẩn chiến dịch Linebecker 2, bắt đầu đánh phá bằng đường không vào Hà Nội, Hải Pḥng từ 7 giờ sáng ngày 18/12/1972 (giờ Washington, c̣n giờ Hà Nội là 19 giờ ngày 18/12/1972), đồng thời tiếp tục thả thuỷ lôi phong toả cảng Hải Pḥng. Cuộc tập kích chiến lược bằng B52 kéo dài 12 ngày đêm, từ 18/12 đến 29/12/1972 đă phá tan tành hai thành phố lớn cùng hầu hết các cơ sở kinh tế của chúng ta kèm theo hàng ngàn dân thường thiệt mạng nhưng đă kết thúc bằng thất bại thảm hại của không lực Hoa Kỳ.

B52 là ǵ?

B52 là loại "siêu pháo đài bay chiến lược" do hăng Boeing sản xuất, chiếc đầu tiên được đưa bay thí nghiệm vào 16/4/1952 nên được gọi B52. Sau 20 năm, đến năm 1972, B52 đă trải qua 8 lần cải tiến từ B-52A đến B-52G, B-52H. Mỗi chiếc B-52G hoặc H (loại bị bắn rơi tại Hà Nội tháng 12/1972) có thể mang trên dưới 100 quả bom với tổng trọng lượng từ 17 đến 30 tấn cùng nổ chỉ trong phạm vi 3 đến 10 giây đồng hồ.

Về kích thước, B52 cao hơn 12 mét, dài hơn 49 mét, sải cánh hơn 56 mét và nặng trên 200 tấn. B52 khi mang 30 tấn bom có thể bay cao 20 km và bay liên tục 20.000 km không cần tiếp nhiên liệu. Mỗi B52 được trang bị 15 máy điện tử phát nhiễu chống các loại ra-đa của đối phương. Khi B52 tấn công mục tiêu c̣n có máy bay EB66 gây nhiễu phía ngoài và nhiều tốp F4 thả nhiễu tiêu cực là những bó sợi hợp kim nhôm trong khu vực có độ dài khoảng từ 40 km đến 70 km, dầy khoảng 2km để gây nhiễu. Trung b́nh mỗi B52 đi chiến đấu có 7 máy bay chiến thuật đi kèm. Với những tính năng ưu việt và được đội h́nh máy bay tiêm kích, máy bay gây nhiễu điện tử dày đặc bảo vệ, B52 là "con quái vật" rất khó bị tiêu diệt...

Hoa Kỳ cho rằng “Đối phương không thể có cách chống đỡ và không c̣n một sinh vật nào tồn tại nổi dưới những trận mưa bom kinh khủng của loại B52 bất khả xâm phạm”.

Diễn biến trận huyết chiến

Ngày đầu tiên của “Điện Biên Phủ trên không” (18/12/1972), 3 máy bay B52 bị tiêu diệt và trận quyết định ngày 26/12/1972 có 8 máy bay B52 bị tiêu diệt.

Đêm 18 rạng sáng ngày 19/12/1972, Đế quốc Mỹ cho 87 lần chiếc B52, 135 lần chiếc máy bay chiến thuật ném bom Hà Nội. Đêm 19/12, chúng tổ chức tiếp 3 đợt bắn phá dă man Hà Nội với 93 lần chiếc B52 và 163 lần chiếc máy bay chiến thuật.

Đêm 20 rạng sáng 21/12/1972, không quân Mỹ đánh phá Hà Nội với 8 tốp B52 (24 chiếc), gần 170 chiếc máy bay chiến thuật. Đêm đầu, quân dân Hà Nội đă bắn rơi 3 B52 Mỹ, 4 máy bay chiến thuật, bắt sống 6 giặc lái. Chiếc B-52G đầu tiên rơi tại chỗ ở Phù Lỗ, Đông Anh. Sau đó ta hạ tiếp 7 B52, bắt sống nhiều giặc lái.

Mức độ B52 bị tiêu diệt đạt 17,6% (34/193 chiếc), vượt xa mức mà Nhà Trắng có thể chấp nhận được là từ 1 – 2%. C̣n báo chí phương Tây nhận định chua cay: “Cứ với tốc độ này, chỉ 3 tháng nữa B52 sẽ bị tuyệt chủng!”.

Trong phiên 171 của Hội nghị Paris tại lâu đài Kléber ngày 21/12/1972, vừa vào họp trưởng đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa tuyên bố: “Để biểu thị sự phản đối những cuộc ném bom cực kỳ dă man và thái độ đàm phán lật lọng của phía Mỹ, đoàn đại biểu Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa với sự đồng ư của đoàn đại biểu Cách mạng Lâm thời Cộng ḥa miền Nam Việt Nam quyết định bỏ phiên họp lần thứ 171”.


Ngày 21/12, ga Hàng Cỏ (ga Hà Nội hiện nay) và các phố lân cận như Lư Thường Kiệt, Trần Quư Cáp,
Nguyễn Khuyến bị đánh phá bằng bom điều khiển bằng laser. Các khu lao động cũng phải hứng những trận
mưa bom. Ngay đêm 18/12, đêm đầu của chiến dịch Linebacker 2, hơn 300 người đă thiệt mạng

Cả 2 đoàn Việt Nam bỏ Hội nghị ra về. Cuộc họp chỉ kéo dài 58 phút.

Đêm 28/12/1972, được thông báo có B52, thượng úy phi công Vũ Xuân Thiều nhận lệnh xuất kích. Anh báo cáo với trung đoàn trưởng: “Bắn mà B52 địch không rơi tại chỗ, tôi sẽ xin lao thẳng vào nó”.

21 giờ 45 ngày 28/12/1972, Vũ Xuân Thiều bắn bị thương chiếc B-52D của phi công Lewis rồi anh đă lao thẳng chiếc Mig của ḿnh vào B52 địch. Phía Hoa kỳ công nhận đây là chiếc máy bay cuối cùng bị không quân Bắc Việt bắn hạ tại chỗ.

Trong 12 ngày đêm cuối năm 1972, không lực Mỹ đă huy động gần một nửa số máy bay chiến lược B52 (193/400 chiếc) với 663 lần xuất kích; một phần ba số máy bay chiến thuật (1.077/3.041 chiếc) với 3.920 lần xuất kích, cùng nhiều lực lượng, phương tiện, vũ khí khác. Đó thực sự là một cuộc chiến tàn bạo và huỷ diệt mà theo Mỹ, chúng có thể biến Hà Nội thành b́nh địa...

Với tinh thần “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, đến ngày 29/12, riêng Hà Nội đă bắn rơi 23 B52, nhiều chiếc bị rơi ngay tại chỗ, bắt sống nhiều giặc lái.

Sau sự kiện này, Tổng thống Mỹ phải tuyên bố ngừng ném bom trên toàn miền Bắc Việt Nam từ 30/12/1972 và đi đến việc kư kết Hội nghị Paris ngày 27/1/1973 với cam kết "chấm dứt vô điều kiện chiến tranh ở Việt Nam đồng thời rút hết quân Mỹ về nước".

Ư nghĩa của chiến thắng

Việc đế quốc Mỹ kư kết hiệp định Paris với cam kết rút hết quân Mỹ khỏi Việt Nam chính là điều kiện tiên quyết “Mỹ cút” để sau đó chúng ta đánh cho “ngụy nhào” tiến tới thắng lợi cuối cùng năm 1975. Thế nhưng ư nghĩa của chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” không chỉ giới hạn ở đó.

Khi t́m hiểu quá tŕnh đi đến quyết định ném bom miền Bắc Việt Nam vào tháng 12/1972, chúng ta nhận thấy Tổng thống Mỹ R. Nixon đă lừa dối có hệ thống toàn dân Mỹ. Trước tháng 12/1972, tương quan lực lượng trên chiến trường đang nghiêng về phía có lợi cho VN nhưng phía Mỹ đă tuyên truyền đến dân Mỹ là “ḥa b́nh trong tầm tay”, c̣n trên thực tế bàn đàm phán họ phá vỡ cuộc thương lượng, đẩy mạnh ném bom miền Bắc để tạo sức ép làm tê liệt ư chí VN qua đó ḥng thu được kết quả đàm phán có lợi cho phía Mỹ. Thế nhưng trên báo chí lại nói là đàm phán thất bại là do phía VN thiếu thiện chí!

Với 35000 tấn bom ném xuống Hà Nội và Hải Pḥng th́ gạch vụn là mục tiêu thừa nhận của Lầu Năm Góc nhằm "làm tê liệt đời sống hàng ngày của Hà Nội và Hải Pḥng, và phá hủy khả năng của Bắc Việt Nam ủng hộ các lực lượng ở Nam Việt Nam".

Thiếu tá Carl H. Jeffcoat, một phi công Mỹ bị bắt trong chiến dịch "Linerbacker 2" ngay tại Hà Nội đă không ngần ngại cáo buộc ngay chính Tổng thống Nixon: "Ở Mỹ, tất nhiên có người nói không đúng sự thật. Đài tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) đôi lúc cũng có thể nói sai. Cũng có thể có nghị sỹ này, bộ trưởng kia nói không thật đúng. C̣n tổng thống của chúng tôi th́ tôi nghĩ rằng ông ta đă nói là có cơ sở, có đầy đủ cơ sở để nói Tuyệt đối đúng. Thật thà và Trung thực là yêu cầu số một của người dân Mỹ trông đợi đối với tổng thống của họ...

Không thể khác được. Nếu tổng thống mà nói không đúng sự thật th́ mất ḷng tin của người dân Mỹ. Đông đảo dân Mỹ mà mất ḷng tin ở người cần được tin nhất là tổng thống, th́ chế độ Mỹ sụp đổ! Từ lúc đi học, chúng tôi đă nhiều lần nghe nói: ở Mỹ ḷng tin vào tổng thống cũng ngang như, thậm chí c̣n quan trọng hơn ḷng tin ở Chúa!"
.

Và kết quả là sự dối trá đă chuốc lấy thất bại thảm hại cho nước Mỹ khi tham chiến ở Việt Nam. Ngày nay, bài học xưa của nước Mỹ dường như chưa được người ta thuộc ḷng. Sự dối trá đang được lặp lại nhưng với quy mô lớn hơn trước, bài bản hơn trước và mức độ trắng trợn của sự dối trá dường như cũng lớn hơn trước. Tập đoàn bành trướng bá quyền đang xây dựng rất công phu hệ thống nói dối lớn nhất hành tinh để nói dối và lừa bịp 1,3 tỷ người bản địa và hàng trăm triệu người trên thế giới ḥng hiện thực hóa mưu đồ ngông cuồng của chúng. Tất cả những cái đó thảy đều là phi nhân tính nên không thể nào thuận ḷng người và phù hợp quy luật (ư trời) được. Tất cả rồi sẽ biến thành mây khói trong chốc lát. Chỉ có hàng tỷ người dân vô tội là kẻ phải gánh chịu hậu quả thê thảm sẽ xảy ra trong tương lai mà thôi.


Tháng 10 vừa rồi, cơ quan em có cử em tham gia cuộc thi t́m hiểu 40 năm Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không (nói thật với các bác là em bị bắt buộc phải tham gia chứ em cũng không thích lắm) nên em đọc bài viết của bác VHA thấy cũng muốn spam một chút smile.gif. Ngoài bài viết của bác VHA ở trên, em nghĩ bác nào muốn t́m hiểu thêm th́ có thể đọc thêm ở đây: http://doanthanhnien.vn/docview/445/view.htm (file decuong40nam.doc đó các bác ạ). Ở đây có những con số thống kê khá chi tiết (tất nhiên ở trên internet th́ có rất nhiều tài liệu. Đây chỉ là đề cương mà TW Đoàn họ gửi cho em đợt vừa rồi).

C̣n về ca khúc, em nghĩ c̣n có một bài hát rất hay khác cũng ra đời trong sự kiện này, đó là bài hát:



Em spam chút, có ǵ không phải mong các bác bỏ qua cho em.

Posted by: VuHungAnh Dec 18 2012, 09:00 AM

Tài liệu dtvt2006 cung cấp rất chi tiết và rất hay. Có thể nói đó chính là sự cụ thể hóa, chi tiết hóa phần tóm tắt trong bài kỷ niệm ở trên của VHA. Có mấy chi tiết trong bài xin nói rơ thêm như sau:

- "Có một thực tế, khi đế quốc Mỹ tuyên bố sẽ dùng B.52 tiến hành cuộc tập kích chiến lược đường không đối với Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Pḥng và một số mục tiêu quan trọng khác trên miền Bắc, th́ một số nước trên thế giới đă khuyên ta nên chấp nhận những điều kiện mà Mỹ nêu ra".

Một số nước đó chính là Trung Quốc, kẻ luôn mong muốn VN măi măi nằm dưới sự đô hộ của ngoại bang, măi măi suy yếu để chúng dễ bề thực hiện âm mưu thôn tính dần dần "đất" và "nước" của VN ta! Khi Hội nghị Paris khởi xướng, bổn cũ soạn lại, Trung Quốc (và cả Liên Xô nữa!) xin được góp mặt cùng đàm phán với Mỹ (!) nhưng rút kinh nghiệm ở Hội nghị Geneve năm 1954 nơi TQ đă lũng đoạn Hội nghị này khiến cho VN phải bước tiếp một cuộc chiến tranh 21 năm với Mỹ, chúng ta đă từ chối sự tham dự đó và kết quả là Hội nghị Paris đă thành công rực rỡ.

- Năm 1962, khi Đại tá Phùng Thế Tài vừa được bổ nhiệm làm Tư lệnh Pḥng không, Bác Hồ đă gọi ông lên và hỏi: "Bây giờ chú là Tư lệnh Pḥng không, vậy chú đă biết ǵ về B.52 chưa"?, và Bác nói tiếp: "Nói thế thôi, chú có biết lúc này cũng chưa làm ǵ được nó. Nó bay trên cao mười cây số mà trong tay chú hiện nay chỉ mới có cao xạ thôi. Nhưng ngay từ nay, là Tư lệnh Pḥng không, chú phải theo dơi chặt chẽ và thường xuyên quan tâm đến thằng B52 này".

Như vậy ư nghĩ phải t́m cách tiêu diệt con át chủ bài của đế quốc Mỹ là B52 đă nảy sinh trong tư duy của lănh tụ thiên tài Hồ Chí Minh ít nhất từ 1962. Để đến 1966 Bác đă cử người vào Tây Ninh nghiên cứu cách đánh B52 và đển tháng 10/1972 đă có "Cẩm nang đánh B52".

- Theo tài liệu mà VHA có th́ tổng số bom đạn đế quốc Mỹ sử dụng trong 12 ngày đêm tháng 12/1972 là 35.000 tấn, lớn hơn hai lần con số trong tài liệu của dtvt2006 là 15.000 tấn.

- Hiện tại B52 vẫn là máy bay ném bom chiến lược của Mỹ.


Posted by: VuHungAnh Dec 19 2012, 11:13 AM

Cuối năm 1972, cả thế giới lo âu nh́n về Hà Nội, thế nhưng đại tướng Vơ Nguyên Giáp cùng Bộ Tổng tư lệnh, Quân chủng Pḥng không - Không quân đă dự kiến cho những phương án thua trên bầu trời Hà Nội của không quân Mỹ.


Đại tướng Vơ Nguyên Giáp và câu hỏi bất ngờ


Theo hồi ức của thượng tướng Phùng Thế Tài, nguyên Tư lệnh Quân chủng Pḥng không không quân, cuối năm 1962, trong một lần ông được gặp, báo cáo với Chủ tịch Hồ Chí Minh về công tác sẵn sàng chiến đấu, Chủ tịch đă chỉ thị: “B52 bay cao hơn 10 cây số mà trong tay chú hiện nay chỉ có cao xạ thôi... Ngay từ bây giờ, là Tư lệnh Bộ đội Pḥng không, chú phải theo dơi chặt chẽ và phải thường xuyên quan tâm đến loại máy bay B52 này”.

Giữa năm 1964, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định quyết tâm: “Dù đế quốc Mỹ có lắm súng, nhiều tiền, dù chúng có B57, B52 hay “bê” ǵ đi chăng nữa, ta cũng đánh. Từng ấy máy bay, từng ấy quân Mỹ ta cũng đánh; mà đă đánh là nhất định thắng”. Năm 1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiên đoán: “Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng đưa B52 ra đánh Hà Nội, rồi có thua mới chịu thua. Ở Việt Nam, Mỹ nhất định thua, nhưng nó chỉ thua sau khi thua trên bầu trời Hà Nội”.

Trong cuốn sách “Chiến tranh Việt Nam là thế đó” xuất bản tại Ukraine năm 2005, đă được Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia dịch sang tiếng Việt, thượng tướng Khiupênen, nguyên Trưởng đoàn chuyên gia quân sự Liên Xô tại Việt Nam từng nói: “Trao vũ khí tên lửa cho các bạn Việt Nam là trao nó cho những bộ óc sáng tạo và những bàn tay vàng”.

Thật vậy! Trước và sau cuộc chiến tranh Việt Nam, hầu như chưa có một máy bay B52 nào của Mỹ bị bắn hạ trên thế giới (trong chiến tranh vùng Vịnh 1991, chỉ có một chiếc B52 bị rơi do các hoạt động của đối phương). Với tầm bay cao, được bảo vệ bởi nhiều máy bay tiêm kích và hệ thống gây nhiễu điện tử hiện đại, có thể nói B52 là một pháo đài bay không thể bị bắn rơi. Đặc biệt, nhiễu điện tử của không quân Mỹ như một bức màn chắn đă gây khó khăn lớn cho bộ đội pḥng không không quân.

Trong tháng 4/1972, đă có trận đánh bộ đội tên lửa phóng 30 quả đạn nhưng không hạ được một chiếc B52 nào. Quyết tâm biến sở trường của địch thành sở đoản, Quân chủng Pḥng không không quân đă cử những đoàn cán bộ giỏi vào các chiến trường nghiên cứu cách chống nhiễu, đánh máy bay địch. Từ thực tế chiến trường, đoàn cán bộ đă rút ra nhiều bài học kinh nghiệm quư báu, xây dựng thành những cẩm nang “Cách chống nhiễu thông tin”, “Quy tŕnh bắt B52 trong nhiễu”... và đặc biệt là cuốn sách “Cách đánh B52 của Bộ đội tên lửa”.

Cuốn sách này được in rô-nê-ô có b́a màu đỏ, dày 30 trang đánh máy, là sự đúc kết kinh nghiệm, công sức, trí tuệ của một tập thể và phải đổi bằng cả xương máu của nhiều cán bộ, chiến sĩ; c̣n được gọi là Sách đỏ diệt B52... Cuốn cẩm nang đánh B52 hoàn chỉnh trong tháng 11/1972 và nhanh chóng được phổ biến, triển khai đến các đơn vị chiến đấu; đă góp phần làm sụp đổ thần tượng “Pháo đài bay B52”.

Lực lượng ṇng cốt của quân đội Việt Nam chống lại “con bài chiến lược” B52 của Mỹ là các đơn vị tên lửa pḥng không với những bệ phóng tên lửa SAM 2. Từ rất sớm, bộ đội radar, tên lửa đă được luyện tập các phương án để có thể phát hiện và ngăn chặn B52, bảo vệ Hà Nội, Hải Pḥng. Tháng 5/1972, đại tướng Vơ Nguyên Giáp bất ngờ nêu câu hỏi với các cán bộ tham mưu tác chiến của Quân chủng: “Tỷ lệ B52 bị bắn rơi mức độ nào th́ Nhà Trắng rung chuyển, mức độ nào th́ Mỹ không chịu nổi, phải thua?”.


Đại tướng Vơ Nguyên Giáp làm việc với Bộ Tư lệnh Pḥng không - Không quân
xác định phương án tác chiến đánh B52 bảo vệ Hà Nội, tháng 11/1972

Cho đến lúc đó những phương án đánh B52 trên bầu trời Hà Nội, Hải Pḥng đều đă có những yêu cầu về hiệu suất chiến đấu từng trận, từng ngày, nhưng chưa nói đến chỉ tiêu tỷ lệ bắn rơi B52. Đại tướng Tổng tư lệnh đă phát hiện ra thiếu sót đó và yêu cầu bổ khuyết kịp thời. Sau mấy tuần vật lộn với những con số, các cán bộ tham mưu pḥng không không quân đă đưa ra câu trả lời: N1 (tỷ lệ Mỹ chịu đựng được) là 1-2% (trên tổng số B52 tham chiến của Mỹ); N2 (tỷ lệ làm Nhà Trắng rung chuyển) là 6-7%; N3 (tỷ lệ buộc Mỹ thua cuộc) là trên 10%.

Câu hỏi tiếp theo của Tổng tư lệnh là Quân chủng chọn tỷ lệ nào? Câu trả lời lần này có ngay lập tức: Chúng tôi loại trừ N1, quyết tâm đạt N2 và vươn tới N3.

Đại tướng chỉ thị muốn vậy quân chủng phải làm tốt hai việc: Khẩn trương hoàn thành kế hoạch đánh B52 bảo vệ Hà Nội, Hải Pḥng để dựa vào đó hoàn tất mọi công tác chuẩn bị; Gấp rút hoàn chỉnh các tài liệu về cách đánh B52 để lấy đó mà huấn luyện cho bộ đội thật thành thạo.

Quân chủng Pḥng không không quân đă thực hiện xuất sắc chỉ thị đó, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu N3. Trong 12 ngày đêm mùa đông tháng 12 năm 1972, 34 chiếc B52 bị bắn hạ, đạt tỷ lệ là 17,6% (34/197). Hà Nội góp công trong đó 23 chiếc.

Nhiều năm sau khi nhắc lại chuyện đó, những người trong cuộc đều h́nh dung ra một mối liên hệ đặc biệt giữa câu hỏi của vị tướng với câu trả lời, và cả chiến thắng lẫy lừng trong 12 ngày đêm lịch sử. Dường như âm vang của chiến thắng Điện Biên 1954 đă được đại tướng Vơ Nguyên Giáp gửi gắm vào câu hỏi mang đầy tính “khích tướng” đó, để rồi Quân chủng Pḥng không không quân đă tiếp thu một cách trọn vẹn và quyết tâm làm nên một Điện Biên Phủ trên không “vô tiền khoáng hậu”. (Theo An ninh thủ đô)

Posted by: Hoacamchuong Dec 19 2012, 12:31 PM

QUOTE (VuHungAnh @ Dec 19 2012, 11:13 AM) *
Cho đến lúc đó những phương án đánh B52 trên bầu trời Hà Nội, Hải Pḥng đều đă có những yêu cầu về hiệu suất chiến đấu từng trận, từng ngày, nhưng chưa nói đến chỉ tiêu tỷ lệ bắn rơi B52. Đại tướng Tổng tư lệnh đă phát hiện ra thiếu sót đó và yêu cầu bổ khuyết kịp thời. Sau mấy tuần vật lộn với những con số, các cán bộ tham mưu pḥng không không quân đă đưa ra câu trả lời: N1 (tỷ lệ Mỹ chịu đựng được) là 1-2% (trên tổng số B52 tham chiến của Mỹ); N2 (tỷ lệ làm Nhà Trắng rung chuyển) là 6-7%; N3 (tỷ lệ buộc Mỹ thua cuộc) là trên 10%.

Câu hỏi tiếp theo của Tổng tư lệnh là Quân chủng chọn tỷ lệ nào? Câu trả lời lần này có ngay lập tức: Chúng tôi loại trừ N1, quyết tâm đạt N2 và vươn tới N3.

Đại tướng chỉ thị muốn vậy quân chủng phải làm tốt hai việc: Khẩn trương hoàn thành kế hoạch đánh B52 bảo vệ Hà Nội, Hải Pḥng để dựa vào đó hoàn tất mọi công tác chuẩn bị; Gấp rút hoàn chỉnh các tài liệu về cách đánh B52 để lấy đó mà huấn luyện cho bộ đội thật thành thạo.

Quân chủng Pḥng không không quân đă thực hiện xuất sắc chỉ thị đó, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu N3. Trong 12 ngày đêm mùa đông tháng 12 năm 1972, 34 chiếc B52 bị bắn hạ, đạt tỷ lệ là 17,6% (34/197). Hà Nội góp công trong đó 23 chiếc.

Nhiều năm sau khi nhắc lại chuyện đó, những người trong cuộc đều h́nh dung ra một mối liên hệ đặc biệt giữa câu hỏi của vị tướng với câu trả lời, và cả chiến thắng lẫy lừng trong 12 ngày đêm lịch sử. Dường như âm vang của chiến thắng Điện Biên 1954 đă được đại tướng Vơ Nguyên Giáp gửi gắm vào câu hỏi mang đầy tính “khích tướng” đó, để rồi Quân chủng Pḥng không không quân đă tiếp thu một cách trọn vẹn và quyết tâm làm nên một Điện Biên Phủ trên không “vô tiền khoáng hậu”. (Theo An ninh thủ đô)


Tuyệt vời! Cảm ơn VuHungAnh!

Posted by: VuHungAnh Dec 27 2012, 04:47 PM

Cảm ơn bác Hoacamchuong đă động viên.

Kể từ trận chiến trên không năm 1972 ấy, thời gian đă lùi xa 40 năm. Một quăng thời gian đủ để mọi chuyện trở thành quá khứ và những điều bí mật năm xưa bây giờ dần dần được tiết lộ. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng Điện Biên Phủ trên không, những bí mật về trận chiến ấy đă giúp ta hiểu sâu hơn về nghệ thuật quân sự VN v́ có lẽ phải 10 năm nữa, vào dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng này th́ báo chí mới lại có dịp nói nhiều nữa. Việc t́m hiểu nghệ thuật quân sự Việt Nam trong cuộc đối đầu quyết định năm 1972 ấy giúp ta càng tin tưởng vào sự lănh đạo của trên trong cuộc chiến mới có thể đang chờ ta ở phía trước.


Nghệ thuật quân sự Việt Nam


Đ̣n giáng trả của Việt Nam làm sụp đổ cuồng vọng của đế quốc Mỹ trong 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972 thực ra đă được chuẩn bị từ lâu, chi tiết, kỹ lưỡng và nhiều mặt:

1) Từ 1962, Hồ Chủ tịch đă phát hiện sự lợi hại của vũ khí chiến lược B52 của đế quốc Mỹ và yêu cầu lănh đạo Quân chủng Pḥng không – Không quân nghiên cứu để t́m ra cách đánh.

2) Năm 1966, Quân ủy Trung ương đă cử một đoàn cán bộ cao cấp quân đội vào tận chiến trường Tây Nam Bộ nghiên cứu B52 qua các vết bom rải thảm, tốc độ bay, đội h́nh bay, giờ giấc hoạt động để t́m cách đánh B52.

3) Tháng 5/1966, Trung đoàn tên lửa 238 được điều vào Vĩnh Linh để nghiên cứu đánh B-52. Tại đây, ngày 17/9/1967, trung đoàn này đă bắn rơi chiếc B-52 đầu tiên, viết những ḍng đầu tiên trong cẩm nang “Cách đánh B52”.

4) Ngày 22/11/1972, Trung đoàn tên lửa 263 ở tây Nghệ An bắn hạ một B52. Chiếc máy bay này rơi ở phía tây Nakhomphanom, cách căn cứ Utapao (Thái Lan) 64 kilômét. Hăng thông tấn Mỹ UPI buộc phải thú nhận tin này. Tuy không bắn rơi máy bay tại chỗ, nhưng lư thuyết đánh B52 bước đầu đă được thực tiễn kiểm nghiệm.

5) Tháng 10/1972 biên soạn xong tài liệu “Cách đánh B52” và được Bộ tư lệnh quân chủng thông qua tại Hội nghị rút kinh nghiệm chiến đấu.

6) Quân ủy Trung ương mà trực tiếp và sâu sát là Đại tướng Vơ Nguyên Giáp đă nêu vấn đề và yêu cầu Quân chủng PK – KQ nghiên cứu để trả lời cho rơ: “Tỷ lệ B52 bị bắn rơi mức độ nào th́ Nhà Trắng rung chuyển, mức độ nào th́ Mỹ không chịu nổi, phải thua?”. Rơ ràng ư tưởng chủ đạo của Trung ương là nhằm thẳng vào con át chủ bài của đế quốc Mỹ là B52 mà đánh cho dập đầu. Đó là một tư tưởng hết sức sáng suốt.

7) Bước vào trận đánh 12 ngày đêm, cuộc đấu trí vẫn không ngừng nghỉ:
- Ta nghiên cứu hướng bay của địch để tạo trận địa mai phục cho cả lưới lửa Pḥng không lẫn Không quân cất cánh.
- Trận địa giả được dựng lên để địch bỏ bom vào chỗ trống.
- Nhấn nút giả phóng tên lửa nhưng kỳ thực là dành tên lửa cho cú đánh quyết định.
- Lấy tín hiệu bên sườn th́ B52 hiện lên rơ mồm một.
- Thay đổi và lắp ráp linh kiện cho rada và tên lửa ngay tại trận địa để phá tác dụng của máy phát hiện rađa lắp trên B52.
- Gắn MiG-21 dưới thân trực thăng cho cất cánh để khắc phục sự cố đường băng sân bay bị đánh phá…

8) Lập sân bay dă chiến ở Quảng B́nh chặn đường B52 ngay từ lúc chúng vừa từ biển vào để đánh ngay tạo sự bất ngờ và hiệu quả cao.

9) Cất cánh ngay từ Quảng B́nh và Đồng Hới để ném bom tàu khu trục Mỹ đang đỗ ngoài biển nhằm tạo hiệu quả và tiếng vang lớn cho bàn đàm phán ở Hội nghị Paris…

Sau khi Hiệp định Paris được kư kết, ngày 8/2/1973 tiến sĩ Henry Kissinger sang thăm Hà Nội theo lời mời của phía ta. Ra đón cố vấn Mỹ không phải ai khác chính là người quen biết cũ của ông: cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ. Ông đă đưa Kissinger tới thăm Viện bảo tàng lịch sử. Khi nghe giới thiệu dân tộc Việt Nam đă ba lần chiến thắng quân Nguyên, Kissinger thốt lên: "Với chúng tôi một lần đánh nhau với các ông cũng thấy là quá đủ!".

Trong bữa cơm tiễn, được thưởng thức thứ rượu nếp cái hoa vàng cất ở vùng quê Nam Định, cố vấn Mỹ Kissinger cứ gật gù măi và sung sướng ra mặt khi cố vấn Lê Đức Thọ bảo thư kư tặng cho ông ta hai chai rượu trong văn vắt, nút lá chuối khô. Kissinger trầm ngâm thú nhận: "Thực ra trong trận chiến vừa qua, người Mỹ không hề ngại SAM-2. Cái khiến người Mỹ chúng tôi ngán ngại nhất chính là trí thông minh của người Việt Nam…"

Chắc chắn những điều trên đây chưa phải là toàn bộ bí mật quân sự của chiến thắng Điện Biên Phủ trên không ngày nào. Rồi đây chúng ta sẽ c̣n được biết đến những bí mật khác nữa. Việc tiết lộ những bí mật đó chẳng hề giúp ích ǵ cho kẻ thù tương lai của chúng ta v́ diễn biến trận địa nay đă khác, trang bị khí tài của ta đă hiện đại hơn rất nhiều, thế đứng của ta cũng đă khác, tương quan lực lượng cũng không như xưa nữa. Hơn nữa c̣n có một điều không bao giờ kẻ thù lường được, đó là: trí thông minh của người Việt ta trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc ḿnh bao giờ cũng vượt xa âm mưu của kẻ thù.

Posted by: Hoacamchuong Dec 27 2012, 08:56 PM

QUOTE (VuHungAnh @ Dec 27 2012, 04:47 PM) *
Chắc chắn những điều trên đây chưa phải là toàn bộ bí mật quân sự của chiến thắng Điện Biên Phủ trên không ngày nào. Rồi đây chúng ta sẽ c̣n được biết đến những bí mật khác nữa. Việc tiết lộ những bí mật đó chẳng hề giúp ích ǵ cho kẻ thù tương lai của chúng ta v́ diễn biến trận địa nay đă khác, trang bị khí tài của ta đă hiện đại hơn rất nhiều, thế đứng của ta cũng đă khác, tương quan lực lượng cũng không như xưa nữa. Hơn nữa c̣n có một điều không bao giờ kẻ thù lường được, đó là: trí thông minh của người Việt ta trong cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc ḿnh bao giờ cũng vượt xa âm mưu của kẻ thù.


Bài viết thật hay, VuHungAnh ạ.
40 năm rồi nh́n lại, đọc lại vẫn thấy cái cảm giác sung sướng đến trào nước mắt khi chính đương kim Tổng thống Mỹ R. Nixon lúc bấy giờ phải tuyên bố ngừng ném bom miền Bắc Việt Nam (từ vĩ tuyến 20 trở ra) và "mời" Việt Nam trở lại bàn đàm phán ở Hội nghị Paris. Cái tuyên bố muộn màng và đáng hổ thẹn này của Tổng thống Mỹ thực ra là một sự thừa nhận cái chiến dịch tàn bạo Line Backer II đă thảm bại!
Chúng ta đă đại thắng!
Bây giờ nhắc lại sự kiện ấy, báo chí của ta mới dùng chữ đại thắng, chứ ngay năm 1972, không thấy "báo" nào dùng cả.
HCC tôi vốn là chiến sĩ báo vụ kiêm tiêu đồ của F.363 (bộ đội Pḥng không Hải Pḥng), đơn vị "chia lửa" với F.361 (Pḥng không Hà Nội) nên tôi hiểu rất rơ cái giá phải trả cho chiến thắng vĩ đại này. Và v́ thế tôi (và các đồng đội) chưa bao giờ hết hănh diện và tự hào về Hà Nội - Điện Biên Phủ trên không cả!
Ngày ấy, chúng tôi cũng đă biết, Trung Quốc đă làm ǵ. Họ bắt tay với Mỹ để "ngăn cản Hà Nội", mà báo Nhân dân từng đăng bài xă luận Thắng lợi của xu thế cách mạng để vạch rơ chân tướng của nhà cầm quyền Bắc Kinh khi dùng câu (đại ư) rằng "họ (Mỹ và Bắc Kinh- HCC) đă thỏa thuận trên lưng nhân dân Việt Nam v́ lợi ích riêng...", nên tôi rất thích đoạn viết này của bạn:

- "Có một thực tế, khi đế quốc Mỹ tuyên bố sẽ dùng B.52 tiến hành cuộc tập kích chiến lược đường không đối với Thủ đô Hà Nội, thành phố Hải Pḥng và một số mục tiêu quan trọng khác trên miền Bắc, th́ một số nước trên thế giới đă khuyên ta nên chấp nhận những điều kiện mà Mỹ nêu ra".

Một số nước đó chính là Trung Quốc, kẻ luôn mong muốn VN măi măi nằm dưới sự đô hộ của ngoại bang, măi măi suy yếu để chúng dễ bề thực hiện âm mưu thôn tính dần dần "đất" và "nước" của VN ta! Khi Hội nghị Paris khởi xướng, bổn cũ soạn lại, Trung Quốc (và cả Liên Xô nữa!) xin được góp mặt cùng đàm phán với Mỹ (!) nhưng rút kinh nghiệm ở Hội nghị Geneve năm 1954 nơi TQ đă lũng đoạn Hội nghị này khiến cho VN phải bước tiếp một cuộc chiến tranh 21 năm với Mỹ, chúng ta đă từ chối sự tham dự đó và kết quả là Hội nghị Paris đă thành công rực rỡ.


Sáng nay, Đài truyền h́nh Đồng Nai (DN2-RTV) đă phát lại bộ phim tài liệu về "chiến thắng 12 ngày đêm", giọng phát thanh viên trong phim đọc rất rơ ràng ngay ở đầu phim: "Nhà cầm quyền phản động ở Bắc Kinh đă câu kết với đế quốc Mỹ để ngăn cản chúng ta đánh Mỹ. Được sự bật đèn xanh của Bắc Kinh, Nixon đă tiến hành chiến dịch Line Backer II...". Rồi ở cuối phim, vẫn giọng đó đọc câu kết luận: "Nếu như có một liên minh ma quỷ tàn bạo và xảo quyệt, th́ đó là liên minh phản động Bắc Kinh - Hoa Kỳ".

Vâng, cái điều ai cũng rơ từ lâu, rất lâu, nhưng rất ít khi được công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, lạ thật!
Một lần nữa cảm ơn bài viết rất hay của bạn VuHungAnh.

Posted by: Hậu sinh.2 Dec 28 2012, 11:34 AM

Hehe, em thấy khai thác các dịp giỗ quẩy theo kiểu bớt đánh kẻ thù cũ mà tận dụng để xoay sang đá đểu kẻ thù xưa&nay này của bác VHA và bác Hoacamchuong rất hay.

Posted by: VuHungAnh Dec 28 2012, 03:29 PM

Xin cảm ơn bác Hoacamchuong đă động viên rất nhiều lần! Cảm ơn Hậu Sinh đă quan tâm.

Bây giờ xin nói tới những vấn đề xung quanh một ca khúc gắn liền với chiến thắng lẫy lừng trong 12 ngày đêm đánh Mỹ năm 1972 mà thật ra chưa bao giờ được nói cho trọn vẹn và hết ư mặc dù người viết đă nhiều lần có ư định t́m hiểu đến cùng, nhưng rốt cuộc đến giờ mới đủ tư liệu để khẳng định.



Câu chuyện về một bài ca


Bài ca nói tới ở đây chính là bài Hà Nội – Điện Biên Phủ sáng tác của nhạc sĩ Phạm Tuyên. Xung quanh bài hát này có nhiều điều c̣n chưa được làm rơ. Tất cả là do bài hát quá nổi tiếng, xuất hiện đúng vào thời điểm gay cấn nhất trong 12 ngày đêm quân dân Hà Nội giáng trả cuộc tập kích của không lực Huê Kỳ vào Thủ đô ta. Vấn đề ai hát và hát lúc nào thật ra không quá quan trọng bằng việc xác định cho rơ: phải chăng chính nhạc sĩ Phạm Tuyên là người đầu tiên đưa lên truyền thông đại chúng cụm từ “Hà Nội – Điện Biên Phủ” và qua đó là cụm từ “Điện Biên Phủ trên không”? Nhân dịp kỷ niệm 40 năm bài ca bất hủ Hà Nội – Điện Biên Phủ ra đời, tôi quyết định làm cuộc phỏng vấn trực tiếp người sáng tác ra nó. Cuộc nói chuyện diễn ra vào chiều 26/12/2012.

Nhạc sĩ Phạm Tuyên

- Alo, bác Phạm Tuyên đấy ạ? Cháu chào bác ạ.

- Nhạc sĩ Phạm Tuyên đây. Ai đấy?

- Thưa bác, cháu đă đến thăm bác cùng một nhóm hồi tháng 8 vừa rồi đấy ạ.

- À, nhớ rồi. Vậy hôm nay có điều ǵ hỏi ḿnh đây nào?

- Thưa bác, dịp kỷ niệm 40 năm chiến thắng B52 này th́ không thể nào không nói về bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ. Mấy hôm trước cháu đă nghe bạn bè kể lại là bác có xuất hiện trên truyền h́nh và nói về bài hát này rồi nhưng vẫn c̣n nhiều ư kiến chưa thống nhất do nghe chưa rơ hoặc nghe kể lại... Hôm nay xin bác cho biết rơ để cháu chuyển thông tin lên mạng cho rơ ràng. Vậy th́ bài hát này đă được tŕnh diễn như thế nào?

- Ḿnh viết xong th́ chuyển sang báo Nhân Dân để in, đồng thời thu thanh luôn tại pḥng thu 58 Quán Sứ. V́ lúc đó Đài đă sơ tán gần hết ra khỏi Hà Nội, c̣n lại một bộ phận nhỏ trực chiến nên chỉ có anh Trần Thụ, anh Mạnh Hà hát, anh Hoàng Mănh đệm piano. Lúc sau ḿnh đứng bên cạnh nên cũng vào hát cùng…

- Như vậy có thể nói bản thu đầu tiên là do tam ca Phạm Tuyên, Trần Thụ và Mạnh Hà thực hiện?

- Đúng như vậy. Sau đó sang đầu năm 1973 mới chuyển bản nhạc vào khu sơ tán cho đoàn ca nhạc Đài thể hiện với lĩnh xướng là Trần Khánh. Gọi là sang năm mới thế thôi chứ thực ra cũng chỉ cách nhau có hơn một tuần thôi mà. (Quả là như vậy v́ bản thu đầu thực hiện tối 28/12/1972 cũng chỉ c̣n 3 ngày nữa là sang năm mới 1973 rồi v́ tháng 12/1972 có 31 ngày – VHA)

- Thưa bác tóm lại không có bản thu nào chỉ có mỗi nghệ sĩ Mạnh Hà đơn ca hả bác? Cháu thấy có người nói Mạnh Hà có đơn ca riêng?

- Không có. Anh Mạnh Hà anh ấy cứ nói là đă từng đơn ca nhưng làm ǵ có. Sổ sách tôi ghi chép vẫn c̣n đây rất đầy đủ mà! (Cuốn sổ này đă được một thành viên trong Nhóm công tác của NCM khi đến thăm nhạc sĩ tại nhà đă được thấy. Theo lời kể th́ trong đó ghi rất chi tiết ngày tháng năm thu băng, bài hát nào, tác giả là ai, ai hát tốp ca, ai đơn ca, ai lĩnh xướng… – VHA).

Cho rằng vấn đề ai hát đă xong, VHA liền chuyển sang vấn đề quan trọng hơn mà bản thân đă phân vân nhiều năm nay đó là nguồn gốc của cụm từ “Hà Nội – Điện Biên Phủ”.

- Bác ơi, có điều cháu rất phân vân và báo chí mấy năm trước cũng có bài nói chính nhạc sĩ Phạm Tuyên là người đầu tiên nói đến tập hợp "Hà Nội – Điện Biên Phủ”. Như vậy là thế nào ạ? Cháu th́ nghĩ có lẽ bác công tác ở một cơ quan truyền thông đầu năo của đất nước nên tin tức cập nhật từng giờ từng phút. Bởi thế mà bằng sự nhạy bén của một nghệ sĩ lớn, bác đă phát hiện ra điểm tương đồng của trận đánh lớn lần này với trận Điện Biên Phủ năm xưa, từ đó mà bác đă gọi trận Hà Nội đánh Mỹ năm 1972 là trận Điện Biên Phủ trên không chăng? Nhờ thế mà ca khúc nổi tiếng vừa sáng tác được mang tên “Hà Nội – Điện Biên Phủ”?

- Đúng rồi. Tôi công tác ở Đài Tiếng Nói Việt Nam mà. Đấy là cơ quan trung ương về tuyên truyền của đất nước. Theo thông lệ b́nh thường th́ phải tham gia họp giao ban vào đầu tuần. Thế nhưng những ngày chiến tranh cuối 1972 th́ hầu như là họp giao ban hàng ngày. Trong một lần họp giao ban như thế vào ngày 27/12, tôi đă được nghe quyết tâm sắt đá từ Quân ủy Trung ương phổ biến tới là phải quyết biến trận đánh này thành một "trận Điện Biên Phủ”! Thế là trong tâm trí tôi cứ lơ lửng mấy chữ “Hà Nội – Điện Biên Phủ”, rồi “Điện Biên Phủ trên không”… Sau đó bài hát ra đời liền mang tên “Hà Nội – Điện Biên Phủ” như một tất yếu vậy!

- Như vậy là vào lúc đó mặc dù xuất phát từ sự gợi ư của Trung ương nhưng chính bác là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “Hà Nội – Điện Biên Phủ” trên truyền thông qua chính bài hát “Hà Nội – Điện Biên Phủ” được phát liên tục trong suốt những ngày cuối tháng 12/1972 và sang cả đầu 1973 đấy bác nhỉ?

- Cũng có thể nói là như vậy. V́ lúc đó ngoài bài hát Hà Nội – Điện Biên Phủ này ra th́ chưa thấy ở đâu nói như vậy cả. Thế là hôm nay bạn đă được gặp người thật việc thật rồi đấy nhé!

- Dạ vâng ạ. Như vậy câu hỏi cháu đă phân vân bao năm nay giờ đă được trả lời mỹ măn. Cháu cảm ơn bác rất nhiều. Xin chào và tạm biệt bác.

Posted by: VuHungAnh Jan 7 2013, 09:40 AM


Anh hùng Lê Đ́nh Chinh đă trở về quê hương


TTO - Sáng 6-1, Bộ chỉ huy Bộ đội biên pḥng tỉnh Thanh Hóa và UBND TP Thanh Hóa đă tổ chức lễ an táng hài cốt anh hùng, liệt sĩ Lê Đ́nh Chinh tại nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng (TP Thanh Hóa).


Lễ an táng hài cốt anh hùng liệt sĩ Lê Đ́nh Chinh tại nghĩa trang liệt sĩ Hàm Rồng, TP Thanh Hóa

Anh hùng Lê Đ́nh Chinh quê ở xă Hoằng Quang, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Anh nhập ngũ ngày 16/2/1975, ở đại đội 6, tiểu đoàn 2, trung đoàn 12 (c̣n gọi là đoàn Thanh Xuyên) thuộc Bộ tư lệnh Công an vũ trang nhân dân (nay là Bộ Tư lệnh Bộ đội biên pḥng Việt Nam).

Sau khi tham gia chiến đấu ở chiến trường Tây Nam chống quân Pol Pot xâm phạm biên giới, năm 1978 đơn vị của anh Chinh được điều động lên Lạng Sơn bảo vệ biên giới phía Bắc. Ngày 25/8/1978, khi đang chiến đấu bảo vệ đồng đội và cán bộ của ḿnh, anh Lê Đ́nh Chinh đă hi sinh.

Lúc hi sinh, anh là thượng sĩ, tiểu đội trưởng, đại đội 6, tiểu đoàn 2, trung đoàn 12, Bộ Tư lệnh Công an nhân dân vũ trang, đoàn viên Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh.


Liệt sĩ Lê Đ́nh Chinh hy sinh năm 18 tuổi

Sau khi hi sinh, hài cốt anh hùng Lê Đ́nh Chinh được an táng tại khu vực gần biên giới phía Bắc, sau đó được quy tập về nghĩa trang liệt sĩ huyện Cao Lộc (Lạng Sơn).

Trong những năm qua, gia đ́nh đă nhiều lần xin đơn vị đưa hài cốt của anh về quê an táng. Sau 35 năm nằm ở biên giới phía Bắc, đến nay Bộ chỉ huy Bộ đội biên pḥng Thanh Hóa, gia đ́nh, cùng đại diện ban liên lạc trung đoàn 12 đă tổ chức cất bốc, đưa hài cốt anh hùng, liệt sĩ Lê Đ́nh Chinh từ nghĩa trang liệt sĩ huyện Cao Lộc về an táng tại quê nhà Thanh Hóa.


Anh Lê Đ́nh Chinh là tấm gương sáng ngời về chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc. Ngay sau khi anh hi sinh, Trung ương Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh đă kịp thời tuyên dương công trạng và truy tặng anh huy hiệu "V́ thế hệ trẻ"; đồng thời phát động trong thế hệ trẻ Việt Nam phong trào "Sống, chiến đấu rực lửa anh hùng như Lê Đ́nh Chinh". Ngày 30/8/1978, liệt sĩ Lê Đ́nh Chinh được Chủ tịch nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam truy tặng danh hiệu "Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân".

Posted by: VuHungAnh Jan 10 2013, 06:16 PM


Thương nhớ nhạc sĩ Hoàng Hiệp


Nhạc sĩ Hoàng Hiệp đă đi xa măi măi vào hồi 12 giờ 45 phút ngày 9/1/2013 tại nhà riêng , hưởng thọ 82 tuổi. Thế là lại thêm một cây đại thụ của làng nhạc VN đă ra đi!


Nhạc sĩ Hoàng Hiệp (1/10/1931 – 9/1/2013)

Tiểu sử

Nhạc sỹ Hoàng Hiệp tên thật là Lưu Trần Nghiệp, sinh ngày 1/10/1931 tại xă Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. Tham gia cách mạng từ tháng 8/1945, Hoàng Hiệp cùng nhiều nhạc sĩ miền Nam tập kết ra Hà Nội và tham gia tu nghiệp sáng tác khóa đầu tiên của Trường Âm nhạc VN, nay là Học viện ANQG. Ông bắt đầu sáng tác từ năm 17 tuổi nhưng phải đến năm 1957, ông mới được biết đến nhiều qua bài hát "Câu ḥ bên bờ Hiền Lương" (sáng tác chung với Đằng Giao). Trong 20 năm sống ở Hà Nội, từ 1955 đến 1975, nhạc sỹ Hoàng Hiệp đă sáng tác hơn 100 ca khúc cách mạng. Trong đó có nhiều bài hát tiêu biểu cho âm nhạc giai đoạn này và có sức sống lâu bền như: Cô gái vót chông, Ngọn đèn đứng gác, Đất quê ta mênh mông, Trường Sơn đông- Trường Sơn tây, Lá đỏ…

Sau năm 1975, nhạc sỹ Hoàng Hiệp chuyển vào sống tại TP Hồ Chí Minh và công tác tại Nhà xuất bản Âm nhạc TP Hồ Chí Minh, sau chuyển sang Hội Âm nhạc thành phố. Có một thời gian ông làm Tổng Thư kư Hội Âm nhạc thành phố và vẫn tiếp tục sự nghiệp sáng tác một cách bền bỉ và tiếp tục đạt nhiều thành tựu. Ngoài những ca khúc kế thừa truyền thống cách mạng và thể hiện t́nh yêu quê hương, đất nước: Viếng Lăng Bác, Nhớ về Hà Nội, Sao anh không kể, Tổ Quốc mà không có…, ông c̣n sáng tác nhiều bài hát về t́nh yêu đôi lứa như: Mùa chim én bay, Em vẫn đợi anh về, Nơi anh gặp em, Về phía ấy t́nh yêu…

Những bài hát của nhạc sỹ Hoàng Hiệp có giai điệu và ca từ rất tha thiết, dễ nhớ, dễ đi vào ḷng người. Ông có biệt tài phổ thơ thành ca khúc. Những lời thơ khi trở thành ca từ trong bài hát của ông vẫn giữ nguyên ư nghĩa, giá trị và kết hợp nhuần nhuyễn cùng âm nhạc, tạo ra sức tác động lớn lao.

Năm 2000, nhạc sỹ Hoàng Hiệp được nhận Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật cho các tác phẩm: Câu ḥ bên bờ Hiền Lương, Cô gái vót chông, Ngọn đèn đứng gác, Trường Sơn đông - Trường Sơn tây, Viếng lăng Bác, Nhớ về Hà Nội.

Người nâng cánh những vần thơ

Trong cuộc đời sáng tác của ḿnh, ông đă phổ nhạc cho rất nhiều bài thơ và thực sự đă chắp cánh cho những bài thơ ấy bay cao bay xa hơn. Sinh thời khi được hỏi về việc tại sao lại có duyên với những bài thơ đến vậy, ông cho biết: những bài thơ chính là một sự gợi ư tuyệt vời cho nhiều tứ nhạc rồi, cảm hứng chính là đó, c̣n t́m ở đâu nữa, hơn thế, những bài thơ là những lời ca tốt nhất mà nhạc sĩ có thể sử dụng ngay không cần phải nghĩ ngợi ǵ nhiều…

Những bài thơ đó khi trở thành bài hát của ông, ta không c̣n thấy nhịp thơ rơ nét nữa mà đă trở thành bài hát với giai điệu và tiết tấu giàu tính nhạc. Phổ thơ tài t́nh và nhuyễn là phải như thế. Những bài hát ông sáng tác nhạc trên nền những bài thơ nổi tiếng bao gồm:

1- Câu ḥ bên bờ Hiền Lương (nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Đằng Giao) Thanh Huyền
2- Cô gái vót chông (nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Moloyclavi) Tường Vi
3- Ngọn đèn đứng gác (nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Chính Hữu) Quang Phác
4- Trường Sơn đông, Trường Sơn tây (nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Phạm Tiến Duật) Mạnh Hà
5- Chút thơ t́nh của người lính biển (nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Trần Đăng Khoa) Hoàng Phương
6- Mùa chim én bay (nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Diệp Minh Tuyền) Ngọc Điệp
7- Lá đỏ (nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Nguyễn Đ́nh Thi) Thúy Lan
8- Hát lên tiếng chim ngày mới (nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Chinh Văn) Huyền Hải & tốp nữ Đài TNVN.
9- Viếng lăng Bác (nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Viễn Phương) Lê Dung
10- Đất quê ta mênh mông (nhạc Hoàng Hiệp, lời thơ Bùi Minh Quốc) Quốc Hương

Những bài hát ông tự viết lời

Bản thân những bài hát Hoàng Hiệp tự viết lời cũng có lời ca rất trau chuốt không kém ǵ những bài thơ. Đó đều là tiếng ḷng của một nghệ sĩ lớn, một tâm hồn nhạy cảm hay một nhạc sĩ đ̣i hỏi khắt khe trong nghệ thuật. Một số bài là sự phản ánh xuất sắc công cuộc xây dựng đất nước sau chiến tranh vào âm nhạc với giai điệu rất đẹp, lời ca giàu ư nghĩa: một người lái xe có trách nhiệm trên tầng than ở vùng mỏ, một cặp t́nh nhân đang yêu trên cánh đồng lúa ở vùng chiêm trũng Nam Hà, một cô gái xă viên trẻ đang vui hát trên cánh đồng 10 tấn ở quê lúa Thái B́nh... tất thảy đều nói rằng nhạc sĩ đi nhiều, quan sát kỹ, rung cảm tinh tế và phong phú trên nhiều mặt cuộc sống chiến đấu và lao động sản xuất của người dân, là niềm vui trong sáng lành mạnh mà đến tận bây giờ khi nghe lại ta vẫn c̣n cảm động! Những tác phẩm ấy cũng chính là con người ông vậy: hiền hậu, kiệm lời mà vô cùng chân thành, sâu sắc và tràn đầy t́nh yêu thương. Một số bài trong những bài hát đó:

11- Hăy cho tôi lên đường (Hoàng Hiệp) Ái Vân thể hiện.
12- Hoa biên giới (Hoàng Hiệp) Thúy Lan hát:


13- Qua cầu Tùng Cốc (Hoàng Hiệp) Quốc Đông & Trọng Nghĩa thể hiện. Một bài hát có cái tên lạ tai nhưng rất hay viết về cuộc chiến đấu ác liệt năm xưa ở mảnh đất lửa là ngă ba Đồng Lộc, qua cặp song ca khá quyện:


Tùng Cốc Tùng Cốc! Tùng Cốc Tùng Cốc!
Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc
Đêm hoa xoan hoa khế một màu
Ḥm đạn trên xe và sao sáng trên đầu

Tùng Cốc Tùng Cốc! Tùng Cốc Tùng Cốc!
Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc
Đêm bom rơi pháo sáng đầy trời
Mà vẫn khôn ngăn đoàn xe ta cứ ra vào!

Ơi cây cầu như thể cuộc đời ta
Để đường dài lấy đây làm mốc
Mảnh đất này Xô-viết năm xưa
Lại ào ào cuốn vào cơn lốc!
Tùng Cốc Tùng Cốc! Đây Tùng Cốc Tùng Cốc!

Tiếng trống tiếng mơ – đă nổi lên rồi
Xe ta đi tư duy ṿng trở lại
Và tên cầu gơ nhịp măi không thôi!


14- Người lái xe trên tầng (Hoàng Hiệp) Mạnh Hà thể hiện rất hay:


15- Nhớ về Hà Nội (Hoàng Hiệp) Hồng Nhung
16- Phố tôi có một anh chàng (Hoàng Hiệp) Quang Hưng
17- Trở về ḍng sông tuổi thơ (Hoàng Hiệp) Lệ Thu
18- Về đất Mũi (Hoàng Hiệp) Chu Thanh Hương
19- Đường vùng chiêm (Hoàng Hiệp) Kiều Hưng & Bích Liên
20- Đường về Phú Châu (Hoàng Hiệp) Trần Thụ

Và đặc biệt c̣n một bài rất hay hiện chưa có trên net:

21- Hát trên đồng mười tấn (Hoàng Hiệp) Ái Vân.

Đó mới chỉ là một phần nhỏ trong gia tài hơn 400 bài hát mà ông viết gần 60 năm qua. C̣n nhiều bài hát khác nữa của ông cũng rất đặc sắc mà rồi đây dần dần chúng ta sẽ được biết tới. Xin kính cẩn nghiêng ḿnh vĩnh biệt ông!

Posted by: Hậu sinh.2 Jan 11 2013, 11:29 AM

QUOTE (VuHungAnh @ Jan 10 2013, 06:16 PM) *
...
13- Qua cầu Tùng Cốc (Hoàng Hiệp) Quốc Đông & Trọng Nghĩa thể hiện. Một bài hát có cái tên lạ tai nhưng rất hay viết về cuộc chiến đấu ác liệt năm xưa ở mảnh đất lửa là ngă ba Đồng Lộc, qua cặp song ca khá quyện:


Tùng Cốc Tùng Cốc! Tùng Cốc Tùng Cốc!
Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc
Đêm hoa xoan hoa khế một màu
Ḥm đạn trên xe và sao sáng trên đầu

Tùng Cốc Tùng Cốc! Tùng Cốc Tùng Cốc!
Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc
Đêm bom rơi pháo sáng đầy trời
Mà vẫn khôn ngăn đoàn xe ta cứ ra vào!

Ơi cây cầu như thể cuộc đời ta
Để đường dài lấy đây làm mốc
Mảnh đất này Xô-viết năm xưa
Lại ào ào cuốn vào cơn lốc!
Tùng Cốc Tùng Cốc! Đây Tùng Cốc Tùng Cốc!

Tiếng trống tiếng mơ – đă nổi lên rồi
Xe ta đi tư duy hàng chở lại
Và tên cầu gơ nhịp măi không thôi!


...


Cám ơn bài viết công phu tiễn đưa nhạc sĩ Hoàng Hiệp của bác VHA nhiều ạ!

Em nghe đoạn chữ đỏ đó ca sĩ phát âm như là "tư duy hoàn trở lại", cũng khá hợp lư về ngữ nghĩa, nhưng quả thật h́nh thức ngôn ngữ này quá xa lạ với một ca khúc thật các bác hỉ biggrin.gif ? (Và nếu đúng như thế th́ topic Nồi cám lợn của bác Truc Dang ... lẽ ra đă có một câu đố rất độc)

Posted by: VuHungAnh Jan 11 2013, 03:11 PM

QUOTE (Hậu sinh.2 @ Jan 11 2013, 11:29 AM) *
Cám ơn bài viết công phu tiễn đưa nhạc sĩ Hoàng Hiệp của bác VHA nhiều ạ!

Em nghe đoạn chữ đỏ đó ca sĩ phát âm như là "tư duy hoàn trở lại", cũng khá hợp lư về ngữ nghĩa, nhưng quả thật h́nh thức ngôn ngữ này quá xa lạ với một ca khúc thật các bác hỉ biggrin.gif ? (Và nếu đúng như thế th́ topic Nồi cám lợn của bác Truc Dang ... lẽ ra đă có một câu đố rất độc)

Rất đồng ư với Hậu Sinh. Cả hai phương án đưa ra đều không ăn nhập với tổng thể lời ca như một bài thơ của nhà thơ Hoàng Hiệp. Tất nhiên Hoàng Hiệp không viết như vậy nhưng nghe các nghệ sĩ hát th́ không biết ghi cái ǵ khác thế. Riêng VHA nghe suốt hai ngày mà vẫn không luận ra cái ǵ hợp lư hơn đành ghi như vậy để mong t́m kiếm sự giúp đỡ của các bác khác. Có lẽ phải nhờ cậy đến bác nvn33 chăng?

Posted by: Hoacamchuong Jan 11 2013, 06:58 PM

QUOTE (Hậu sinh.2 @ Jan 11 2013, 11:29 AM) *
Tiếng trống tiếng mơ – đă nổi lên rồi
Xe ta đi tư duy hàng chở lại
Và tên cầu gơ nhịp măi không thôi!


Cái "tai báo vụ" của HCC tôi nghe ra là "tư duy ṿng trở lại".

Posted by: VuHungAnh Jan 14 2013, 10:04 AM

QUOTE (Hoacamchuong @ Jan 11 2013, 06:58 PM) *
Cái "tai báo vụ" của HCC tôi nghe ra là "tư duy ṿng trở lại".

Có lẽ đây là phương án hợp lư chăng? Xin cả nhà cho phép VHA chữa ngay vào bài ở trên. Xin cảm ơn bác HCC!

Posted by: VuHungAnh Jan 14 2013, 10:12 AM

Nhạc sĩ Lưu Cầu đă ra đi!


Thế là ngay sau sự ra đi của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, lại một tên tuổi lớn nữa của làng nhạc Việt Nam đă ra đi: nhạc sĩ Lưu Cầu. Ông đă ra đi măi măi vào lúc 1 giờ 25 phút ngày 11/1/2013 tại tp Hồ Chí Minh, hưởng thọ 83 tuồi, nhiều hơn Hoàng Hiệp 1 tuổi.


Nhạc sĩ Lưu Cầu (30/11/1930 – 11/1/2013)

Tiểu sử nhạc sĩ

Lưu Cầu tên thật là Nguyễn Hoàn Cầu. Ông sinh ngày 30/11/1930 tại Sóc Trăng. Từ những ngày Nam Bộ kháng chiến, Lưu Cầu đă công tác tại Đài Tiếng nói Nam Bộ thời ấy và để lại một ấn tượng âm nhạc qua tác phẩm đầu tay Khu rừng miền Đông.

Tập kết ra Hà Nội, Lưu Cầu vào học Trường Âm nhạc VN (nay là Học viện ANQG) rồi sau khi tốt nghiệp, ông về công tác tại Ban Âm nhạc Đài Tiếng nói VN. Ngay từ những ngày đang học tập trong trường nhạc, Lưu Cầu cũng đă gửi nỗi nhớ thương miền Nam yêu dấu qua ca khúc Quê tôi. Bài hát được giọng nam cao Quốc Hương thể hiện dào dạt bao năm trên làn sóng phát thanh của Đài TNVN.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Lưu Cầu bỏng cháy căm hờn với hai hành khúc Lửa căm thù rực cháy khắp hai miềnMiền Nam ơi! Chúng tôi đă sẵn sàng với một ngôn ngữ âm nhạc gọn ghẽ mà đanh thép.

Chính thực tế cuộc chiến đấu đă khiến cho Lưu Cầu chuyển ngôn ngữ âm nhạc từ trữ t́nh sang hào sảng qua một ca khúc khác đặc biệt viết về thanh niên xung phong: Về đây với đường tàu. Bài hát đă được giọng nữ cao Bích Liên thể hiện như khắc sâu vào tâm trí bao người thành một giai điệu vượt thời gian.

Ngày Bác Hồ đi xa, một ca khúc mang âm hưởng dân ca Nam Bộ rất sâu lắng Miền Nam nhớ măi ơn Người đă được Quốc Hương chắp cánh bay măi qua bao thế hệ.

Sau ngày thống nhất, Lưu Cầu trở về tp Hồ Chí Minh. Bên cạnh ca khúc hợp xướng, ông c̣n viết tiểu phẩm violon Quê hương, nhạc cho phim tài liệu, phim truyện. Âm nhạc Lưu Cầu đă để lại ấn tượng khó quên trong lịch sử âm nhạc VN. Ông đă được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt I (2001).

Những sáng tác đă có trên net

Vốn là người ưa thích sự âm thầm lặng lẽ giống như rất nhiều nhạc sĩ miền Nam tập kết ra Bắc khác nhưng từ rất lâu rồi tên tuổi Lưu Cầu đă được biết tới với những sáng tác nổi tiếng gắn liền với cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc: Miền Nam nhớ măi ơn Người, Miền Nam ơi chúng tôi đă sẵn sàng, Bài ca đất nước anh hùng, Tiếng hát nữ du kích Củ Chi, Về đây với đường tàu

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục sáng tác những ca khúc rất nổi tiếng mau chóng được đón nhận rộng răi và cho đến nay vẫn c̣n là những ca khúc rất hay, những bài ca đi cùng năm tháng: Cô gái ngành y, Mùa trái chín, Anh lại về bên sông Vàm Cỏ…

Nhạc sĩ Lưu Cầu sáng tác nhiều tác phẩm với nhiều thể loại: ca khúc, hợp xướng, nhạc không lời, nhạc phim, nhạc múa, trong đó nhiều sáng tác đoạt giải thưởng. Những sáng tác của ông hiện có trên net là:

1- Anh lại về bên sông Vàm Cỏ (Lưu Cầu) Tuyết Nhung
2- Anh thương binh vào trận mới (Lưu Cầu) Mạnh Hà
3- Bài ca Tây Ninh (Lưu Cầu) Thuư Lan
4- Bài ca thu đông (Lưu Cầu) Kim Oanh
5- Bài ca đất nước anh hùng (Lưu Cầu) Đồng ca Đài TNVN
6- Cô gái ngành y (Lưu Cầu) Bích Liên
7- Mùa trái chín (Lưu Cầu) Bích Liên
8- Miền Nam nhớ măi ơn Người (Lưu Cầu) Ngọc Bé
9- Miền Nam ơi chúng tôi đă sẵn sàng (Lưu Cầu) Doăn Thịnh & Tốp ca nam Đài TNVN
10- Miền Nam ơi chúng tôi đă sẵn sàng (Lưu Cầu) Quư Dương & Trung Kiên
11- Ngày xuân trên cánh đồng chiêm (Lưu Cầu) Tốp ca nữ Đài TNVN
12- Những người phụ nữ thủ đô (Lưu Cầu) Ngọc Bé
13- Quê tôi (Lưu Cầu) Trần Thụ
14- Tiếng hát nữ du kích Củ Chi (Lưu Cầu) Bích Liên
15- V́ mùa xuân đất nước (Lưu Cầu) Tốp ca nữ CMNDTW
16- Về mái trường xưa (Lưu Cầu) Thuư Lan
17- Về đây với đường tàu (Lưu Cầu) Bích Liên

Những ca khúc đáng chú ư

Trước tiên phải kể tới Miền Nam ơi chúng tôi đă sẵn sàng. Đây là bài hát VHA đă được nghe từ lúc đất nước c̣n đang chia cắt, nay nghe lại như thấy quá khứ hiện về, nhớ lại khi đó mỗi ngày vẫn thường nghe Đài thông báo hôm nay “loại khỏi ṿng chiến đấu được… tên Mỹ ngụy…”, h́nh dung ra cuộc chiến đấu cam go trong ấy. Bài hát do Quư Dương và Trung Kiên song ca, một kết hợp thú vị của một tenor và một baritone:


C̣n đây là giọng hát Ngọc Bé đóng đinh với ca khúc Miền Nam nhớ măi ơn Người:


Bài hát Về đây với đường tàu đă được Bích Liên thể hiện rất hay, nay chúng ta nghe bài hát này qua sự thể hiện của Kiều Hưng cũng vào lúc cuộc chiến tranh đang gay cấn:


Bài hát Cô gái ngành y cho đến nay vẫn c̣n là bài hát hay ca ngợi những cán bộ ngành y tế cao đẹp dưới tấm áo choàng trắng chữa bệnh cứu người. Bài hát này đă được dạy hát trên làn sóng Đài TNVN những năm 76-78 và là độc quyền của nghệ sĩ Bích Liên:


Nghe những bài hát của Lưu Cầu trên Đài TNVN mấy mươi năm trước không thể nghĩ có ngày lại viết những ḍng tổng kết sự nghiệp của ông và những ǵ c̣n lưu lại trong tâm trí. Xin cảm ơn ông và cho chúng con thắp nén hương vĩnh biệt ông, một nhạc sĩ của miền Nam b́nh dị và lặng thầm.

Posted by: Hoacamchuong Jan 14 2013, 03:02 PM

QUOTE (VuHungAnh @ Jan 14 2013, 10:04 AM) *
Cái "tai báo vụ" của HCC tôi nghe ra là "tư duy ṿng trở lại".

Có lẽ đây là phương án hợp lư chăng? Xin cả nhà cho phép VHA chữa ngay vào bài ở trên. Xin cảm ơn bác HCC!


Thưa các bạn.
Nếu "tư duy ṿng trở lại" được coi là phương án hợp lư th́ cho phép HCC tôi... lan man một tí nhá.
Theo tôi, lời ca của bài "Qua cầu Tùng Cốc" (Hoàng Hiệp) không khác ǵ một bài thơ (nếu bài này nhạc sĩ tự đặt lời).
Bởi v́, ngoài việc gieo vần thanh trắc ("cốc") một cách rất nghệ thuật, tác giả c̣n vận dụng nghệ thuật chơi chữ rất độc đáo.
Tùng Cốc, danh xưng một cây cầu, đương nhiên nó là danh từ riêng. Nhưng khi xướng lên 2 âm "tùng - cốc", người ta liên tưởng ngay đến 2 âm thanh: "tùng" của trống, và "cốc" của mơ! Vậy, nếu "chẻ" chữ ra như thế, th́ từ một danh từ riêng 2 âm tiết, ta có 2 từ đơn tượng thanh "tùng" và "cốc", biểu thị 2 âm thanh của 2 nhạc cụ ("trống" và "mơ").
Tác giả "chơi chữ" ở chỗ này đấy ạ!
Giờ ta cùng nghe lại, ngay câu đầu tiên:

Tùng Cốc, tùng cốc, tùng cốc, tùng cốc..., 4 lần lặp, rơ ràng tác giả không chỉ gọi tên cây cầu, mà c̣n "gơ nhịp" theo kiểu "trống - mơ" nữa. Nghe rất... sướng tai.
Cái "âm thanh" trống mơ ấy tiếp tục ở câu sau:

Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc...


Vâng, vẫn cái nhịp điệu giật giật ấy khiến cho 3 "câu thơ" gieo vần thanh trắc ("ôc") vốn dĩ rất khó cho thơ lại trở nên duyên dáng lạ lùng.
V́ tôi không phải là nhạc sĩ nên không dám đi sâu phân tích bài hát, mà chỉ xin nêu cái ư chơi chữ ở đây để dẫn tới mấy câu cuối bài, rằng:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi

để khẳng định rằng, tác giả "chơi chữ" thật khéo. Và, để giải thích thêm rằng với một chiến sĩ lái xe khi qua cầu Tùng Cốc, tại sao lại có "tiếng trống tiếng mơ" chen vào đấy. Vâng, chỉ đơn giản là v́, người lính ấy đă nghe rất rơ cái âm thanh "tùng cốc" khi chạy xe qua cây cầu này.
Thưa các bạn.
Nếu ai đă từng cầm vô lăng chạy đường dài, hẳn sẽ nhận thấy một điều rằng, khi đang trong tâm trạng hưng phấn, tài xế sẽ "lợi dụng" sự rung xóc của xe để làm nhịp mà ngân nga măi trong đầu một giai điệu nào đó. Anh chiến sĩ lái xe của chúng ta ở đây cũng vậy, trong đầu anh đang ngân nga măi cái giai điệu "tùng cốc" như thế:

Tùng Cốc, tùng cốc! Đây Tùng Cốc tùng cốc...

Cũng v́ thế cho nên:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi
Xe ta đi tư duy ṿng trở lại
Và tên cầu gơ nhịp măi không thôi...


Xe anh đă qua cầu rồi, mà tư duy của anh vẫn "để" (ṿng trở lại) nơi cây cầu ấy mà nghe "tên cầu gơ nhịp măi không thôi" là như vậy.
Đôi lời... lan man, rất mong được các bạn chia sẻ.

Thêm:
Đề nghị bạn VHA đă chữa th́ chữa cho trót: tư duy ṿng trở lại (trở, chứ không phải chở đâu ạ).

Posted by: VuHungAnh Jan 14 2013, 03:51 PM

QUOTE (Hoacamchuong @ Jan 14 2013, 03:02 PM) *
Thưa các bạn.
Nếu "tư duy ṿng trở lại" được coi là phương án hợp lư th́ cho phép HCC tôi... lan man một tí nhá.
Theo tôi, lời ca của bài "Qua cầu Tùng Cốc" (Hoàng Hiệp) không khác ǵ một bài thơ (nếu bài này nhạc sĩ tự đặt lời).
Bởi v́, ngoài việc gieo vần thanh trắc ("cốc") một cách rất nghệ thuật, tác giả c̣n vận dụng nghệ thuật chơi chữ rất độc đáo.
Tùng Cốc, danh xưng một cây cầu, đương nhiên nó là danh từ riêng. Nhưng khi xướng lên 2 âm "tùng - cốc", người ta liên tưởng ngay đến 2 âm thanh: "tùng" của trống, và "cốc" của mơ! Vậy, nếu "chẻ" chữ ra như thế, th́ từ một danh từ riêng 2 âm tiết, ta có 2 từ đơn tượng thanh "tùng" và "cốc", biểu thị 2 âm thanh của 2 nhạc cụ ("trống" và "mơ").
Tác giả "chơi chữ" ở chỗ này đấy ạ!
Giờ ta cùng nghe lại, ngay câu đầu tiên:

Tùng Cốc, tùng cốc, tùng cốc, tùng cốc..., 4 lần lặp, rơ ràng tác giả không chỉ gọi tên cây cầu, mà c̣n "gơ nhịp" theo kiểu "trống - mơ" nữa. Nghe rất... sướng tai.
Cái "âm thanh" trống mơ ấy tiếp tục ở câu sau:

Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc...


Vâng, vẫn cái nhịp điệu giật giật ấy khiến cho 3 "câu thơ" gieo vần thanh trắc ("ôc") vốn dĩ rất khó cho thơ lại trở nên duyên dáng lạ lùng.
V́ tôi không phải là nhạc sĩ nên không dám đi sâu phân tích bài hát, mà chỉ xin nêu cái ư chơi chữ ở đây để dẫn tới mấy câu cuối bài, rằng:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi

để khẳng định rằng, tác giả "chơi chữ" thật khéo. Và, để giải thích thêm rằng với một chiến sĩ lái xe khi qua cầu Tùng Cốc, tại sao lại có "tiếng trống tiếng mơ" chen vào đấy. Vâng, chỉ đơn giản là v́, người lính ấy đă nghe rất rơ cái âm thanh "tùng cốc" khi chạy xe qua cây cầu này.
Thưa các bạn.
Nếu ai đă từng cầm vô lăng chạy đường dài, hẳn sẽ nhận thấy một điều rằng, khi đang trong tâm trạng hưng phấn, tài xế sẽ "lợi dụng" sự rung xóc của xe để làm nhịp mà ngân nga măi trong đầu một giai điệu nào đó. Anh chiến sĩ lái xe của chúng ta ở đây cũng vậy, trong đầu anh đang ngân nga măi cái giai điệu "tùng cốc" như thế:

Tùng Cốc, tùng cốc! Đây Tùng Cốc tùng cốc...

Cũng v́ thế cho nên:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi
Xe ta đi tư duy ṿng trở lại
Và tên cầu gơ nhịp măi không thôi...


Xe anh đă qua cầu rồi, mà tư duy của anh vẫn "để" (ṿng trở lại) nơi cây cầu ấy mà nghe "tên cầu gơ nhịp măi không thôi" là như vậy.
Đôi lời... lan man, rất mong được các bạn chia sẻ.

Thêm:
Đề nghị bạn VHA đă chữa th́ chữa cho trót: tư duy ṿng trở lại (trở, chứ không phải chở đâu ạ).

Bác Hoa Cẩm Chướng chẳng những có cái tai tinh tường của một báo vụ giỏi mà c̣n có ng̣i bút sắc sảo của một nhà thơ kiêm biên tập viên rất cừ! Những phân tích của bác trên đây rất trùng hợp với suy nghĩ của em khi nghe bài hát này. Thậm chí khi đă bỏ tai nghe ra rồi mà tiếng trống tiếng mơ c̣n gơ nhịp măi trong tâm trí rất lâu sau nữa...

Em cũng đă sửa lần chót rồi đấy ạ. Cảm ơn bác. biggrin.gif

Posted by: meusangele Jan 15 2013, 10:14 AM

QUOTE (Hoacamchuong @ Jan 14 2013, 03:02 PM) *
Thưa các bạn.
Nếu "tư duy ṿng trở lại" được coi là phương án hợp lư th́ cho phép HCC tôi... lan man một tí nhá.
Theo tôi, lời ca của bài "Qua cầu Tùng Cốc" (Hoàng Hiệp) không khác ǵ một bài thơ (nếu bài này nhạc sĩ tự đặt lời).
Bởi v́, ngoài việc gieo vần thanh trắc ("cốc") một cách rất nghệ thuật, tác giả c̣n vận dụng nghệ thuật chơi chữ rất độc đáo.
Tùng Cốc, danh xưng một cây cầu, đương nhiên nó là danh từ riêng. Nhưng khi xướng lên 2 âm "tùng - cốc", người ta liên tưởng ngay đến 2 âm thanh: "tùng" của trống, và "cốc" của mơ! Vậy, nếu "chẻ" chữ ra như thế, th́ từ một danh từ riêng 2 âm tiết, ta có 2 từ đơn tượng thanh "tùng" và "cốc", biểu thị 2 âm thanh của 2 nhạc cụ ("trống" và "mơ").
Tác giả "chơi chữ" ở chỗ này đấy ạ!
Giờ ta cùng nghe lại, ngay câu đầu tiên:

Tùng Cốc, tùng cốc, tùng cốc, tùng cốc..., 4 lần lặp, rơ ràng tác giả không chỉ gọi tên cây cầu, mà c̣n "gơ nhịp" theo kiểu "trống - mơ" nữa. Nghe rất... sướng tai.
Cái "âm thanh" trống mơ ấy tiếp tục ở câu sau:

Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc...


Vâng, vẫn cái nhịp điệu giật giật ấy khiến cho 3 "câu thơ" gieo vần thanh trắc ("ôc") vốn dĩ rất khó cho thơ lại trở nên duyên dáng lạ lùng.
V́ tôi không phải là nhạc sĩ nên không dám đi sâu phân tích bài hát, mà chỉ xin nêu cái ư chơi chữ ở đây để dẫn tới mấy câu cuối bài, rằng:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi

để khẳng định rằng, tác giả "chơi chữ" thật khéo. Và, để giải thích thêm rằng với một chiến sĩ lái xe khi qua cầu Tùng Cốc, tại sao lại có "tiếng trống tiếng mơ" chen vào đấy. Vâng, chỉ đơn giản là v́, người lính ấy đă nghe rất rơ cái âm thanh "tùng cốc" khi chạy xe qua cây cầu này.
Thưa các bạn.
Nếu ai đă từng cầm vô lăng chạy đường dài, hẳn sẽ nhận thấy một điều rằng, khi đang trong tâm trạng hưng phấn, tài xế sẽ "lợi dụng" sự rung xóc của xe để làm nhịp mà ngân nga măi trong đầu một giai điệu nào đó. Anh chiến sĩ lái xe của chúng ta ở đây cũng vậy, trong đầu anh đang ngân nga măi cái giai điệu "tùng cốc" như thế:

Tùng Cốc, tùng cốc! Đây Tùng Cốc tùng cốc...

Cũng v́ thế cho nên:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi
Xe ta đi tư duy ṿng trở lại
Và tên cầu gơ nhịp măi không thôi...


Xe anh đă qua cầu rồi, mà tư duy của anh vẫn "để" (ṿng trở lại) nơi cây cầu ấy mà nghe "tên cầu gơ nhịp măi không thôi" là như vậy.
Đôi lời... lan man, rất mong được các bạn chia sẻ.

Thêm:
Đề nghị bạn VHA đă chữa th́ chữa cho trót: tư duy ṿng trở lại (trở, chứ không phải chở đâu ạ).


Bài hát này, theo cháu mới đọc ở 1 bài viết trên mạng hôm qua (báo SGGP) th́ nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ thơ của bác Phạm Tiến Duật (bài thơ viết năm 1971). "Tư duy ṿng trở lại"- cháu cũng nghe như vậy.

PS bác VHA: Bài "Đất mũi Cà Mau"h́nh như cũng phổ thơ hay sao ư nhưng em không nhớ tên nhà thơ. Bác xem lại hộ em xem em nhớ có đúng không với ạ?

Posted by: tuntin Jan 15 2013, 03:03 PM



Posted by: VuHungAnh Jan 15 2013, 04:48 PM

Bác tuntin có tài liệu thật là quư hiếm mà em không có. Mấy ngày trước, khi chưa có bài trên SGGP mà meusangele giới thiệu, cứ phải đi xác định hoài xem bài này có phải của Hoàng Hiệp không v́ có bác đưa lên net ghi tác giả là Nguyễn Trọng Tạo. Liên lạc với nhà thơ NTT th́ được anh cho biết bài hát đó là của Hoàng Hiệp, anh cũng có một bài trùng tên nhưng chưa phổ biến ở bất cứ đâu cả. Nay có tài liệu rơ ràng rồi th́ xin bổ sung tên nhà thơ Phạm Tiến Duật vào phần tác giả lời bài hát.

Về bài Đất mũi Cà Mau (Hoàng Hiệp) th́ trong cuốn bài hát “6 ca khúc của Hoàng Hiệp” do NXB Văn Hóa xuất bản năm 1980, tên bài hát là Về Đất Mũi và không có tên nhà thơ nào ở phần tác giả lời ca. Như vậy bài này do nhạc sĩ Hoàng Hiệp viết lời:







Xin cảm ơn sự quan tâm của hai bác meusangele và tuntin rất nhiều!

Posted by: meusangele Jan 15 2013, 04:54 PM

QUOTE (tuntin @ Jan 15 2013, 03:03 PM) *



Cảm ơn bác Tuntin đă cung cấp sheet nhạc. Mặc dù nghe tương đối rơ ràng nhưng có 1 người bạn em băn khoăn về chữ "tư duy" trong câu "tư duy ṿng trở lại". Bác HCC đă giải thích rất hợp lư nhưng chữ "tư duy" th́ h́nh như chưa có bài hát nào sử dụng từ này nên em vẫn muốn t́m hiểu thêm. Em đă search măi mà không ra bài thơ này trên mạng, đang định ra kiếm tập thơ "Vầng trăng quầng lửa" của bác Phạm Tiến Duật. Xin cảm ơn các bác!

Posted by: VuHungAnh Jan 30 2013, 04:47 PM

“Năm đó, tôi nhận được công bố đoạt giải Nobel ḥa b́nh cùng với ông Kissinger. Điều oái oăm là ḿnh là người chiến đấu để giành giật ḥa b́nh lại được giải về ḥa b́nh với kẻ gây chiến. Bởi thế tôi đă từ chối giải thưởng này” – Cố vấn Lê Đức Thọ tâm sự với phóng viên một tờ báo.


40 năm kư kết Hiệp định Paris (27/1/1973 – 2013)



Lê Đức Thọ (trái) và H. Kissinger bắt tay sau khi kư Hiệp định Paris

Tại sao có hội nghị Paris?

Cho đến tận bây giờ vẫn c̣n khá nhiều người cho rằng cuộc Tổng tiến công của bộ đội chủ lực và nhân dân ở hầu khắp các đô thị miền Nam dịp tết Mậu Thân 1968 là không cần thiết, là manh động, làm hao người tốn của…., và rằng cũng do tổn thất nặng nề quá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lo nghĩ thành bệnh rồi mất sau đó hơn một năm. Đây thật sự là những suy nghĩ nông cạn, hết sức thiếu hiểu biết, thậm chí đó c̣n là luận điệu của các thế lực phản động nhằm hạ thấp ư nghĩa của Tổng tiến công vào dịp Tết 1968 khi đó.

Sự thực là cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968 nằm trong tổng thể đ̣n giáng trả của nước Việt Nam DCCH vào chế độ Mỹ-ngụy và là cú hích để chúng ta yêu cầu mở Hội nghị Paris vào tháng 5/1968 nhằm đi đến một giải pháp chính trị kết thúc sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào Việt Nam. Hội nghị Paris chính là một mặt trận nữa trên phương diện chính trị và ngoại giao, ngoài mặt trận quân sự trên chiến trường, mà kết quả của nó gắn bó chặt chẽ với mặt trận quân sự, lại giúp thu được kết cục triệt để và toàn diện hơn mặt trận quân sự.

Chính do âm vang của cuộc tổng tấn công Mậu Thân 1968 mà đế quốc Mỹ mới chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Paris. Ảnh hưởng và tác động của chiến thắng Mậu Thân 1968 thật là to lớn.

Sự chỉ đạo sát sao của Bác Hồ

Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta xuất hiện t́nh thế mới, có lợi cho ta. Tháng 12/1967, Bác Hồ chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị, phân tích t́nh h́nh, quyết định mở đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 để giành thắng lợi quyết định. Sau đó, tháng 01/1968, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12/1967, khẳng định quyết tâm, mục tiêu và hướng tiến công chiến lược.

Đồng chí Vũ Kỳ, thư kư riêng của Bác kể lại rằng, Bác đă chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước. Sáng chủ nhật 31/12/1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc tết vừa để Bác nghe, vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 01/01/1968, Bác gửi Thư chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác gửi lời chúc mừng đến các nước XHCN anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đă nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới!. Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bác chúc: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua. Thắng trận tin vui khắp nước nhà. Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!

Chiều ngày 01/01/1968, Bộ Chính trị đến, Bác căn dặn thêm công việc. Bốn giờ chiều, Người lên máy bay ra nước ngoài để chữa bệnh theo quyết định của BCT và HĐ bác sĩ. Các đồng chí lănh đạo Đảng và Nhà nước ta thường xuyên đến thăm Bác để báo cáo và xin ư kiến. Ngày 20/1/1968, đồng chí Lê Đức Thọ đến. Ngày 25/01/1968, trên đường từ Hungari về, đại tướng Vơ Nguyên Giáp ghé qua xin chỉ thị cuối cùng của Bác về chiến dịch Mậu Thân.

Cũng theo đồng chí Vũ Kỳ, chiều 29 tết, Bác Hồ nhận được điện của BCT và BCHTU Đảng chúc tết Bác. Đêm giao thừa ở nơi xa xôi, hai Bác cháu ngồi im lặng trong pḥng, vặn Đài TNVN nghe tin tức, ca nhạc và ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Từ khi về nước trực tiếp lănh đạo cách mạng vào năm 1941, đây là lần đầu tiên Bác đón giao thừa ở nước ngoài. Thời gian trôi đi chầm chậm. Rồi, bên ngoài, tiếng pháo nổ tan, tiễn Đinh Mùi và đón Mậu Thân. Từ chiếc đài bán dẫn, tiếng nói của Bác Hồ vang lên:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!


Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy và truyền đi khắp mọi miền đất nước. Khi đài phát xong câu cuối “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, Bác nói khẽ: "Giờ này, miền Nam đang nổ súng!"



Các bên tham gia Hội Nghị Paris

Hội Nghị Paris được tiến hành giữa 4 bên, 2 của cách mạng Việt Nam và 2 của Mỹ-ngụy với các đại diện là:

- Đại diện cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa là Bộ trưởng Xuân Thủy (1912-1985). Ông Xuân Thủy tên thật là Nguyễn Trọng Nhâm, nói thông thạo tiếng Anh và Pháp. Ngoài ra c̣n có tài thơ phú, ứng biến mau lẹ.
- Đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam là Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị B́nh. Bà Nguyễn Thị B́nh tên thật là Nguyễn Châu Sa, sinh năm 1927 tại Sa Đéc, là cháu ngoại của cụ Phan Chu Trinh.
- Đại diện cho Việt Nam Cộng Ḥa (ngụy quyền Sài G̣n) là ngoại trưởng Trần Văn Lắm (1913-2001). Ông Lắm đă tốt nghiệp khoa dược Viện Đại học Đông Dương tại Hà Nội năm 1939.
- Đại diện cho phía Mỹ là Averell Harriman rồi sau đó là Cabot Lodge.

Tuy nhiên các cuộc gặp không chính thức, bí mật, có tính chất quyết định, lại diễn ra giữa tiến sĩ Henry Kissinger (sinh 1923) và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ (Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Lao động VN, 1911-1990, tên thật là Phan Đ́nh Khải), người được đích thân Bác Hồ phái sang với sự tin cậy cao. Hội nghị kéo dài hơn 4 năm 8 tháng với nhiều màn đấu trí gay go căng thẳng và sau trận Điện Biên Phủ trên không, đă kết thúc thắng lợi cho cách mạng Việt Nam, một kết cục có hậu v́ chúng ta quyết tâm đi theo lời Bác "dù có phải đốt cháy cả dăy Trường Sơn":


Hai tháng sau Hội nghị Paris, vào tháng 3/1973 báo chí loan tin giải Nobel Ḥa b́nh năm 1972 đă được giành cho Lê Đức Thọ và Kissinger, những người đă góp phần quan trọng kư kết Hiệp định Paris về Việt Nam. Chỉ có Kissinger tới nhận giải c̣n Lê Đức Thọ từ chối. Tuy nhiên chính bởi quyết định trao giải này, người ta đă chứng kiến một giải thưởng uy tín nhất thế giới đă bị tên đế quốc đầu sỏ lũng đoạn như thế nào: chính nghĩa và phi nghĩa đă bị đánh tráo. Giải Nobel đă có những vết đen như thế đó.

Posted by: khonggiadinh79 Jan 31 2013, 06:30 PM

Những bài viết rất hay, rất quư bác VuHungAnh ag. Cách đây độ gần 1 năm , Hậu bối tôi có dịp học về Vấn đề này. C̣n được t́m hiểu về một vài vấn đề khác nữa, ví dụ : Vấn đề chiếc bàn đàm phán ; Tại sao Hiệp định này được kư tại Pháp mà không phải tại Mỹ, Việt Nam ...hay ....một nơi nào khác..?....


Mong bác VuHungAnh bổ sung thêm vào đây cho trọn bộ sưu tập nha.



Ông Lê Đức Thọ - mặc dù không nhận giải Nobel Năm ấy (1973). Nhưng ít ra, người Việt Nam cũng tự hào v́ đă từng có 1 con người được thế giới vinh danh, trao cho giải thưởng cao quư mang tầm cỡ thế giới này - giải Nobel .

Giaỉ thưởng mà ngày nay thế giới cần phải trao thật nhiều hơn nữa. Nhưng đạt được nó th́ không phải dễ. Thế giới của chúng ta ngày càng bất ổn, chiến tranh bạo loạn triền miên. Mong muốn 1 thế giới ḥa b́nh, ổn định là ước mơ của cả loài người.

Posted by: ThạchThảo Feb 1 2013, 09:20 PM

Đọc những tư liệu này cảm thấy tự hào v́ ḿnh là ng VN.

Posted by: VuHungAnh Feb 3 2013, 11:16 AM

QUOTE (khonggiadinh79 @ Jan 31 2013, 06:30 PM) *
Những bài viết rất hay, rất quư bác VuHungAnh ag. Cách đây độ gần 1 năm , Hậu bối tôi có dịp học về Vấn đề này. C̣n được t́m hiểu về một vài vấn đề khác nữa, ví dụ : Vấn đề chiếc bàn đàm phán ; Tại sao Hiệp định này được kư tại Pháp mà không phải tại Mỹ, Việt Nam ...hay ....một nơi nào khác..?....

Mong bác VuHungAnh bổ sung thêm vào đây cho trọn bộ sưu tập nha.
......

Bạn khonggiadinh79 đă có gợi ư rất hay. Những nội dung đó sẽ được đề cập đến vào dịp thích hợp. Cảm ơn bạn.

Posted by: VuHungAnh Feb 3 2013, 11:22 AM



83 năm Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2013)





Lịch sử Đảng cũng chính là lịch sử dân tộc

Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) ra đời ngày 3/2/1930 trong băo táp của cuộc đấu tranh chống thực dân và phong kiến đầu thế kỷ trước.

Ngay khi vừa ra đời, Đảng đă lănh đạo nhân dân đứng lên làm cách mạng trong phong trào nổi dậy 1930 – 1931, đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh với mục đích thành lập chính quyền Xô viết, nhưng phong trào đă bị thất bại và bị d́m trong biển máu.

Liên tiếp trong những năm sau đó các lănh tụ của Đảng lần lượt bị bắt và bị sát hại dă man là các Tổng bí thư Trần Phú (1904-1931, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng), Lê Hồng Phong (1902-1942, Tổng Bí thư thứ 2 của Đảng), Hà Huy Tập (1906-1941, Tổng Bí thư thứ 3 của Đảng), Nguyễn Văn Cừ (1912-1941, Tổng Bí thư thứ 4 của Đảng, hậu duệ đời thứ 17 của cụ Nguyễn Trăi)… cũng nhiều lănh tụ khác.

Mỗi chúng ta không thể nào cầm ḷng được khi đọc lại những ḍng lịch sử hào hùng của Đảng. Những lănh tụ của Đảng ngă xuống đă trở thành tấm gương cực kỳ sáng chói cho toàn dân tộc noi theo trên bước đường cách mạng chông gai kể từ đó cho tới hôm nay và măi măi về sau.


Tuy nhiên do được vũ trang bởi lư luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sáng suốt soi đường cùng với ḷng yêu nước vô bờ bến của quảng đại nhân dân, Đảng đă dẫn dắt toàn dân tộc làm cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nhà nước công nông đầu tiên trên mảnh đất Việt h́nh chữ S.

Kể từ đó, Đảng lại dẫn dắt toàn dân tộc đánh Pháp, đuổi Nhật, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, thống nhất đất nước và bắt tay vào xây dựng đất nước cho đến ngày nay.

Tuy mang nhiều tên gọi khác nhau trong mỗi giai đoạn cách mạng cụ thể như Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930-10/1930), Đảng Cộng sản Đông Dương (10/1930-1/1951), Đảng Lao động Việt Nam (1/1951-12/1976) và Đảng Cộng sản Việt Nam (10-1976 đến nay) nhưng Đảng ta về bản chất chỉ có một, đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Vai tṛ lănh đạo tuyệt đối và duy nhất của Đảng không phải tự nhiên mà có, mà đó chính là kết quả của cả chặng đường từ khi ra đời cho đến hiện nay Đảng là đội ngũ tiên phong duy nhất lănh đạo cả dân tộc từ trong máu lửa cách mạng đi đến thắng lợi ngày nay.

Không một tổ chức nào khác có đủ tư cách lănh đạo cách mạng VN hoặc thể so sánh được với Đảng Cộng sản VN. Vai tṛ lănh đạo duy nhất của Đảng đă được quy định trong hiến pháp CHXHCN Việt Nam.

Đảng trong giai đoạn cách mạng mới

Trong lịch sử VN, từ khi có nhà nước Việt đầu tiên cách nay gần 4000 năm, mỗi một triều đại sinh ra, phát triển cực thịnh rồi đi đến suy tàn và được thay thế bằng một triều đại khác tiếp nối. Đó là một sự thật, cho đến khi thời đại Hồ Chí Minh ra đời.

Sự sinh ra rồi suy tàn của các triều đại chính là do các triều đại ấy không phải là của nhân dân và cũng không được dựa trên nền móng vững chắc là triết lư về nhà nước và pháp quyền do dân v́ dân, trong đó không có một tổ chức, một đảng có lư luận khoa học dẫn đường.

Hiện nay, sau những thắng lợi kỳ vĩ giành được và lập nên nhà nước CHXHCNVN, lời nguyền cũ đang quay trở lại: sự suy tàn đang treo lơ lửng trên đầu chúng ta như thanh gươm Damocles. Những lănh đạo uy dũng trong chiến tranh thuở xưa nay đă nhường bước cho con cháu của họ như một kiểu cha truyền con nối. Mặt khác, sự thoái hóa trong đội ngũ cán bộ đảng viên các cấp đă thúc đẩy càng nhanh thời điểm suy tàn mau đến.

Nhân dân chán nản với sự tŕ trệ và lũng đoạn của tầng lớp quan lại mới dường như càng làm cho chén nước dâng đầy chực chờ tràn ly. Dường như không c̣n chân lư nữa, mọi thứ đang lộn ngược với nếp sống b́nh thường, người ngay lại sợ kẻ gian…

T́nh h́nh này buộc Đảng phải tiến hành chỉnh đốn lại, buộc phải thực hiện lời dạy của Bác Hồ cách đây gần 50 năm khi Người viết trong Di chúc vào năm 1967: “… việc đầu tiên cần phải làm sau khi thống nhất đất nước là chỉnh đốn lại Đảng…”. Chỉnh đốn Đảng trước hết và thực chất chính là chỉnh đốn cán bộ.

Xét về bản chất, Đảng ta là một đảng Macxit – Lennit, tức là một đảng lấy thế giới quan Mac-Lenin làm kim chỉ nam, trong đó chủ nghĩa duy vật biện chứng là nền tảng. Điều đó có nghĩa bất cứ hành động nào, lời nói nào, việc làm nào cũng phải xuất phát từ thực tế v́ vật chất có trước và quyết định ư thức, thực tế là tiêu chuẩn tối thượng của mọi việc làm và hành động và thực tế ấy phải trên quan điểm của nhân dân, của dân tộc, của thời đại.

Trăm ngh́n vạn triệu sai lầm đều xuất phát từ sự vi phạm cái nền tảng tư tưởng này của Đảng. Người ta căng mắt ra mà nh́n nhưng vẫn không thấy được sự thật, ấy là do lợi ích cá nhân và lợi ích nhóm, chứ không phải lợi ích của đất nước và dân tộc, làm cho mù mắt rồi. Lại có nhiều người cũng nh́n măi mà không thấy ǵ, ấy là v́ những người đó không có khả năng thấu thị để nh́n cho ra sự thật hoặc bị đặt nhầm chỗ hoặc chiếm ghế của người khác rồi và việc ấy không đơn thuần chỉ là chuyện có “một chỗ kiếm cơm tốt” nữa, mà c̣n làm ảnh hưởng đến bao nhiêu người khác v́ khả năng kém cỏi của họ...

Hơn lúc nào hết Đảng ta phải nh́n thẳng vào sự thật và nh́n cho ra sự thật, làm cho đúng như sự thật chỉ bảo cần phải như thế, dù có phải đau đớn vật vă đến thế nào chăng nữa, cho xứng đáng với những tấm gương của các bậc tiền bối đă ngă xuống để chúng ta có được ngày hôm nay, để cho mỗi mùa xuân về là chúng ta lại đón ngày sinh nhật Đảng như chính ngày sinh nhật của chính ḿnh:




Posted by: dtvt2006 Feb 3 2013, 02:46 PM

Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn: "Lẽ sống niềm tin” từ một bài ca


Cả một đời ông “đắm đuối” với chủ đề về Đảng, về các anh hùng liệt sĩ, về “tập thể lớn” là nhân dân để viết lên những bài ca đi cùng năm tháng. Ông lại được anh em, bạn bè phong tặng danh hiệu “người “ga lăng” nhất toàn quân”, “sáng tác nhạc hay, chỉ đạo nghệ thuật giỏi mà vẽ cũng tài”. Tuy nhiên, ông chỉ tự nhận ḿnh là một hạt muối bé nhỏ và là một hạt muối không đến nỗi vô vị giữa đại dương đời mênh mông.

Trong những ngày cả nước đang vui mừng chào đón mùa Xuân thứ 83 của Đảng th́ nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn lại một lần nữa được nhắc nhớ tới với vai tṛ là tác giả của một trong những ca khúc hay nhất về Đảng - ca khúc Đảng là cuộc sống của tôi.

Người “ga lăng” nhất toàn quân

Đến thăm nhà đại tá, nhạc sĩ, họa sĩ Nguyễn Đức Toàn trong khu tập thể cũ của Hà Nội một ngày cuối năm, tôi may mắn được chứng kiến một cuộc viếng thăm bất ngờ của Hội Cựu chiến binh đầy “chất lính” và rất cảm động tại nhà ông.

Cuộc thăm viếng người nhạc sĩ già đă bước sang tuổi 84 chỉ diễn ra chóng vánh chừng 15 phút v́ “không muốn làm gián đoạn cuộc tṛ chuyện của nhạc sĩ và nhà báo” nhưng thật cảm động và đă cho thấy những người lính già xưa vốn là văn công của Đoàn văn công Tổng cục Chính trị - nơi nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn từng công tác - đă dành nhiều sự kính trọng và mến mộ đối với ông như thế nào.

Tất cả đều quên hết việc ḿnh đă trở thành những ông già, bà già, lại cùng nhau say sưa hát “Quê em miền trung du đồng quê lúa xanh rờn…”, “Nghe xuân sang trên bến cảng, đàn hải âu tung cánh bay rợp trời…”, “Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, non nước mây trời làm ta mê say”…

Bác Xuân Cầu vừa hát vừa tranh thủ giới thiệu về “nhân vật chính”: “Anh em trước đây đều phong nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn là người duyên nhất toàn quân, người “ga lăng” nhất toàn quân đấy. Ông ấy là một người toàn tài mà, sáng tác nhạc hay, chỉ đạo nghệ thuật giỏi mà vẽ tranh cũng tài nữa”!

Như muốn khẳng định thêm lời nói của bác Xuân Cầu, cô Lê Danh Dung - cựu diễn viên múa của Đoàn văn công quân giải phóng Trị Thiên tiếp lời: “Mấy chục đoàn văn công quân đội khi ấy ai cũng yêu quư nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn”.

C̣n về phần ḿnh, trao đổi với tôi, ông chỉ tâm niệm: “Cũng thấy ḿnh có một số thành tựu, vài bài hát cũng được đi vào ḷng công chúng. Nhưng càng sống lâu trong cuộc đời, tôi càng thấy ḿnh nhỏ bé lắm, chẳng qua cũng chỉ là một hạt muối giữa biển. Đại khái nó cũng chỉ là một hạt muối bé nhỏ mang chút mặn ṃi của biển cả, không đến nỗi vô vị".

Một bài hát trữ t́nh về Đảng



Khi những người bạn già đă ra về để “trả lại” người nghệ sĩ “toàn tài” cho tôi, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn bắt đầu kể về bài hát hay nhất về Đảng của ông, cũng là một trong những bài bát hay nhất về Đảng cho đến nay - bài Đảng là cuộc sống của tôi.

Ông kể, ông không thể nhớ bài hát đầu tiên mà ông viết về Đảng là bài nào, càng không nhớ bài hát đầu tiên ấy ông viết vào năm nào, bởi ông đă viết rất nhiều ca khúc về Đảng. “Hầu như lần Đại hội Đảng nào ông cũng có ca khúc về Đảng” - nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn cho biết.

Hỏi về hoàn cảnh sáng tác bài hát hay nhất về Đảng của ông, ông bảo, đối với một người chép sử hay các nhà báo th́ họ hay quan tâm đến hoàn cảnh sáng tác của các ca khúc, chứ đối với một nhạc sĩ như ông th́ hầu như chẳng bao giờ nhớ được. Lí do là bởi “cảm xúc để viết bài hát thường đến rất tự nhiên, giống như ḍng nước chảy theo ṿng tuần hoàn từ khi hạt mưa rơi xuống đổ vào suối vào sông rồi ra biển”, vậy thôi!

Bài Đảng là cuộc sống của tôi được ông viết năm 1976, sau một năm cả nước mừng chiến thắng. Nhưng đồng thời, đó cũng là năm cả nước phải đón nhận nhiều thử thách trong thời kỳ mới… “Bài hát Đảng là cuộc sống của tôi ra đời trong giai đoạn đó. Cảm xúc để viết bài hát đến rất tự nhiên” - nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn tâm sự - "Khi viết về Đảng th́ ít khi người ta viết bằng bút pháp trữ t́nh. Nhưng bài Đảng là cuộc sống của tôi lại là một bài hát trữ t́nh chứ không phải một bài hùng ca hoành tráng".

“Đảng là cuộc sống của tôi, măi măi đi theo người/ Từ thuở c̣n thơ đời tôi chưa quen sóng gió/ Đảng đă cho tôi lẽ sống niềm tin, giữa biển khơi biết đâu là bờ/ Bầu trời xanh chưa thấy bao giờ…” Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn tâm niệm, đây chính là tâm sự, là tiếng ḷng của ông với Đảng, cũng là tiếng ḷng của mọi người lúc bấy giờ đối với Đảng. Nó là một cái ǵ đó thân thuộc, máu mủ, rất tự nhiên. Niềm tâm sự: “Đảng đă cho tôi lẽ sống niềm tin” cũng chính là tâm sự của các thế hệ người Việt Nam. Bởi vậy mà bài hát đă nhanh chóng được phổ biến trong công chúng và tiếp tục sống cho tới ngày nay.

Theo Thể thao Văn hóa

Posted by: VuHungAnh Feb 19 2013, 06:46 PM

Lần đầu tiên kể từ cuộc chiến biên giới 1979, báo chí Việt Nam mới công khai và rầm rộ nói về cuộc chiến tranh này. Một cuộc chiến mà người ta cứ né tránh nó để rồi 34 năm sau buộc phải nói về nó như chính sự thật và chính nhân dân đ̣i hỏi phải như thế.



Kỷ niệm 34 năm chiến tranh biên giới phía Bắc 1979:
P̣ Hèn c̣n măi khúc ca


Địa danh P̣ Hèn được biết đến như một bản hùng ca của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, nhưng P̣ Hèn càng nổi tiếng hơn khi những ca khúc viết về mảnh đất này dành nhiều ngợi ca Hoàng Thị Hồng Chiêm, cô gái mậu dịch viên của cửa hàng thương nghiệp P̣ Hèn đă hi sinh khi chiến đấu vào sáng 17/2/1979.

Cả ba ca khúc viết về Hoàng Thị Hồng Chiêm đều của những nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng sáng tác và tŕnh bày. Ngoài Bài ca trên đỉnh P̣ Hèn của nhạc sĩ Thế Song qua giọng ca Lê Dung, c̣n có Bông hoa Hồng Chiêm của nhạc sĩ Dân Huyền với tiếng hát Kiều Hưng và Người con gái trên đỉnh P̣ Hèn của nhạc sĩ Trần Minh do Tuyết Nhung tŕnh bày. Cả ba tác phẩm ấy đều đă được lưu lại trong tâm trí bạn yêu nhạc từ đó đến nay.


Anh Hoàng Văn Lợi (trái), em trai liệt sĩ Hoàng Thị Hồng Chiêm,
bên bức tượng của chị ở Trường THCS B́nh Ngọc (Móng Cái)

Căn nhà ấy nằm ngay trên đường từ Móng Cái ra B́nh Ngọc. Cái rẻo đất ngay địa đầu biên giới nhô ra như một vành đai che chắn cho Móng Cái từ phía biển, phía bắc là địa bàn của phường Trà Cổ - nơi có mũi Sa Vĩ, nơi bắt đầu đặt nét bút để vẽ chữ S của bản đồ nước Việt, và phần c̣n lại phía nam là phường B́nh Ngọc với mũi Ngọc cũng nổi tiếng không kém khi từ đây nối lên mũi Sa Vĩ làm thành băi biển có chiều dài 17 cây số, được công nhận kỷ lục Guinness là băi biển dài nhất nước!

Người con gái B́nh Ngọc

Con đường từ Móng Cái ra B́nh Ngọc đang được mở rộng c̣n ngổn ngang bùn đất, dễ nhận ra căn nhà có tấm biển kẻ sơn đỏ lên vách tường ghi “Nhà t́nh nghĩa - ngành thương mại Quảng Ninh và UBND huyện Hải Ninh tặng”. Đấy là món quà t́nh nghĩa của quê hương và đồng đội dành tặng gia đ́nh Hoàng Thị Hồng Chiêm sau sự hi sinh của chị.

Trên đường từ Móng Cái ra B́nh Ngọc, anh Hoàng Như Lư (cựu binh P̣ Hèn tháng 2/1979) cứ nhắc măi với chúng tôi h́nh ảnh chị Chiêm ngày xưa, ấn tượng nhất là đôi giày bata màu xanh gần như bất ly thân của chị. Trận chiến sáng 17/2 chống lại quân Trung Quốc năm ấy, nhiều cán bộ chiến sĩ của đồn P̣ Hèn cũng bất ngờ trước khả năng sử dụng vũ khí của cô gái mậu dịch viên. Hóa ra trước khi chuyển ngành về cửa hàng thương nghiệp P̣ Hèn, Hồng Chiêm từng có mấy năm đi bộ đội.

Trước khi cuộc chiến tranh biên giới nổ ra chừng một tuần, các khối lâm trường, thương nghiệp... đă được lệnh lùi về tuyến sau. Cửa hàng bách hóa thương nghiệp P̣ Hèn cũng thế, chỉ c̣n một ít hàng được giữ ở kho. Anh em thay nhau lên trông coi, bảo vệ. Chiều 16-2, Chiêm được lệnh lên cửa hàng cũ dọn dẹp một số hàng ở kho, tiện dịp cũng qua thăm Lượng, người yêu của chị, đang là cán bộ đội vận động quần chúng của đồn biên pḥng P̣ Hèn. Dọn dẹp, niêm phong kho xong, từ cửa hàng thị trấn Hồng Chiêm lên đồn xem trận bóng chuyền của anh em. Lượng cũng là một tay đập chủ công của đội bóng đồn.

Sáng hôm sau khi trận đánh bất ngờ diễn ra, từ cửa hàng Hồng Chiêm chạy về phía đồn, sát cánh chiến đấu cùng anh em chiến sĩ.

Và những nhân vật trong khoảnh khắc đó đều có trên tấm bia tưởng niệm. Trên bia, ngoài liệt sĩ Đỗ Sĩ Họa đầu tiên, tên của liệt sĩ Bùi Văn Lượng, người yêu chị Chiêm, có thứ tự là 5, liệt sĩ Nguyễn Văn Dụng xếp thứ 21, Nguyễn Văn Mừng xếp thứ 26 và Hoàng Thị Hồng Chiêm xếp thứ 59. Không chỉ có duy nhất chị Chiêm là nữ liệt sĩ hi sinh trong trận đánh bảo vệ biên giới ấy, trên bia chúng tôi c̣n thấy khá nhiều nữ liệt sĩ có tuổi đời chỉ mới 17-20 như liệt sĩ Nguyễn Thị Ruỗi sinh năm 1962, quê Tiên Lăng (Hải Pḥng) cũng hi sinh vào sáng 17/2/1979 ấy, hay liệt sĩ Vũ Thị Tới sinh 1961 (18 tuổi), rồi Đặng Thị Vượng, Đỗ Thị Mâu, Hoàng Thị Nết, Nguyễn Thị Lèn, Vũ Thị Mười, Cao Thị Lừng... Những cô gái tự vệ lâm trường Hải Ninh ấy, khi ngă xuống h́nh như chưa cô nào có người yêu như chị Chiêm...


Mai sau dù có bao giờ...

Tiếp chúng tôi trong căn nhà t́nh nghĩa của ngành thương mại xây tặng là anh Hoàng Văn Lợi, em trai của chị Chiêm. Trong gia đ́nh, chị Chiêm là con thứ ba, cũng thật bất ngờ khi được biết người chị ruột của Hồng Chiêm, chị Hoàng Thị Liễm, là vợ của trung tướng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Sinh Hưởng, tướng Hưởng cũng là người quê ở phường B́nh Ngọc (Móng Cái) này.

Trên bàn thờ, tấm h́nh chị Chiêm được truyền thần từ một tấm h́nh chụp chị mặc quân phục bộ đội và mũ tai bèo sang áo dài truyền thống. Anh Lợi bảo: Chị Chiêm ngoài đời thật c̣n xinh hơn trong tấm h́nh đang thờ, nhất là đôi mắt như có lửa. Năm 1972 chị Chiêm đi bộ đội, đóng quân ở Quảng Yên th́ Lợi c̣n rất nhỏ. Biên giới thuở ấy cũng đang b́nh yên. Kư ức của Lợi là lần chị Chiêm về phép, tranh thủ chủ nhật nghỉ đưa mấy em sang Đông Hưng (thành phố giáp biên Móng Cái của Trung Quốc) đi chơi, mua cho mấy chiếc kẹo. Sau năm 1975, xuất ngũ th́ chị Chiêm chuyển sang ngành thương nghiệp và lên bán hàng ở P̣ Hèn. Chặng đường từ P̣ Hèn về B́nh Ngọc chỉ hơn 50 cây số nhưng thuở ấy đường sá khó khăn lắm, không thể thường xuyên về nhà được, mấy năm về sau t́nh h́nh căng thẳng chị Chiêm lại càng ít về hơn.

Buổi sáng 17/2/1979 chị Chiêm hi sinh nhưng phải mấy ngày sau gia đ́nh mới nhận được tin báo. Mộ chị cũng được an táng ở khu vực Tràng Vinh, sau đó khu vực này xây cất một công tŕnh ǵ đó nên được quy tập về địa bàn khác, nhưng người được giao nhiệm vụ báo tin cho gia đ́nh lên cất bốc lại quên mất. Mộ chị Chiêm được quy tập về xă Hải Ḥa nhưng gia đ́nh không hề biết. Măi sau này một người bà con trong thôn khi đi viếng mộ người thân ở nghĩa trang Hải Ḥa, thấy tên tuổi chị Chiêm trên bia mới vội vă chạy về báo cho biết và sau đó anh chị em mới đưa hài cốt chị Chiêm quy tập về nghĩa trang gia đ́nh.


Sau khi Hoàng Thị Hồng Chiêm hi sinh, năm 1984 tên chị được đặt cho ngôi trường cấp II xă B́nh Ngọc là Trường trung học cơ sở Hoàng Thị Hồng Chiêm. Sân trường có bức tượng chị Chiêm bằng ximăng đặt trên bệ đá, tay trái cầm khẩu AK, tay phải cầm thủ pháo, mắt nh́n thẳng kiên nghị về phía trước. Bao thế hệ học tṛ B́nh Ngọc đă được học dưới mái trường mang tên chị, thấm đẫm niềm tự hào về người nữ liệt sĩ của quê hương và ngày ngày hát vang lớp học những bài ca ca ngợi tấm gương liệt nữ.

Theo chân người em ruột của chị Chiêm ra thắp nhang cho chị, chúng tôi chợt thấy se ḷng. Nén nhang thắp như chực tắt trước cơn gió bấc buốt giá cứ thổi bạt đi, và khi nhang bén chợt bốc cháy rừng rực trong buổi chiều cuối năm ở cuối trời đông bắc địa đầu đất nước... (Theo Tuổi Trẻ)

Posted by: VuHungAnh Feb 24 2013, 12:16 PM

… Nhiều năm qua, ở VN gần như không đưa tin tức ǵ về cuộc chiến tranh biên giới 1979 cả. Đây là rơ ràng là một sự bất b́nh thường trên nhiều phương diện: cả sự giáo dục ḷng yêu nước, truyền thống chống ngoại xâm, lịch sử dân tộc lẫn tâm tư t́nh cảm của nhân dân đối với những người thân đă ngă xuống trong cuộc chiến tranh này. Sự thiếu sót đó là không thể nào biện hộ được, dù chỉ là ngụy biện đi chăng nữa. Xét thấy sự cần thiết phải hiểu cho rơ vấn đề này, VHA xin giới thiệu bài viết sau đây đă đăng trên Thanh Niên.


Nh́n lại chiến tranh biên giới 1979


Đúng 34 năm trước (17/2/1979), Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, nhưng đă phải rút quân sau hơn một tháng gặp sự kháng cự mănh liệt của quân và dân ta, chịu nhiều tổn thất nặng nề.

Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nh́n nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết.

Kể từ sau khi VN và TQ b́nh thường hóa quan hệ (1991), hai bên dường như đều không muốn nhắc lại cuộc chiến này. Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Theo ông tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lăng quên như vậy?

Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ư như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15... hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền h́nh của VN gần như không đưa tin ǵ về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đă bỏ ḿnh để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2/1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đ́nh vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ ǵ về chuyện này? Đă có ư kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện.

Trong khi chúng ta im lặng th́ những dịp đó chúng tôi đă thống kê hệ thống phát thanh, truyền h́nh báo chí của TQ tung ra trung b́nh từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN”. Có thông tin cho rằng hiện tại có tới trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội VN đă vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền của TQ đă nhồi nhét vào đầu người dân TQ rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của VN.

Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, cả ở kênh nhà nước, nhân dân và trên truyền thông, chúng ta phải làm rơ và góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rơ bản chất của cuộc chiến tranh Việt - Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỉ người TQ biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân TQ đă vượt biên giới xâm lược VN. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là không đúng. Việc nói ra cũng không liên quan ǵ chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hăy thử so sánh chuyện đó với việc TQ tung ra hàng ngh́n bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua.

Với độ lùi về thời gian, theo ông chúng ta có thể rút ra những điều ǵ từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ư nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ?

Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm đă là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Thế nhưng đến giờ phút này tôi có cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới.

Vấn đề thứ nhất, phải xác định rơ về mặt khoa học, cuộc chiến 1979 là cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề phải nhận thức rơ từ cấp cao nhất. Sự nhận thức ấy cũng phải được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.


Bệnh viện huyện Trùng Khánh (Cao Bằng) bị quân
Trung Quốc tàn phá tháng 2/1979 (Ảnh tư liệu)

Không chỉ nhận thức mà Nhà nước phải có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết ǵ về cuộc chiến tranh này. Nếu để t́nh trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chắc chắn chúng ta sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đă bỏ ḿnh để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc của Tổ quốc, tại sao không có một ḍng nào nhắc đến họ? Bây giờ đă quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Theo quan điểm của tôi, Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ được, không thể lờ đi vấn đề lịch sử này được.

Tôi đă nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ đă thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân TQ xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo tŕnh lịch sử của VN. Tôi đă phải chống chế với lư do rằng người VN muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản đă phản bác tôi v́ “Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói rằng: “Chúng tôi biết người VN rất nhân hậu, muốn ḥa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế cho trang sử chống ngoại xâm này được”.

Thứ hai, trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Ngay cả Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm về độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rơ cái ǵ là trường tồn? Theo tôi có 3 thứ là chủ quyền quốc gia, ư thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây chúng ta phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn với ḷng yêu nước chân chính, ư thức tự tôn tự hào dân tộc. Hai cái đó khác nhau. Người VN có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người VN trong và ngoài nước.

Chủ quyền quốc gia, ư thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những cái “dĩ bất biến”, những cái c̣n lại là “ứng vạn biến”. Những chuyện “16 chữ”, “bốn tốt” trong quan hệ với TQ là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này th́ rất nguy hiểm.

Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí để phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7/2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy có một quan điểm bây giờ vẫn đúng, đó là: "Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác b́nh đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh". Đồng thời, cũng phải có cách nh́n biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh.


Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng

Nh́n lại từ câu chuyện của 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề biển Đông, theo ông có thể hy vọng ǵ ở tương lai trong quan hệ giữa VN và TQ?

Tạo ra ḷng tin, sự hữu nghị chân thật giữa hai nước là con đường tất yếu nhưng đ̣i hỏi thời gian lâu dài và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng có được trong vài ba năm tới đây. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được ḥa b́nh, ổn định, giữ được độc lập tự chủ th́ điều quan trọng nhất là giữ được ḷng dân. Trên dưới một ḷng, có được sự đoàn kết dân tộc th́ chắc chắn không có kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử VN đă cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân:

- Năm 179 trước CN An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù th́ chuyện mất nước là không thể tránh khỏi.

- Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng v́ đă mất dân. Đến mức độ nhà Minh truy bắt cha con Hồ Quư Ly th́ chính những người trong nước đă chỉ điểm cho quân Minh.

- Năm 1788 Lê Chiêu Thống sang cầu viện Măn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là ông vua đă mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia. (Theo Thanh Niên)

Posted by: VuHungAnh Mar 14 2013, 04:02 PM


Ghi nhớ sự kiện 25 năm trước, 64 chiến sĩ Việt Nam đă hy sinh trong trận chiến đấu chống
quân Trung Quốc đánh chiếm băi đá ngầm Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta:



Trung Quốc là kẻ xâm lược!



Đă nhiều lần người viết nhắc lại những ư kiến không mới về bộ mặt thật của giới cầm quyền Trung Quốc, là: họ luôn luôn là kẻ tiền hậu bất nhất, luôn lợi dụng lúc hàng xóm suy yếu để đâm những nhát dao trí mạng vào mạng sườn nhằm hạ gục bạn bè, đảng cầm quyền của họ không hề là cộng sản và sự cố t́nh lờ đi những điều đă xảy ra trong lịch sử của truyền thông nước ta do được chỉ đạo từ trên xuống là không thể chấp nhận được dù chỉ là bằng ngụy biện! Cho đến những ngày gần đây, truyền thông của chúng ta đă đề cập công khai đến những sự kiện mà những ngày trước đó và mấy chục năm qua c̣n bị lờ đi. Đặc biệt ngày hôm nay, 14/3/2013 tức là đúng ngày này 25 năm về trước, Trung Quốc đă nổ súng đánh chiếm băi Gạc Ma của chúng ta làm 64 chiến sĩ Việt Nam anh dũng hy sinh, báo Thanh Niên đă có bài viết chính thức và rơ ràng công khai trên công luận tất cả những điều này:


Tại sao Trung Quốc đánh chiếm các đảo của Việt Nam vào tháng 3/1988?

Từ đầu năm 1988, Trung Quốc đă sử dụng một lực lượng lớn hải quân gồm nhiều tàu chiến chiếm đóng một loạt đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Cao trào của hành động xâm lược này diễn ra vào ngày 14/3/1988 khi biên đội gồm 6 tàu chiến, trong đó có 3 tàu hộ vệ có trang bị tên lửa và pháo 100 mm, của Trung Quốc đă bắn ch́m và cháy 3 tàu vận tải của Việt Nam tại băi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Trong vụ thảm sát này, 64 binh sĩ Việt Nam đă anh dũng hy sinh. Sau đó Trung Quốc c̣n ngăn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu những người bị thương, bị nạn.

Điều phải lưu ư là đây là lần đầu tiên người Trung Quốc (lục địa) đặt chân đến Trường Sa. Trước đó, với tư cách quan phương, Trung Quốc chưa bao giờ có mặt ở vùng biển này.

Đă một phần tư thế kỷ trôi qua, từ sự kiện 14/3/1988, có những điều cần phải nói rơ như sau:

Đầu tiên, ngay sau ngày 14/3/1988, thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ của ḿnh, Trung Quốc đă ngang nhiên bịa đặt trắng trợn với dư luận trong nước và quốc tế rằng: Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc (LHQ) đi khảo sát khoa học tại Trường Sa th́ bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công. V́ thế hải quân Trung Quốc bắt buộc phải đánh trả tự vệ!


Tàu HQ505 đă lao lên băi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14/3/1988

Sau đó thông qua người phát ngôn của ḿnh, Tổng thư kư Liên Hợp Quốc đă nói rơ: không hề có tàu của LHQ tổ chức khảo sát khoa học ở Trường Sa vào 3.1988!

Rơ là “cháy nhà ra mặt chuột” và chính quyền Trung Quốc đă “lấy thúng úp voi”, đă “lấy thịt đè người” lại c̣n muốn lấy tay che mặt trời!
Đă không có tàu khảo sát khoa học của LHQ th́ chắc chắn không có việc tàu chiến Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. Điều mà nhiều người đều biết đó là chuyện “ngậm máu phun người” là sở trường của các nhà cầm quyền Trung Quốc.

Trước đó, năm 1962 Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Ấn Độ và chiếm của Ấn Độ hàng ngh́n kilomet vuông nhưng lại vu cáo Ấn Độ xâm lược Trung Quốc. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục đem 60 vạn quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Bắc. Sự việc rơ ràng như vậy nhưng cũng được họ tuyên truyền là “phản kích tự vệ quân Việt Nam xâm lược”!

Thứ hai, có một câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại tiến hành đánh chiếm các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 3/1988?

Cuối 1987 đầu 1988 là thời kỳ Việt Nam rơi xuống điểm thấp nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế - xă hội. T́nh h́nh trong nước chồng chất khó khăn: kinh tế đ́nh đốn, đời sống của đại đa số người dân cực kỳ vất vả.

Cũng trong thời điểm đó, Liên Xô cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng chính trị - xă hội. Bắc Kinh cúi ḿnh trước Washington, tự nhận là “NATO phương Đông” để nhận được nguồn tài chính và công nghệ, kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa. Trong bối cảnh ấy, Trung Quốc cũng đă câu kết với Mỹ và hầu hết các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia) siết chặt ṿng bao vây, cấm vận đối với Việt Nam.

Lợi dụng t́nh thế khó khăn đó của Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa phục vụ cho ư đồ lâu dài.

Trung Quốc cũng là bậc thầy trong việc lợi dụng thời điểm. Mặc dù đă đưa lực lượng ra Trường Sa và có những hoạt động đe dọa từ đầu năm 1988, nhưng thời điểm được Trung Quốc lựa chọn nổ súng rơi đúng vào 14/3/1988 cũng là thời điểm lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được tổ chức tại Hà Nội! Một khi họ đă có dă tâm th́ chuyện “tang gia bối rối” lại trở thành điều có thể lợi dụng được!

Câu chuyện xảy ra ngày 14/3/1988 tại Trường Sa đến nay vẫn c̣n nguyên ư nghĩa thời sự. Sự hy sinh của những người lính Việt Nam 25 năm trước là một lời nhắc nhở tới 90 triệu người đồng bào hôm nay, trước hết là những người có trọng trách với dân tộc, không bao giờ được quên 3 điều:

- Một là, ḷng tin phải được đặt đúng chỗ. Đối với Trung Quốc, điều quan trọng không phải là lời nói mà là hành động. Các đấng quân vương Trung Hoa từ xưa đến nay và từ nay về sau đều là những bậc thầy về nghệ thuật “nói một đàng làm một nẻo”. Tin vào những điều mà giới lănh đạo cấp cao ở Bắc Kinh nói không khác ǵ chuyện “gửi trứng cho ác”!

- Hai là, cần phải hiểu về con đường mà Trung Quốc lựa chọn. Những toan tính và hành động của Trung Quốc liệu có phải là một quốc gia cộng sản đồng chí như họ từng miêu tả hay thực tế là chính sách dân tộc nước lớn vị kỷ?

- Việc vô cớ đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng, bất kể quốc gia đó phát triển theo đường lối nào cũng là đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phản bội đối với chủ nghĩa Marx - Lênin mà Trung Quốc từng sử dụng như một chiêu bài (nghĩa là có cộng sản hay không cộng sản cũng chả có ǵ quan trọng! Và cái mác cộng sản trưng ra chỉ là chiêu bài, là cái bộ cánh con cừu của con chó sói mà thôi).


Láng giềng là vĩnh viễn và không bao giờ thay đổi, trừ phi có một trận siêu động đất đẩy hai quốc gia ra xa nhau!

Việt Nam cần và mong muốn có một mối quan hệ hữu nghị, ổn định, lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ ấy cần được đặt trong sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề “bất biến” là chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức được điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “ứng vạn biến” như “mười sáu chữ”, “bốn tốt” có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu quả lớn cho quốc gia, dân tộc!

Chúng ta đă có được bài học đắt giá khi rơi vào cảnh bị cô lập trên trường quốc tế từ 1979-1990. Bài học ấy cùng với sự kiện 14/3/1988 mách bảo chúng ta rằng bị cô lập không đồng nghĩa với có độc lập, mà ngược lại, bị cô lập sẽ dẫn đến thảm họa, thậm chí mất cả độc lập và chủ quyền quốc gia.

Các nhà sử học Việt Nam chân chính và những người Việt có lương tâm trong sáng sẽ c̣n mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, mổ xẻ, soi xét sự kiện 14/3/1988 một cách khách quan để rút ra bài học bổ ích cho những người Việt hiện nay và các thế hệ mai sau.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của Tổ quốc không thuộc sở hữu riêng của riêng ai. Nó là tài sản lớn nhất, quư giá và quan trọng nhất của cả dân tộc. (theo Liêm Thạch, Thanhnien online)

Posted by: Hoacamchuong Mar 14 2013, 09:17 PM

QUOTE (VuHungAnh @ Mar 14 2013, 04:02 PM) *
Ghi nhớ sự kiện 25 năm trước, 64 chiến sĩ Việt Nam đă hy sinh trong trận chiến đấu chống quân Trung Quốc đánh chiếm băi đá ngầm Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta:


Trung Quốc là kẻ xâm lược!



Đă nhiều lần người viết nhắc lại những ư kiến không mới về bộ mặt thật của giới cầm quyền Trung Quốc: họ luôn luôn là kẻ tiền hậu bất nhất, luôn lợi dụng lúc hàng xóm suy yếu để đâm những nhát dao trí mạng vào mạng sườn nhằm hạ gục bạn bè, đảng cầm quyền của họ không hề là cộng sản và sự cố t́nh lờ đi những điều đă xảy ra trong lịch sử của truyền thông nước ta do được chỉ đạo từ trên xuống là không thể chấp nhận được...


Để tiếp tay với VHA, HCC xin đăng lại 1 bài viết của nhà báo Minh Diện cách đây mấy ngày trên trang Bùi Văn Bồng:

CÁC ANH LẠNH LẮM KHÔNG?

* MINH DIỆN


Ngày này, tháng này 25 năm trước, thiếu úy Trần Văn Phương, Phó chỉ huy đảo Gạc Ma cùng các chiến sĩ nhận trực đảo.
Sương mù mịt. Biển b́nh yên vừa thức giấc.
Họ chưa kịp nhận khẩu phần ăn sáng. Cán bộ chiến sĩ quấn vội điếu thuốc rê, hút lấy hơi ấm xua bớt giá lạnh. Cách họ không xa, trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó 125, trên tàu HQ-604, đang chỉ huy các chiến sĩ công binh bốc dỡ hàng hàng hóa và vật liệu xuống đảo để xây dựng công tŕnh.

Lá cờ Tổ quốc phấp phới bay, như ba đốm lửa đỏ rực giữa màn sương. Những người lính giữ đảo quê từ Quảng B́nh, Nam Định, Khánh Ḥa, Quảng Ngăi... sạm đen sóng gió và nước biển mặn ṃi.
Năm tháng ấy nhân dân cả nước khổ, người lính đảo c̣n khổ hơn nhiều. Mấy tháng mới có một chuyến tàu từ đất liền ra cung cấp một ít lương khô, một vài khối nước ngọt, vài quả bí đao, không một cọng rau xanh. Cũng không có tờ báo, tập truyện để đọc. Cuộc sống kham khổ, khí hậu khắc nghiệt, thiếu thốn t́nh cảm, tinh thần, khiến thân h́nh những người lính quắt lại. V́ nghĩa vụ thiêng liêng bảo vệ Tổ quốc, và v́ sự sống c̣n của bản thân, họ gắn kết với nhau nơi đầu sóng ngọn gió. Ngày ngày, khi tuyên thệ dưới lá Quốc kỳ trước phiên trực đảo, những người lính không nói suông mà đối mặt với kẻ thù. Cách họ không xa, chiếc tàu hải quân Trung Quốc ngày đêm lởn vởn, nḥm ngó, khiêu khích. Chỉ cần sơ hở là chúng chiếm đảo. Chỉ cần chút thiếu kiềm chế là chúng lấy cớ mở cuộc chiến tranh tổng lực. Các chiến sĩ quán triệt mệnh lệnh cấp trên: “Dùng lư lẽ thuyết phục! Không được nổ súng trước nếu phía Trung Quốc cố t́nh gây hấn!”.

Ngày ấy cách đây 25 năm!
7h20. Biển trào sóng dữ. Hai tàu hải quân Trung Quốc mang số 502, 531 bất ngờ tiến vào phía trái đảo Gạc Ma. Cách đảo khoảng hơn trăm mét, chúng neo tàu, thả 2 thuyền sắt công suất lớn làm phương tiện đổ bộ. Hơn 60 tên lính thủy quân lục chiến, súng lắp lưỡi lê, hùng hổ lên đảo.

Dưới sự chỉ huy của thiếu úy Trần Văn Phương, các chiến sĩ vẫn b́nh tĩnh. Phương nhắc đồng đội kiềm chế, không mắc mưu khiêu khích của lính Trung Quốc. Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh súng quàng vai, tay nắm chặt cây cột cờ bằng tầm vông cắm trên đảo san hô. Nước biển lấp xấp, chỗ nông chỗ sâu, sương hơi loăng ra, nhưng trời vẫn âm u, buốt lạnh.
Tên chỉ huy Trung Quốc hống hách ra lệnh cho chiến sĩ ta nhổ cờ rút khỏi đảo.
Thiếu úy Trần Văn Phương nói với chúng:
- Đảo Gạc Ma, Cô Lin, Len Đao của Việt Nam, các anh không được xâm phạm!
Phương chưa nói dứt lời, tên chỉ huy Trung Quốc ra lệnh cướp cờ. Hạ sĩ Nguyễn Văn Lanh chống lại quyết liệt. Một tên lính Trung Quốc đâm thẳng lưỡi lê vào ngực Lanh. Trước khi gục xuống, Nguyễn Văn Lanh kịp trao lá cờ cho thiếu úy Trần Văn Phương.
Phương cầm cờ Tổ quốc phất cao, hô to:
- Các đồng chí chiến đấu! Thà hy sinh không để mất đảo!
- Đoàng, đoàng, đoàng....
Một loạt đạn bắn thẳng vào ngực Phương. Người sĩ quan trẻ gục xuống. Máu anh và máu hạ sỹ Nguyễn Văn Lanh loang trên mặt biển.
Trung tá Trần Đức Thông lập tức thông báo khẩn cho Sở chỉ huy tiền phương, rồi quay mũi tàu đâm thẳng vào đảo Gạc Ma. Theo lệnh anh, các chiến sỹ công binh xông lên chi viện cho các chiến sĩ giữ đảo.
Trung tá Trần Đức Thông nói với chiến sĩ:
- Chúng ta có thể mất tàu, nhưng tôi và anh em sẽ không lùi bước, quyết giữ đảo đến cùng!
- Dù hy sinh quyết không mất đảo!
Các chiến sĩ đáp lại lời trung tá Trần Đức Thông.
Cuộc chiến đấu diễn ra một mất một c̣n. Họ là những người lính xây dựng công tŕnh, không quen tác chiến, phải đối đầu với bọn lính thủy quân lục chiến Trung Quốc trong t́nh thế bất ngờ.
Từ hai chiếc tàu chiến, bọn Trung Quốc bắn đổ đạn vào đội h́nh bên ta. Tàu HQ-604 trúng đạn, trung tá Trần Đức Thông hy sinh. Tiếp theo anh là đại úy thuyền trưởng Vũ Huy Trừ... Con tàu ghếch mũi lên đảo, lửa bốc cao ngùn ngụt.
Đảo Gạc Ma nửa nổi nửa ch́m, những người lính Việt Nam không có hầm hào, không vật cản che chắn, phơi ḿnh trước làn đạn của kẻ thù. Họ như những tấm bia trong một cuộc tập trận. Họ chiến đấu đến viên đạn cuối cùng và lần lượt ngă xuống dưới làn đạn của lính Trung Quốc. Nước biển réo sôi lên, nhuộm đỏ máu tươi những người lính hải quân, công binh, hầu hết tuổi hai mươi.
Ngày ấy cách đây 25 năm, 64 cán bộ chiến sĩ Hải quân nhân dân Việt Nam đă hy sinh trên đảo Gạc Ma.

Trung tá Trần Đức Thông người Thái B́nh, quê tôi. Anh ở huyện Hưng Hà, cách nhà tôi hai chục cây số, có nghề làm bánh Cáy nổi tiếng. Đầu tháng Ba, Thông được nghỉ phép. Chưa hết phép th́ có điện gọi về đơn vị gấp. Và Thông ra đảo.
Như có linh tính, anh viết mấy lá thư cho vợ con, nhờ đồng đội ở đất liền mỗi tháng gửi một lá, khi nào gửi hăy ghi ngày tháng. Bởi vậy vợ con anh nhận giấy báo tử hơn một tháng lại thấy thư anh gửi về.
Lê Văn Đông quê ở Tây Trạch, Bố Trạch, Quảng B́nh. Đông cưới vợ, vừa hết tuần trăng mật th́ ra đảo. Khi giấy báo tử Đông gửi về nhà, người vợ trẻ chết ngất, trong tay bế đứa con vừa sanh được vài ngày.
Phạm Tấn Dư ở thành phố Tuy Ḥa. Trước khi ra Trường Sa, Dư được về phép thăm nhà. Má anh hỏi:
- Dịp này t́m vợ cưới đi nghe con!
Dư cười cười:
- Chờ hết nghĩa vụ con về, con làm trả nợ, xây nhà đă má!
Dư chằng c̣n dịp nào để làm trả nợ xây nhà cưới vợ!
Vơ Đ́nh Tuấn ở một xóm nghèo ngoại ô Ninh Ḥa. Hai năm nghĩa vụ, về phép trước khi ra đảo, gom góp hết tiền phụ cấp tiết kiệm, không đủ mua cho mỗi đứa em một bộ quần áo, đành mua cho em trai cái áo, em gái cái quần.
Thông, Đông, Phương, Dư, Tuấn, Hưng, Trung... Sáu mươi tư cán bộ chiến sĩ Công binh và Hải Quân đă vĩnh viễn nằm lại ở Gạc Ma. Sáu mươi tư hoàn cảnh, sáu mươi tư niềm tin, ước mơ và hy vọng phải chịu chung một số phận. Họ hy sinh thầm lặng giữa biển khơi để lại nỗi đau cho những người mẹ, người vợ nghèo.
Tôi ngồi viết những ḍng này trong Nhà truyền thống Hài quân nhân dân Việt Nam, giữa buổi chiều tháng Ba biển động. Gió từ phía biển mang hơi lạnh lùa vào chân tóc.
Ngoài kia, con đường nhựa, những chiếc xe hơi láng bóng nối đuôi nhau. Trên TV đang quảng cáo bộ phim Hồng Lâu Mộng của Trung Quốc. Tôi không cầm được nước mắt, nghĩ giờ này hương hồn đồng đội đang phiêu bạt giữa biển khơi sóng gió!
Các anh có buồn, có lạnh lắm không?
Người ta muốn quên ngày 14-3-1988, cũng như quên ngày 17-2-1979, quên các anh, cũng như quên hàng ngàn đồng đội chúng ta ở biên giới phía Bắc, quên luôn cả Hoàng Sa, Gạc Ma, Vị Xuyên, Mục Nam Quan...
Nhưng tôi không quên, nhân dân không quên!
Mới đây, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang nhắc lại lời vua Trần Nhân Tông: “Kẻ nào để mất một tấc đất của cha ông sẽ phải chu di tam tộc!”. Các anh có linh thiêng hăy chứng giám, hăy là những quan ṭa xử tội những kẻ bán nước hại dân ấy!

M.D

Posted by: lanha92 Mar 17 2013, 12:10 AM

Cháu không muôn nói nhiều, cháu thực sự cảm ơn những người đă ngă xuống v́ tổ quốc cho cháu ngày hôm nay
Nhưng cháu cũng không dung thứ cho những kẻ lợi dụng xương máu của liệt sĩ để đánh bóng bản thân và làm tṛ hèn hà
Ông Minh Diện này cũng cùng một duộc với những kẻ như Xuân Diện, Minh Hằng, Trọng Vĩnh....dùng hương hồn liệt sĩ để thực hiện cái họ gọi là đổi màu dân chủ, phê phán nhà nước. Hành vi báng bổ trong ngày 17/2/2013 đă nói lên tất cả
Bác cháu, thậm chí ông cháu đă ngă xuống trong 2 cuộc chiến tranh thống nhất đất nước, cũng như hàng triệu liệt sĩ khác từ 1945 cho đến ngày nay, những kẻ hèn nhát khi đất nước có biến loạn th́ chui lủi khi ḥa b́nh th́ như Nhà thơ cộng sản Maiacôpxhi đă nói" lê cặp mông sứ ra ngồi" làm sao đủ tư cách để đối diện với họ. Vậy chúng có dám lên án những Phú Quốc Côn Đảo, Vĩnh trinh hay không. Chúng ca ngợi về VNCH như thể chính nhnững người cộng sản là có tội vói cái thể chế hại nước hại dân ấy vậy
Mất Hoàng Sa là ở ai
Mất Ba B́nh và một phần lớn Trường Sa là ở ai
Hàng vạn chiến sĩ đang dùng máu ḿnh để giữ biển đảo Tổ quốc yên b́nh, nếu yêu nước hăy thiết thực hơn bày tṛ như đang làm, nhục nhă lắm
Quá khứ là máu nhưng hiện tại mới cần thiết
CHính v́ thế mong các bác dù bức xúc với nhà nước nhưng tránh xa những kẻ biến chất tư tưởng, núp bóng dân chủ th́ phải loại triệt để
Vài lời với bác Cầm chướng
Cháu biết bác rất muốn tăng cho chúng cháu thêm t́nh yêu nước và ḷng căm thù quân xâm lược, nhưng bác đă lớn tuổi, cháu mong bác khi định hướng cho chúng cháu bằng những lời chân thực và sư kiên trung mà bác đă phấn đấu cả đời mới có được, chứ không phải bằng những bài viết ..thủ đoạn của mấy tay dân cuội
Mong bác đừng giận cháu

Posted by: Hoacamchuong Mar 17 2013, 07:50 AM

QUOTE (lanha92 @ Mar 17 2013, 12:10 AM) *
Cháu không muôn nói nhiều, cháu thực sự cảm ơn những người đă ngă xuống v́ tổ quốc cho cháu ngày hôm nay
Nhưng cháu cũng không dung thứ cho những kẻ lợi dụng xương máu của liệt sĩ để đánh bóng bản thân và làm tṛ hèn hà
Ông Minh Diện này cũng cùng một duộc với những kẻ như Xuân Diện, Minh Hằng, trọng Vĩnh....dùng hương hồn liệt sĩ để thực hiện cái họ gọi là đổi màu dân chủ, phê phán nhà nước. Hành vi báng bổ trong ngày 17/2/2013 đă nói lên tất cả
...
Vài lời với bác Cầm chướng
Cháu biết bác rất muốn tăng cho chúng cháu thêm t́nh yêu nước và ḷng căm thù quân xâm lược, nhưng bác đă lớn tuổi, cháu mong bác khi định hướng cho chúng cháu bằng những lời chân thực và sư kiên trung mà bác đă phấn đấu cả đời mới có được, chứ không phải bằng những bài viết ..thủ đoạn của mấy tay dân cuội
Mong bác đừng giận cháu


Bác HCC rất hân hạnh được làm quen với cháu lanha92!
Cháu yên tâm, bác HCC không (và chưa bao giờ) giận ai trên trang mạng này cả. Với cháu lại càng không!
Bác chỉ tiếc một chút, rằng sao cháu lại phát biểu như vậy, trước khi đọc kỹ bài viết và t́m hiểu rơ tác giả chứ?
Hy vọng chúng ta có nhiều dịp đàm đạo, phải không cháu lanha92 thân mến?
HCC

Posted by: lanha92 Mar 17 2013, 01:54 PM

Vâng thưa bác, trước hết cháu xin lỗi bác v́ đă viết như thế
Cháu không dám tự nhận ḿnh đă biết yêu nước đúng nghĩa, v́ yêu nước không bao giờ là có giới hạn
Nhưng yêu nước cũng phải bằng trái tim và t́nh cảm, chứ không thể yêu nước theo kiểu xu thời đón gió, bác chắc hiểu ư cháu
Cháu chỉ giận những ông như Minh Diện, Bổng, Xuân Diện
Nếu họ yêu nước họ không bao giờ " tranh đấu" như hiện nay, hương hồn các liệt sĩ không tha thứ cho họ

Posted by: Hoacamchuong Mar 17 2013, 10:13 PM

QUOTE (lanha92 @ Mar 17 2013, 01:54 PM) *
Vâng thưa bác, trước hết cháu xin lỗi bác v́ đă viết như thế
Cháu không dám tự nhận ḿnh đă biết yêu nước đúng nghĩa, v́ yêu nước không bao giờ là có giới hạn
Nhưng yêu nước cũng phải bằng trái tim và t́nh cảm, chứ không thể yêu nước theo kiểu xu thời đón gió, bác chắc hiểu ư cháu
Cháu chỉ giận những ông như Minh Diện, Bổng, Xuân Diện
Nếu họ yêu nước họ không bao giờ " tranh đấu" như hiện nay, hương hồn các liệt sĩ không tha thứ cho họ


À, th́ ra là thế, bác hiểu ư cháu rồi. Bác rất hoan nghênh cháu đă có ư kiến thẳng thắn. Hay lắm!
Vậy để tiện trao đổi, bác mời cháu vào đây: [email protected], chúng ta sẽ thảo luận thoải mái mà không sợ làm phiền các thành viên khác. Cháu đồng ư không?

Posted by: VuHungAnh May 9 2013, 05:08 PM

Kỷ niệm 68 năm chiến thắng chủ nghĩa phát-xít
9/5/1945 – 9/5/2013


Không một đất nước nào phải chịu nhiều đau thương đến thế như Liên bang Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Xô Viết (Liên Xô) trong chiến tranh thế giới thứ 2. Hơn 27 triệu người đă hy sinh để có thể đi đến cái kết của cuộc chiến tranh đẫm máu này vào ngày 9/5/1945. Chúng ta cùng nghe lại bài hát Cuộc chiến tranh thần thánh (Священная война) sáng tác nhạc của Alexander Vasilievich Alexandrov và lời thơ Vasily Ivanovich Lebedev-Kumach, một bài hát mà người ta không thể nào không trào nước mắt khi nghe nó:


22 giờ 43 phút ngày 8 tháng 5 năm 1945 theo giờ Berlin (tức 0 giờ 43 phút ngày 9 tháng 5 theo giờ Moskva), tại một trường quân sự cũ ở Karlshorst gần Berlin trước sự chứng kiến của đại diện các cường quốc đồng minh, các đại diện toàn quyền của nước Đức Quốc xă (tức phát xít Đức) đă kư vào biên bản xác nhận họ đầu hàng không điều kiện.

Kể từ đó trở đi, ngày 9/5 được lấy làm ngày Chiến thắng phát xít Đức ở Nga và các quốc gia trong Liên Xô cũ, kể cả ở Việt Nam nữa. Bài hát Ngày Chiến thắng (День Победы) sáng tác nhạc D. F. Tukhmanov, thơ V. G. Kharitonov, thể hiện là ca sĩ Lev Lesenko, một giọng hát rất nam tính và truyền cảm:


10 giờ sáng hôm nay ở Matxkva và trên toàn nước Nga (13 giờ theo giờ Hà Nội) đă diễn ra cuộc diễu binh kỷ niệm ngày Chiến thắng phát xít này. Một số h́nh ảnh về cuộc diễu binh ở Matxkva và một số nơi khác trên toàn nước Nga:


Tổng thống Putin và Thủ tướng Medvedev có mặt trên lễ đài



Bộ trưởng Quốc pḥng Nga Sergei Shoigu chỉ huy lễ diễu binh



Xe tăng T.90 trong cuộc duyệt binh



Xe bọc thép chở lính BTR-82A trên Quảng trường Đỏ



Các chiến xa bộ binh diễu hành trên Quảng trường Đỏ trong lễ duyệt binh kỷ niệm ngày Chiến thắng 9/5/2013



Tên lửa liên lục địa Topol-M của Nga trên các xe di động



Đội h́nh duyệt binh trên Quảng trường Đỏ sáng 9/5/2013



Cựu chiến binh Thế chiến II trong ngày kỷ niệm 68 năm chiến thắng phát xít Đức



Duyệt binh mừng ngày Chiến thắng ở Vladivostok,
thành phố vùng Viễn Đông nằm trên châu Á của nước Nga



Duyệt binh mừng ngày Chiến thắng ở Khabarovsk

Posted by: VuHungAnh May 19 2013, 10:26 PM

123 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh


Ngày hôm nay, 19/5/2013, chúng ta cùng tưởng nhớ và kỷ niệm lần thứ 123 ngày sinh Bác Hồ kính yêu. Từ mấy hôm nay, các phương tiện truyền thông đă đưa tin về những hoạt động kỷ niệm sinh nhật Bác: những chương tŕnh ca nhạc, những cuộc viếng Lăng Bác của lănh đạo Đảng và Nhà nước ta, những cuộc phỏng vấn BQL Di tích Phủ Chủ tịch…


Chủ tịch Hồ Chí Minh làm việc tại chiến khu Việt Bắc trong kháng chiến chống Pháp


Riêng tôi những ngày này lại nghĩ về một bài hát đơn sơ mà thiết tha cảm động được nhạc sĩ Tô Vũ viết năm 1950 có tên là Nhớ ơn Hồ Chí Minh. Đây là bản thu do nghệ sĩ Phan Huấn thể hiện:



Hồ Chí Minh suốt đời v́ nhân dân đấu tranh!

- Người xót xa đời đau thương dân nghèo không áo cơm
Cờ đỏ sao vàng Cách mạng tháng Tám thắng lợi
Bàn tay Người lái con thuyền kháng chiến!

- Dù trường kỳ dù gian khó nhất định thành công!
Hồ Chí Minh – Người nêu gương trọn đời hy sinh
Cho nhân dân cho thế giới ḥa b́nh!

- Toàn dân ghi ơn đức Người dài lâu như núi sông
Như mưa rơi trên đồng khô như ánh nắng ngày mùa
Như (ư ư) ánh nắng – soi (ơ ơ) ngày mùa…


Lời ca ngắn gọn và súc tích. Khi ngẫm nghĩ về lời ca bài hát này mới thấy nhạc sĩ Tô Vũ đă chính xác đến từng câu chữ: Hồ Chí Minh suốt đời v́ nhân dân đấu tranh! Người xót xa đời đau thương dân nghèo không áo cơm… V́ xót xa cho kiếp những người dân Việt đói nghèo không áo cơm mà Người đă lănh đạo con thuyền kháng chiến đi đến cách mạng tháng Tám thắng lợi. Thế rồi Người lại dẫn dắt cả dân tộc bước qua 2 cuộc kháng chiến với 30 năm trường kỳ để đi đến thắng lợi cuối cùng vào 1975. Và điều tất nhiên là cả dân tộc đều nhớ thương Người, ghi nhớ công ơn và đạo đức của Người dài lâu như núi như sông...

Ngày hôm nay, nghĩ về t́nh h́nh đất nước bây giờ lại càng nhớ đến Bác Hồ nhiều hơn. Tám mươi năm qua, từ khi có Bác dẫn đường mà cả dân tộc đă đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Trước khi đi vào cơi vĩnh hằng, Người đă để lại cho cả dân tộc những dặn ḍ cực kỳ quan trọng được ghi rơ trong Di Chúc. Một trong những điều căn dặn ấy là: “…Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đă hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dă man. Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rơ ràng chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm. Theo ư tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tṛn nhiệm vụ đảng giao phó cho ḿnh, toàn tâm toàn ư phục vụ nhân dân. Làm được việc như vậy, th́ dù công việc lớn mấy, khó khăn đến mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi”...

38 năm sau ngày thống nhất đất nước, cuộc chuẩn bị chỉnh đốn Đảng mới bắt đầu được tiến hành. T́nh h́nh kinh tế đất nước hiện nay ngày một đi xuống đến mức “nguy cấp lắm rồi”, chưa bao giờ thất nghiệp nhiều như thế, hàng trăm ngàn doanh nghiệp giải thể và phá sản… Sự ảm đạm của nền kinh tế phủ bóng đen lên mọi hoạt động của đất nước, của mọi nhà... và của cả trang web nhaccachmang.net nữa! Có mối liên quan nào giữa t́nh h́nh đó với sự chậm trễ thực hiện lời dạy của Bác? Đến bao giờ đất nước mới lại sản sinh ra một con người có tầm vóc tương xứng với Bác Hồ để dẫn dắt cả dân tộc đi qua cuộc khủng hoảng này? Không ai trả lời được điều đó.

Và chúng ta lại càng nhớ Bác hơn bao giờ hết.

Posted by: VuHungAnh Jul 27 2013, 12:03 AM

Kỷ niệm ngày Thương binh – Liệt sĩ 27/7:
Đời đời biết ơn các anh hùng liệt sĩ và thương binh!


Năm nay chúng ta kỷ niệm lần thứ 66 ngày Thương binh – Liệt sĩ, 1947 – 2013. Trong pho lịch sử hào hùng bằng âm thanh, hay nói khác đi, trong kho tàng hàng vạn bài ca cách mạng đang lưu giữ tại Trung tâm Âm thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam, có hơn 3000 ca khúc nói về đề tài này (số liệu trong đoạn băng mà bác TLKU mới giới thiệu). Với số lượng đồ sộ như vậy đủ thấy đề tài thương binh liệt sĩ là một mảng đề tài lớn của ca khúc cách mạng Việt Nam. Có thể kể ra bao nhiêu tên tuổi anh hùng th́ dường như cũng có ngần ấy bài hát ghi tạc chiến công của các anh hùng liệt sĩ.

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp đă có rất nhiều bài hát ca ngợi các anh hùng mà trong đó bài hát Bế Văn Đàn sống măi (Huy Du) là một trong những bài hát đầu tiên.



Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta kéo dài hơn 20 năm vô cùng ác liệt với bao hy sinh mất mát to lớn không thể nào kể xiết. Bao tấm gương liệt sĩ đă hiển hiện trong cuộc chiến ấy và cũng từ đó bước thẳng vào những bài ca. Bao nhiêu hy sinh là bấy nhiêu biển nước mắt, là xương rơi là máu đổ. Mỗi bài ca ấy khi nghe lại chúng ta vẫn c̣n xúc động như mới hôm nào xuất hiện trên sóng phát thanh vậy. Trong số những bài ca ấy, hăy nghe Biết ơn chị Vơ Thị Sáu (Nguyễn Đức Toàn) qua giọng hát nghệ sĩ Bích Liên:



Ngoài ra, có thể kể tới Lời anh vọng măi ngàn năm (Nguyễn Đức Toàn) ca ngợi anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, Hồ Thị Kỷ tên gọi tự hào (Phan Thao), Bên bờ sông Côn (Vĩnh An) ca ngợi anh hùng Ngô Mây nổi tiếng v́ sự gan dạ đă ôm bom ba càng lao thẳng vào hàng ngũ địch, Cô du kích Đà Nẵng (Thanh Anh) ca ngợi đội nữ biệt động thành Đà Nẵng, Người con gái Đồng Tháp (Phạm Minh) nói về nữ anh hùng Lê Thị Hồng Gấm, Người con gái sông La (Doăn Nho) nói về chiến công bi hùng của 10 cô gái Đồng Lộc, hoặc Em ở nơi đâu (Phan Nhân), Vui mở đường (Đỗ Nhuận) ca ngợi những chiến công của những anh hùng vô danh… Nhiều lắm, không thể kể hết ra được.



Cuộc kháng chiến trường kỳ 30 năm kết thúc, những tưởng từ đây chúng ta vui hưởng yên b́nh. Nhưng không, bọn giặc thù hung hăn lại lật mặt nạ xâm chiếm phía Bắc đất nước ta. Thế là lại ngă xuống những Lê Đ́nh Chinh, Hoàng Thị Hồng Chiêm và biết bao người con đất Việt khác nữa mà trong số ấy có hai người bạn thân của người viết những ḍng này ... , và cả những người nước ngoài yêu mến Việt Nam như nhà báo nhật bản Isayo Takano.

http://baicadicungnamthang.net/bai-hat/bai-ca-tren-dinh-po-hen-3636.html

Biên giới tạm yên th́ lại nảy ra chuyện lớn trên biển, nơi mà Hoàng Sa và Trường Sa từ bao đời đă là mảnh đất hương hỏa của cha ông di chúc lại qua những lễ khao lễ thế lính Hoàng Sa, một nghi lễ đă thành tập tục của người dân biển trên đảo Lư Sơn chứng tỏ chủ quyền không thể tranh căi của Việt Nam. Bài Khúc tráng ca biển (Vũ Thiết) qua giọng hát của nghệ sĩ trẻ Xuân Hảo:



Không ai muốn người thân của ḿnh cứ lên đường ra trận để rồi không trở về nhưng v́ cuộc sống, v́ b́nh yên , v́ mảnh đất này mà lớp lớp các thế hệ vẫn phải lên đường. Sáng nay, 26/7/2013, tivi đưa tin trong chiến dịch Mậu Thân, một tiểu đoàn đặc công gồm 500 chiến sĩ đă hy sinh chỉ sau một trận đánh ở khu vực Bến Cát (B́nh Dương). Thành quả là tiêu diệt hơn 600 tên địch và làm rung động Sài G̣n khi đó. Tối hôm qua, trong cuộc gặp mặt bạn bè nhân dịp ngày 27/7, một người đàn anh trong cơ quan đă kể chuyện tiểu đoàn đặc công của anh cũng bị tiêu diệt gọn ở mặt trận Quảng Nam – Đà Nẵng năm 1970, chỉ c̣n sót lại 3 người… Những chiến công bi hùng mà vang dội của các anh luôn đối ngược với sự âm thầm lặng lẽ mà bài hát Khúc quân hành lặng lẽ (Văn Kư) khắc họa được phần nào:



… Ra trận v́ quê hương, hy sinh v́ chân lư
Anh đi trong im lặng, lập chiến công tuyệt vời
Như mặt trời cháy bỏng người chiến sĩ đặc công
Giản dị như cuộc sống
Măi măi là niềm tin, măi măi là t́nh yêu
Lên đường trong đêm nay, mở đường cho tương lai
Lên đường trong đêm nay, mở đường cho tương lai…

Posted by: VuHungAnh Sep 9 2013, 10:31 AM

- Hội Nhạc sĩ Việt Nam có 1.200 hội viên th́ chỉ khoảng 40 nhạc sĩ, cả sống lẫn chết, thực sự là nhạc sĩ thôi.
- Đàm Vĩnh Hưng thích ứng được một lớp công chúng ít kiến thức âm nhạc.
- Vài năm trước, giải Sao Mai chỉ chấm chính xác khoảng 40%.
Đó là vài ư kiến của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ nói về t́nh h́nh âm nhạc hiện nay.



Những ư kiến đáng chú ư về ca nhạc hiện nay


Câu chuyện với hai nhạc sĩ của hai thế hệ trong Ngày Âm nhạc (3/9) năm nay xoay quanh những đợt sóng thưởng thức và biểu diễn âm nhạc gần đây.

“Nhiều nhạc sĩ, ca sĩ nhầm lẫn về ḿnh”

Nguyễn Tài Tuệ, nhạc sỹ của Xa khơi, Tiếng hát giữa rừng Pác Bó, Suối Mường Hum c̣n chảy măi, Mùa xuân gọi bạn,… chia sẻ: “Tôi có theo dơi câu chuyện nhạc sĩ Nguyễn Ánh 9 nhận xét một số ca sĩ thời thượng. Anh ấy nói đúng, tâm huyết và không ác ư ǵ cả. Những điều như vậy phải nên nói ra, v́ nền âm nhạc Việt Nam, nhất là v́ giới trẻ”.

Nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ

Hỏi: Có nhà phê b́nh âm nhạc uy tín cho rằng Nguyễn Ánh 9 đúng về chuyên môn nhưng sai về mặt xă hội, công chúng bây giờ cần những ca sĩ để xem chứ không chỉ để nghe?

Thưởng thức âm nhạc nghe là chủ yếu, xem là phụ. Nghe chưa đủ th́ phải xem, để hỗ trợ thôi. Bài hát nào mà múa phụ họa nhiều th́ chắc phần âm nhạc yếu, ca sĩ hát yếu.

Hồ Ngọc Hà đi đâu cũng có fan và vũ đoàn đi theo. Trên th́ vũ đoàn nhảy múa, ở dưới th́ fan ḥ hét, giơ băng rôn, bóng bay.

Hỏi: Ca sĩ Thu Minh khi bị so sánh đă phát biểu thương hiệu của cô là sexy, cô không thể cứ đứng im mà hát như Mỹ Linh?

Nhảy múa là b́nh thường. Nhưng múa phải theo nội dung bài hát. Nhiều bài nội dung du dương mà phần múa, huỳnh huỵch. Ca sĩ lạm dụng múa có khi để che đậy cái yếu. Nói chung ca sĩ phải được học hành bài bản, từ động tác trên sân khấu đến nhạc lư.

Hỏi: Nhưng giờ là thời của những ca sĩ không qua trường lớp, ví dụ Đàm Vĩnh Hưng?

Đàm Vĩnh Hưng nổi tiếng v́ có những người yêu thích ḍng nhạc của anh ấy. Hưng thích ứng được một lớp công chúng ít kiến thức âm nhạc, họ đi xem hát như xem một tṛ vui. Cũng không trách được họ. Bây giờ vàng thau lẫn lộn, ngay cả cuộc thi uy tín như Sao Mai cũng từng bị đồng tiền xen vào.

Hỏi: Ông có chắc Sao Mai từng bị chi phối?

Sao tôi không biết chứ? Tôi từng làm giám khảo, bị họ có ư tác động. Lúc ấy tôi khuyên họ không nên. Hồi ấy, cách đây vài năm thôi, tôi cho rằng giải Sao Mai chỉ chấm chính xác khoảng 40%. Có những giám khảo bạn tôi, cũng bị tác động. Tiêu cực cũng lan tới lĩnh vực này đấy, nó lộn ṣng giá trị, đánh giá sai nghệ thuật, làm mất niềm tin. Nhưng tôi tin Sao Mai năm nay chấm chính xác trên 90% v́ công tác giám khảo đă được chấn chỉnh lại.

Nhạc sĩ Trần Minh Phi vừa phát biểu trên báo, có ba kiểu phê b́nh âm nhạc hiện nay. Một là phê b́nh bầy đàn của đám đông; hai là phê b́nh của diễn xuất, tạo “hot” tạo tiếng cười như tấu hài; ba là phê b́nh kiểu “trà chanh” của báo chí lá cải, chẳng khác chém gió vỉa hè. Ông thấy thế nào?

Trần Minh Phi đúng đấy. Phê b́nh âm nhạc phải có chuẩn mực của nó, độ chuẩn bây giờ nhạt hơn rất nhiều. Sai chuẩn do chúng ta gây ra, có lúc làm sai chuẩn mực v́ lợi ích cá nhân- khen người không đáng khen, chê người không đáng chê. Không học hành bài bản th́ đừng nên làm giám khảo, huấn luyện viên. Như Đàm Vĩnh Hưng có kinh nghiệm sân khấu nhất định, có thành công nhất định trong ḍng nhạc của ḿnh th́ Hưng hay Siu Black nên truyền lại cho đàn em đi theo ḍng nhạc của ḿnh kinh nghiệm ấy chứ không nên dạy về âm nhạc. Anh Thơ, Trọng Tấn giảng dạy về âm nhạc v́ họ được học hành bài bản về thanh nhạc, về lư luận âm nhạc mười mấy năm.

“Ca sĩ và khán giả đang nuông chiều nhau”

Đó là ư kiến của Hồ Hoài Anh, người thuộc số nhạc sĩ được đánh giá tích cực về chuyên môn cũng như khả năng ḥa nhập thị trường. V́ thế anh đứng ở vị trí người trong cuộc lại có độ “tỉnh táo” để nh́n nhận.

Nhạc sĩ Hồ Hoài Anh

Hỏi: Gần đây, một số vấn đề của nhạc Việt được dư luận đào xới, trong đó có chất lượng ca khúc, chất lượng nghệ sĩ. Là người tham gia nhiều hoạt động âm nhạc, anh đánh giá thế nào về đời sống âm nhạc hôm nay?

Tôi nghĩ sự hỗn loạn và mất kiểm soát đă diễn ra từ lâu nay. Chẳng qua thời gian này showbiz được quan tâm quá thôi. Là người làm âm nhạc chuyên nghiệp, bao giờ tôi cũng đánh giá sự lao động nghiêm túc cũng như sự chuyên nghiệp, đào tạo bài bản. Tuy nhiên một nhân vật hay xu hướng có sức ảnh hưởng th́ đều có giá trị riêng. Khi truyền thông cũng như công chúng quan tâm nhiều hơn đến t́nh h́nh âm nhạc th́ cũng là tín hiệu mừng để ít nhiều từ đó những giá trị thật được trân trọng hơn.

Hỏi: Anh đă làm việc với nhiều nghệ sĩ xuất thân khác nhau. Có lẽ ít nhất phải một nửa chưa qua đào tạo. Chứng tỏ không cần qua đào tạo vẫn có thể hoạt động âm nhạc được?

Thực ra phải đến 70% chưa qua đào tạo. Nhưng phải xem lại vấn đề đào tạo như thế nào. Bây giờ có nhiều thứ trong trường lớp đào tạo không gần gũi thực tế, chỉ là những thứ cơ bản, cổ điển thôi.

Không qua đào tạo không phải là cái “tội”. Quan trọng là người ta đam mê, nhất là các nghệ sĩ trước đây ít có cơ hội học tập. Tôi không đánh giá đào tạo hay không mà lao động nghiêm túc hay không.

Hỏi: Tham gia đánh giá nghệ sĩ hôm nay có một lực lượng hùng hậu khán giả được gọi là “cư dân mạng”. Những nhận xét phần nhiều cảm tính được nhân lên bởi mạng xă hội nhiều khi tạo nên một thứ quyền lực. Anh có e sợ “quyền lực” này?

Đấy cũng là vấn đề cực kỳ lớn. Tôi không chê trách khán giả, nhưng xu hướng và thẩm mỹ của khán giả phần nào làm lung lay sự định tâm của nghệ sĩ. Ví dụ anh theo một ḍng nhạc mà anh thích, nhưng măi không kiếm được tiền. Nhưng thỉnh thoảng làm một bài quen thuộc giống mọi người th́ đoành một phát nó thành hit, lại kiếm được kha khá tiền. Thế là người ta phải suy nghĩ, băn khoăn.

Tôi th́ cực lực lên án những “anh hùng bàn phím”. Nói chung nhiều khán giả không hiểu hết nhưng cứ nghĩ họ biết rất nhiều. Thứ hai, họ đánh giá mọi thứ theo góc độ tiêu cực, nhất là với những người làm showbiz. Làm ǵ có ai hoàn hảo!

Tin giật gân đôi khi chẳng mang lại điều ǵ hay cho xă hội mà chỉ càng làm suy đồi giá trị. Thí dụ một đứa trẻ bây giờ thấy ca sĩ đứng trên sân khấu hát phô, hát hỏng hay làm một hành động kỳ quặc, có thể nó sẽ cho là chuyện rất b́nh thường, không giống ḿnh ngày xưa: Trời ơi, sao người ta lại có thể làm như thế! Đấy chính là biểu hiện suy đồi, người ta có xu hướng ngày càng coi nhẹ những giá trị thuộc về về văn hóa, thẩm mỹ.

Hỏi: Việc thiếu vắng nhà phê b́nh ảnh hưởng ǵ đến những nghệ sĩ đang làm nghề?

Vấn đề của ḿnh là sự chênh lệch quá lớn giữa nghệ thuật đại chúng và nghệ thuật hàn lâm. Nhưng người làm nghệ thuật hàn lâm đôi khi không hiểu hết những ǵ đang xảy ra. Ngược lại người làm nghệ thuật đại chúng lại không được trang bị kiến thức cơ bản cũng như văn hóa nền. Chỉ người đủ kiến thức hàn lâm và theo sát đời sống âm nhạc th́ mới phê b́nh được. V́ thế mà phê b́nh và biểu diễn vẫn là hai đường thẳng song song.

(Theo Phùng Nguyên & N.M.Hà, Tienphongonline)

Posted by: VuHungAnh Feb 17 2014, 05:15 PM



Chiếc cầu Takanô bắc ngang ḍng nước mắt


Trong cuộc chiến tháng 2.1979 trên biên giới phía Bắc, có một phóng viên Nhật Bản tên là I-sa-ô Ta-ka-nô đă ngă xuống. Tấm gương hy sinh quả cảm của anh đă làm xúc động nhạc sĩ Phó Đức Phương và ông đă xúc đông sáng tác nên bài hát "Takano - nhân chứng quả cảm". Bài hát này đă được nghệ sĩ Vân Khánh thể hiện trên làn sóng điện Đài TNVN ngay khi nhạc sĩ vừa sáng tác và gây nên sự xúc động rộng răi trong dư luận Nhật Bản những năm đầu thập kỷ 80 của thế kỷ 20. Tiếc rằng bản thu của Vân Khánh th́ cho đến nay chúng ta vẫn chưa có được. Gần đây bài hát này đă được một thành viên kỳ cựu của diễn đàn ta thể hiện rất thành công. Xin mời cả nhà cùng nghe bài hát này:


Sự hy sinh của nhà báo Nhật Bản Isao Takano c̣n được một phóng viên nổi tiếng khác chứng kiến. Nhà thơ Anh Ngọc, khi đó là phóng viên mặt trận cũng có mặt tại thời điểm diễn ra cuộc chiến, kể lại về Isaô Takanô và những hồi ức không thể nào quên đó.

Với ông, chắc hẳn những kư ức về cuộc chiến tranh 35 năm trước là những kư ức khó có thể phai mờ trong suốt cả cuộc đời?

- Đúng vậy, bởi đó là thời điểm lịch sử thật khó có thể quên không chỉ với riêng tôi mà với bất cứ người dân Việt Nam nào khác. Tôi vẫn c̣n nhớ rơ, sáng ngày 7.3.1979, chúng tôi có mặt tại cây số 4 tỉnh Lạng Sơn. Bầu trời u ám và rây rắc mưa xuân. Tiếng pháo dội về cùng tiếng gió mùa đông bắc, từng đợt, từng đợt, lạnh tê buốt chân tay. Cái thứ "viện trợ không hoàn lại" này từ phương Bắc xuống th́ quá thừa thăi.

Chúng tôi đứng với nhau, túm tụm ven Quốc lộ 1A. Những phóng viên báo chí, phát thanh, quay phim, vô tuyến truyền h́nh trong và ngoài nước như không hẹn trước đều gặp nhau ở đây. Họ tựa như một đạo quân t́nh nguyện quốc tế, nhiều màu da, nhiều tiếng nói, nhưng cùng giống nhau một điểm: Vũ khí họ mang khi bước vào cuộc chiến không phải là những cây súng mà là những chiếc máy ảnh, máy quay phim. “Hoả lực”, “tầm sát thương” của tất cả những loại “vũ khí” này đều cực mạnh: Chúng có thể phát huy hiệu quả trong bán kính tới hàng vạn cây số.

Trong số rất đông phóng viên nước ngoài, tôi để ư tới một phóng viên người Nhật Bản tên là Isaô Takanô. Anh cũng khoác trên ḿnh lỉnh kỉnh mấy thứ vũ khí khác nhau. Trong số máy anh mang chắc không thiếu cả loại chụp phim màu và phim đen trắng, loại dùng pin lớn và loại dùng pin cỡ nhỏ... Tôi tự hỏi, “anh định thu hết sắc màu h́nh ảnh của mảnh đất này sao?”.

Ông từng nói là khoảnh khắc mà Takanô bước vào cuộc chiến đó, trông anh không khác một người lính chiến cả về dáng vẻ cũng như tâm thức, thưa ông?

- Tacanô có phẩm chất đó. “Vũ khí” của anh bóng loáng. Tôi thấy bên sườn trái anh một cái máy có lắp ống kính tê lê, trước ngực th́ một máy khác đă tháo sẵn nắp ống kính. Mà lúc ấy, mặt trận c̣n cách anh 4 cây số, 4 cây số với bao nhiêu cách trở, hiểm nguy.

Anh có trong túi một cuốn sổ và một cây bút. Và anh đă, chỉ trong 30 phút thôi trước lúc ngă xuống, viết xong cả một bài báo. Ngắn. Hiển nhiên. Nhưng giữa hai đợt pháo bầy, viết một ḍng cũng có thể đă là dài. Bài báo của Takanô dài 2 cột - 65 ḍng (theo cách xếp chữ của báo Nhân Dân). Cây bút của anh rất tốt. Nó đă nhả đạn đúng lúc...

Hoạt động của ông và các phóng viên khác lúc ấy là ǵ?

- Cùng với những người lính thật sự, chúng tôi chờ vọt tiến. Con đường 1A độc đạo quanh co giữa hai sườn đồi dốc. Khó mà tránh được việc phải hành quân dưới làn mưa pháo tọa độ của quân địch. Trung đoàn phó Dự là cán bộ chỉ huy cao nhất ở đây, mặc áo mưa đứng giữa đường. Anh đang tổ chức cho các tổ trinh sát vào bám sát địch. Vẫn là những anh trinh sát quen thuộc muôn thuở của chiến trường. Áo quần gọn gàng, AK báng gập cắp nách, đầy ḿnh lủng lẳng toàn “da láng”, thứ lựu đạn nhẹ nhàng, tiện lợi của đặc công.

Anh Dự chia anh em thành ba tốp: Một tốp bám sát “thằng” 800 - con mắt của pháo địch. Một tốp nắm Tam Thanh và một tốp vượt ngầm Kỳ Cùng lên Tam Lung. Đứng nh́n họ xuất phát, Isaô Tacanô bỗng nảy ra ư kiến có thể đi cùng trinh sát vào thị xă và anh nói ư đó với bạn ḿnh.

Là một người lính, Takanô yêu công việc chiến đấu và biết lúc nào cần xông lên. Cũng như những chiến sĩ trinh sát kia, không cần nhiều lời. Trong anh, có một thứ mệnh lệnh, dứt khoát và quyết liệt: Mục tiêu đă xuất hiện đúng phương án tác chiến, vũ khí đă sẵn sàng, người chiến sĩ phải nhanh chóng làm động tác cuối cùng - vận động về phía trước bằng sức mạnh tiềm tàng của cả cuộc chuẩn bị, của cả cuộc đời ḿnh và nổ súng! Chiếc xe ô tô com măng ca rồ máy lao đi. Isaô Tacanô đă mất hút sau khúc quanh của ngọn đồi thông. Phía ấy vừa dứt một loạt pháo 130 ly nổ âm vang trong vách núi. Khói đạn ùn lên từng cột.

Và người phóng viên Nhật Bản đó đă ngă xuống ngay trên mảnh đất thị xă Lạng Sơn, như một người lính thực thụ?

- Nơi anh ngă xuống trên một đường phố nh́n thẳng ra chiếc cầu Kỳ Cùng đă bị địch phá sập, mục tiêu mà anh phải đến. Từ bên kia cầu quân địch đă xả đạn thẳng vào anh, hết loạt này đến loạt khác. Có người trách anh đă không biết chọn những " tử giác" để tránh đạn. Nhưng có thể nào lại chọn nổi một "tử giác" an toàn, khi nhiệm vụ của anh là phải dùng ống kính chiếm lĩnh chiếc cầu găy kia, mà sát bên kia cầu lại chính là một lỗ châu mai.

Anh đang ở chiến hào một, và ở đây, như một người lính, anh không thể có cách làm thứ hai: Trốn tránh nhiệm vụ. Như một người lính, anh đă làm hết sức ḿnh để hoàn thành nhiệm vụ mà trận đánh đề ra. Và cuối cùng, phẩm chất cao cả nhất của người lính là nếu cần, sẵn sàng hy sinh tính mạng để hoàn thành nhiệm vụ - Takanô đă làm đúng như vậy!

Có phải v́ cuộc sống gắn bó với mảnh đất Việt Nam suốt 12 năm qua: Anh sang học khoa ngữ văn Trường đại học Tổng hợp Hà Nội từ 1967 và sau đó liên tục có mặt ở Việt Nam với nhiều cương vị khác nhau. Và từ 2.1978 anh là phóng viên thường trú của báo Akahata tại Việt Nam - một đất nước dạn dày bom đạn đă rèn luyện cho anh có một cơ thể và tinh thần vững chăi, cương nghị?

Tôi đă vào nhà tang lễ Bệnh viện Việt Xô viếng anh. Anh nằm thoải mái như đang ngủ. Một viên đạn đă xuyên thẳng vào thái dương phải của anh. Với vết tử thương này, anh không kịp nói một lời trăng trối. Nhưng ngược lại, ít có cái chết nào lớn tiếng bằng cái chết của anh.

Sau này, trong buổi lễ truy điệu anh, đồng chí Miliamôtô Tarô - Uỷ viên T.Ư Đảng Cộng sản Nhật Bản, phụ trách cơ quan đại diện của Đảng Cộng sản Nhật tại Việt Nam, Phân xă trưởng Akahata đă kể lại một chi tiết khiến tôi khẳng định thêm niềm tin: Trước khi lên đường đi Lạng Sơn, Takanô tâm sự với các đồng nghiệp rằng: "Đi lên mặt trận th́ có thể bị thương, có thể chết, đó là chuyện b́nh thường. Được hy sinh bên các đồng chí Việt Nam là một điều đáng tự hào. Tôi không sợ chết!".

Posted by: Nguyen Ngoc Le Feb 21 2014, 12:12 AM

Hôm nay là 20/2, tức là đă qua ngày 17/2, những năm 80 tôi rất nhớ ngày này, trong nhiều trang báo cũng đă nói đến liệt sỹ Lê Đ́nh Chinh, nhưng chưa thấy bác nào up lên bài "Chúng tôi là đồng đội của Lê Đ́nh Chinh".
Tôi được nghe bài này từ những năm 80 (của thế kỷ trước), nhưng bây giờ vẫn thấy tự hào khi nghe giai điệu này!
Bác VuHungAnh có giúp được không ạ?

Posted by: VuHungAnh Feb 21 2014, 07:15 AM

QUOTE (Nguyen Ngoc Le @ Feb 21 2014, 12:12 AM) *
Hôm nay là 20/2, tức là đă qua ngày 17/2, những năm 80 tôi rất nhớ ngày này, trong nhiều trang báo cũng đă nói đến liệt sỹ Lê Đ́nh Chinh, nhưng chưa thấy bác nào up lên bài "Chúng tôi là đồng đội của Lê Đ́nh Chinh".
Tôi được nghe bài này từ những năm 80 (của thế kỷ trước), nhưng bây giờ vẫn thấy tự hào khi nghe giai điệu này!
Bác VuHungAnh có giúp được không ạ?

Bài hát bác Nguyen Ngoc Le nhắc tới đă có trên trang BCDCNT từ 2 năm trước rồi. VHA chuyển lại vào đây để bác tiện nghe nhé:


Nhân thể cũng nói thêm rằng chiến sĩ Lê Đ́nh Chinh là con người thật, sự hy sinh của anh là có thật và anh là anh hùng thật trong cuộc chiến chống bọn bành trướng bá quyền phương Bắc. Anh có quê quán rơ ràng và cũng có một người mẹ già hiện vẫn c̣n sống.

Posted by: timlaikyuc Feb 21 2014, 09:11 PM

QUOTE (Nguyen Ngoc Le @ Feb 21 2014, 12:12 AM) *
Hôm nay là 20/2, tức là đă qua ngày 17/2, những năm 80 tôi rất nhớ ngày này, trong nhiều trang báo cũng đă nói đến liệt sỹ Lê Đ́nh Chinh, nhưng chưa thấy bác nào up lên bài "Chúng tôi là đồng đội của Lê Đ́nh Chinh".
Tôi được nghe bài này từ những năm 80 (của thế kỷ trước), nhưng bây giờ vẫn thấy tự hào khi nghe giai điệu này!
Bác VuHungAnh có giúp được không ạ?


Bài này là một trong các bài hát lâu nay không được phát sóng như: "Chiến đấu v́ độc lập tự do - Phạm Tuyên - Tuyết Nhung, Vân Khánh & Đồng ca Đài TNVN", "Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận - Hồng Đăng - Ngọc Tân, Vân Khánh & Đồng ca Đài TNVN", "Hăy cho tôi lên đường - Hoàng Hiệp - Ái Vân (Dàn nhạc Mùa Thu)".... mặc dù các bài hát vẫn c̣n trong kho băng, nhưng nhờ có các thành viên tâm huyết của NCM mà chúng ta lại được thưởng thức những âm thanh được cất lên trong những tháng ngày hào hùng của dân tộc.

Nguyen Ngoc Le có thể biết thêm bài hát quư này ở trang nhạc này.

QUOTE (tuntin @ Feb 13 2012, 09:01 AM) *
Bài hát này lên mạng được một thời gian rồi, không biết Bác timlaikyuc và các bác khác đã có bản chất lượng cao hơn chưa ạ?

Chúng tôi là đồng đội của Lê Đình Chinh
Sáng tác: Phạm Tuyên
Trình bày: Tốp Ca VOV

http://www.mediafire.com/?zmr6a68ad192v7c

(P/S: xin sửa lại đường link)


C̣n một bài hát nữa ra đời cũng không lâu sau đó, bài hát: "Trái tim em trong ba lô", sáng tác của nhạc sĩ Tăng Minh Thành, một bài hát rất hay nhưng vẫn không được lên sóng cho đến thời điểm này, có lẽ trong bài hát có câu" "Ba lô làm bệ cho anh đánh tan quân bành trướng..". lời đầy đủ bài hát ở dưới đây:

QUOTE (timlaikyuc @ Mar 3 2011, 09:13 PM) *
Một bài hát ra đời trong thời gian chúng ta phải chống đỡ cùng lúc 2 cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giới phía Bắc mà có lẽ cùng chung số phận với bài “Chiến đấu v́ độc lập tự do” của NS Phạm Tuyên, là không biết đến bao giờ mới được nghe lại lời ca tiếng nhạc bài hát của một thời.

Trái Tim Em Trong Ba Lô
Tác giả: Tăng Minh Thành
Tŕnh bầy: Chưa rơ (chỉ nhớ là một giọng nữ)

1-
Chào tạm biệt quê hương lên đường ra biên giới
Ba lô anh mang trên vai mang trái tim em đi cùng
Trên đường hành quân xa qua rừng sâu dốc đá
Ba lô th́ thầm bên tai bước nhanh lên ḿnh nhé..

2-
Đêm về nh́n trăng lên biên thùy thiêng liêng quá
Trăng khuya ru em nghe chăng và sớm mai ta lên đường
Quân thù từ bên kia đêm ngày mong cướp phá
Ba lô làm bệ cho anh đánh tan quân bành trướng..

ĐK:
Biên giới ngàn mến thương
Từng nắm đất quê hương bao máu xương đă đổ
Biết bao đời ngàn thuở đất Hùng Vương
Tiếng trống Chi Lăng Năm xưa đang c̣n đó
Quân thù mong gieo gió là anh ra đi chưa về
Trên đường hành quân xa có em đang đi bên anh
Trên đường hành quân xa trái tim em trong ba lô.




HY vọng nhà ḿnh ai đó có bài hát này th́ hăy nhiệt t́nh chia sẻ, xin chân thành cảm ơn.

Posted by: VuHungAnh Apr 1 2014, 03:39 PM


Nhạc sĩ “Gửi em chiếc nón bài thơ” qua đời


Theo thông tin từ nữ đạo diễn Việt Hương (Ban Văn nghệ, Đài THVN), cha chị – nhạc sĩ Lê Việt Hoà, tác giả của các bài hát nổi tiếng như Gửi sông La, Gửi em chiếc nón bài thơ, Rừng Hà Tuyên quê em, ... đă từ trần chiều ngày 31/3 (tức ngày 1 tháng 3 năm Giáp Ngọ) sau một thời gian lâm bệnh nặng, hưởng thọ 79 tuổi.


Nhạc sĩ Lê Việt Ḥa

Nhạc sĩ Lê Việt Ḥa sinh năm 1935 tại Hà Tây cũ (nay là Hà Nội). Ông là một trong số ít nhạc sĩ được đào tạo về âm nhạc thời đó. Từ năm 1949 đến 1959, ông phục vụ trong quân đội, ở Sư đoàn 304, Quân khu Hữu ngạn. Năm 1959, ông học trường Âm nhạc Việt Nam, khoa Nhạc cụ cổ truyền và Sáng tác. Ra trường năm 1963, ông về công tác tại Đoàn Ca nhạc của Đài Tiếng nói Việt Nam.

Đến năm 1969, ông tiếp tục học lên đại học tại trường Âm nhạc Việt Nam. Tốt nghiệp Đại học sáng tác năm 1974, ông về làm phóng viên, biên tập viên âm nhạc của Ban Âm nhạc, Đài Tiếng nói Việt Nam cho đến khi về nghỉ hưu.

Nhạc sĩ Lê Việt Ḥa là nhạc sĩ của những ca khúc trữ t́nh mang đậm tâm hồn Việt. Các sáng tác của ông là những tiếng ca thắm thiết ca ngợi quê hương đất nước, trong đó t́nh yêu làng quê và nông thôn đặc biệt sâu đậm, không phân biệt vùng miền, với con sông, bến nước, lời ru của mẹ, cảnh đẹp quê hương, xứ sở... Bằng tâm hồn nhạy cảm của một nghệ sĩ chân chính, ông đă để lại những sáng tác hết sức giá trị có tác dụng giáo dục cao đối với thế hệ trẻ ngày nay và đọng lại măi trong tâm trí bạn yêu nhạc nhiều thế hệ như: Gửi em chiếc nón bài thơ, Gửi sông La, Cây trúc quê hương, Những tiếng thân yêu, Rừng Hà Tuyên quê em, Cô gái Na Hang, Mùa xuân biên cương, Đón anh về hội xuân, Nhớ xứ Đoài, Đợi anh, Về lại làng xưa, Lá diêu bông (phỏng thơ Hoàng Cầm), Mùa xuân trên sông Tô...

- Gửi em chiếc nón bài thơ (phỏng thơ Sơn Tùng) qua giọng hát kiều Hưng:



- Cây trúc quê hương do Kiều Hưng thể hiện:



- Gửi sông La (phỏng thơ Hoàng Thị Minh Khanh) qua giọng hát Thanh Ḥa:



- Những tiếng thân yêu với giọng hát Thu Hiền:



Lễ viếng nhạc sĩ Lê Việt Ḥa được tổ chức từ 14h đến 15h30 phút, thứ 5, ngày 3/4/2014 tại Nhà tang lễ thành phố (số 125, Phùng Hưng, Hà Nội). Lễ truy điệu và hỏa táng tại Đài hoá thân hoàn vũ lúc 17h cùng ngày.

BQT nhaccachmang.net xin kính cẩn vĩnh biệt nhạc sĩ Lê Việt Ḥa!

Posted by: Nguyen Ngoc Le Apr 2 2014, 01:54 PM

QUOTE (timlaikyuc @ Feb 21 2014, 09:11 PM) *
Bài này là một trong các bài hát lâu nay không được phát sóng như: "Chiến đấu v́ độc lập tự do - Phạm Tuyên - Tuyết Nhung, Vân Khánh & Đồng ca Đài TNVN", "Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận - Hồng Đăng - Ngọc Tân, Vân Khánh & Đồng ca Đài TNVN", "Hăy cho tôi lên đường - Hoàng Hiệp - Ái Vân (Dàn nhạc Mùa Thu)".... mặc dù các bài hát vẫn c̣n trong kho băng, nhưng nhờ có các thành viên tâm huyết của NCM mà chúng ta lại được thưởng thức những âm thanh được cất lên trong những tháng ngày hào hùng của dân tộc.

Nguyen Ngoc Le có thể biết thêm bài hát quư này ở trang nhạc này.



C̣n một bài hát nữa ra đời cũng không lâu sau đó, bài hát: "Trái tim em trong ba lô", sáng tác của nhạc sĩ Tăng Minh Thành, một bài hát rất hay nhưng vẫn không được lên sóng cho đến thời điểm này, có lẽ trong bài hát có câu" "Ba lô làm bệ cho anh đánh tan quân bành trướng..". lời đầy đủ bài hát ở dưới đây:



HY vọng nhà ḿnh ai đó có bài hát này th́ hăy nhiệt t́nh chia sẻ, xin chân thành cảm ơn.

Cảm ơn các bác Timlaikyuc và bác VuHungAnh, những bản nhạc một thời hừng hực khí thế đi diệt quân bành trướng của TK 20 vẫn vang trong tôi, nhưng chỉ tiếc là bài "Trái tim em trong ba lô" được 1 ca sĩ đương đại hát lại, đoạn đầu nghe c̣n được, nhưng đến đoạn sau th́ khác rất nhiều so với nhạc và lời tôi từng nghe!
Bác nào có bản chuẩn không!

Posted by: VuHungAnh May 2 2014, 07:19 AM



Giáo sư Nguyễn Lân Tuất qua đời


Giáo sư nhạc sĩ TSKH Nguyễn Lân Tuất - người con cả trong gia đ́nh Nguyễn Lân danh tiếng - đă trút hơi thở cuối cùng vào ngày 29-4 tại thành phố Novosibirsk (Liên bang Nga), hưởng thọ 80 tuổi.

Nhạc sĩ Nguyễn Lân Cường (em trai GS Nguyễn Lân Tuất) cho biết tang lễ của GS Nguyễn Lân Tuất đă diễn ra sáng 1-5 tại Nhạc viện Novosibirsk. “Sau đó, gia đ́nh chúng tôi sẽ đưa tro cốt của anh Nguyễn Lân Tuất về Việt Nam để tổ chức lễ tang theo đúng nghi thức truyền thống” - nhạc sĩ Nguyễn Lân Cường chia sẻ.

http://s1142.photobucket.com/user/VuHungAnh/media/Nh1EA1cs1290NLTu1EA5t1_zpsa5105e88.jpg.html
Nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất trong một buổi chiều cuối năm 2013

Nhạc sĩ, GS.TSKH Nguyễn Lân Tuất sinh ngày 7-1-1935 tại Hà Nội. Ông từng theo gia đ́nh lên Việt Bắc năm 11 tuổi, rồi tham gia kháng chiến từ lúc 15 tuổi. Năm 1959, ông được cử sang học tại Liên Xô và tốt nghiệp đại học âm nhạc tại Nhạc viện Leningrad (1965-1970) ngành sáng tác.

Từ năm 1984, ông giảng dạy tại Viện Hàn lâm Âm nhạc Novosibirsk.

GS Nguyễn Lân Tuất từng là chủ nhiệm khoa lư luận và sáng tác của Nhạc viện Novosibirsk, Phó chủ tịch Hội người Việt ở Nga.

Ông là người Việt Nam đầu tiên được vinh danh Nghệ sĩ Công huân Liên bang Nga.

http://s1142.photobucket.com/user/VuHungAnh/media/Nh1EA1cs1290LacircnTu1EA5t2_zps33dbd76b.jpg.html
Nhạc sĩ Nguyễn Lân Tuất và cô tṛ nhỏ bên cây đàn piano ông hướng dẫn cô mỗi ngày

Trong sự nghiệp của ḿnh, ông đă viết bốn bản giao hưởng, hai cuốn sách được phổ biến rộng răi ở Nga là Sân khấu và âm nhạc chèo, Sân khấu truyền thống Việt Nam cùng nhiều ca khúc.

Được biết, ông c̣n là thầy của đội thiếu nhi Sơn Ca, Đài TNVN, lứa Bích Liên & Diệu Thúy... thuở nào.

BQT Nhạc cách mạng xin kính cẩn vĩnh biệt ông.

Posted by: VuHungAnh May 7 2014, 02:04 PM



60 năm chiến thắng Điện Biên Phủ


Thoáng một cái đă 60 năm trôi qua kể từ chiến thắng lịch sử lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu Điện Biên Phủ! Với chiến thắng này, lịch sử thế giới hiện đại đă làm một cú ngoặt vĩ đại v́ nếu không thế giới ngày nay đă không được như thế này.

60 năm là một con số đẹp nên từ nhiều ngày nay, đường phố Thủ đô đă trang hoàng rực rỡ để chào đón những ngày kỷ niệm lịch sử lừng lẫy của dân tộc: 30/4, 1/5, 7/5 và 19/5.


Trên phố Hàng Bài, Hà Nội



Trên phố Tràng Tiền (HN)



Xung quanh Hồ Gươm



Những ngôi sao sa xuống cùng chào đón ngày chiến thắng Điện Biên Phủ



Trên phố Bà Triệu



Cột cờ Hà Nội trên đường Điện Biên Phủ, đoạn đối diện tượng dài Lê-nin

Sáng nay tại thành phố Điện Biên Phủ đă diễn ra mít tinh và diễu hành của các lực lượng nhân dân kỷ niệm chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ:


Ta hăy nghe lại bài hát nổi tiếng của nhạc sĩ Đỗ Nhuận như một bản thiên anh hùng ca bằng âm thanh về chiến thắng vĩ đại Điện Biên Phủ:



Chiến thắng Điện Biên Phủ là kết tinh sức mạnh và ư chí toàn dân tộc, trong đó nổi bật sự thông minh tài trí tuyệt vời của lănh tụ Hồ chí Minh, đại tướng Vơ Nguyên Giáp và bộ chính trị BCHTU Đảng ta.

Ngoài khơi xa kia, bọn kẻ cướp đang lăm le ăn cướp. Bọn chúng bay hăy nh́n vào chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu chấn động địa cầu này mà nghĩ về kết cục ngày mai của chúng bay đi nhé! Bọn kẻ cướp dù ở đâu và thời nào đi nữa th́ không cũng bao giờ có kết cục tốt lành dành cho chúng cả.

Posted by: VuHungAnh May 13 2014, 05:56 PM



Vô cùng thương tiếc nhạc sĩ Tô Vũ


Thế là nhạc sĩ tài năng Tô Vũ đă ra đi vào 3g30 phút sáng 13/5 tại nhà sau thời gian bệnh nặng. Chị Hoàng Hương, nguyên Trưởng phân viện Văn học Nghệ thuật phía Nam tại TP.HCM, con gái của nhạc sĩ Tô Vũ, đă xác nhận thông tin trên vào sáng nay, 13/5/2014.

Nhạc sĩ đă nhập bệnh viện Quân dân Miền Đông, Q.9, TP.HCM, từ ngày 28/2 v́ chứng xuất huyết bao tử. Sau khi nhập viện, t́nh trạng sức khỏe của ông liên tục có những chuyển biến xấu, chuyển qua viêm phổi và rối loạn chất điện giải nên ông đă nhập viện tại bệnh viện Thống Nhất.

Trưa 12/5, ông được bệnh viện cho về nhà và "ra đi" vào sáng 13/5 trong ṿng tay của người thân.


Nhạc sĩ Tô Vũ (Hoàng Phú)

Nhạc sĩ Tô Vũ, tên thật Hoàng Phú, sinh năm 1923, là tác giả của các ca khúc nổi tiếng: Em đến thăm anh một chiều mưa, Tạ từ, Tiếng chuông chiều thu, Nhớ ơn Hồ Chí Minh, Ngày xưa… Ông cũng là em ruột của nhạc sĩ Hoàng Quư (tác giả bài Cô láng giềng).

Nhạc sĩ Tô Vũ - Hoàng Phú sinh tại phủ Lạng Thương, Bắc Giang nhưng từ nhỏ đă cùng gia đ́nh chuyển về sống tại Hải Pḥng. Trong số các anh em, Hoàng Quư và Hoàng Phú đặc biệt say mê âm nhạc. Hai anh em lần đầu được học nhạc, violin với một phụ nữ người Pháp tên Leprêtre - chủ cửa hiệu Orphée, chuyên bán nhạc cụ và sách nhạc Tây ở Hải Pḥng thời đó. Tuy nhiên, người tích cực khuyến khích hai anh em họ Hoàng đi theo “âm nhạc cải cách” (tân nhạc) là thầy dạy môn văn chương Pháp tên là Ngô Đ́nh Hộ (chính là nhạc sĩ Lê Thương), để cùng thầy biểu diễn trong các tiết mục văn nghệ của trường.

Năm 1939, Hoàng Quư và Hoàng Phú cùng một số người bạn như: Phạm Ngữ, Canh Thân và Văn Cao lập nhóm Đồng Vọng, góp phần cổ suư cho nền tân nhạc Việt Nam. Nhóm đă sáng tác được khoảng 60 ca khúc mang nội dung ca ngợi đất nước, ca ngợi truyền thống anh hùng dân tộc. Ngoài ra, một số t́nh khúc của nhóm như Cô láng giềng của Hoàng Quư hay Bến xuân của Văn Cao cho đến nay vẫn được coi như những tuyệt phẩm của nền tân nhạc Việt Nam.

Hai anh em nhạc sĩ Tô Vũ cũng sớm tham gia Việt Minh và sáng tác những bài ca cách mạng như: Cảm tử quân, Sa trường hành khúc... V́ mắc bệnh nan y nên Hoàng Quư đă qua đời giữa năm 1946 khi mới 26 tuổi. Khi đó Hoàng Phú vẫn hoạt động cách mạng trên địa bàn Hải Pḥng. Ca khúc nổi tiếng nhất của ông là Em đến thăm anh một chiều mưa, sáng tác năm 1947 khi đang công tác tại huyện Tiên Lăng (Hải Pḥng). Cũng trong thời kỳ này, nghệ danh Tô Vũ của Hoàng Phú đă được các bạn bè cùng hoạt động trong lĩnh vực văn nghệ đặt cho ông.

Dù nhận được học bổng du học Pháp, nhưng v́ anh trai Hoàng Quư mất sớm nên Hoàng Phú quyết định ở lại Hải Pḥng để chăm sóc cho các em. Năm 1948, Hoàng Phú được chọn là đại biểu của Chiến khu 3 đi dự Đại hội Văn hóa Văn nghệ toàn quốc lần thứ nhất. Năm 1950, Viện Nghiên cứu Văn hoá Nghệ thuật được thành lập, Tô Vũ được mời tham gia trong ban nghiên cứu âm nhạc do nhạc sĩ Văn Cao làm trưởng ban.

Ông cũng từng đảm nhiệm cương vị Viện trưởng Viện âm nhạc cơ sở II tại TP.HCM, Thư kư Đoàn Nhạc sĩ Khu III đầu kháng chiến chống thực dân Pháp và là một trong những người đầu tiên góp phần xây dựng Trường Âm nhạc Việt Nam (Học viện Âm nhạc Quốc gia ngày nay). Sau khi nghỉ hưu, ông sống tại TP.HCM.

Lễ phát tang được tổ chức tại nhà riêng của nhạc sĩ Tô Vũ vào 14 g chiều nay. Sau đó linh cữu sẽ được đưa ra Nhà tang lễ TP HCM. Lễ viếng sẽ bắt đầu từ 8g đến 17g ngày 14/5, sau đó linh cữu nhạc sĩ được đưa đi hỏa táng tại B́nh Hưng Ḥa.

BQT nhaccachmang.net xin kính cẩn cúi đầu vĩnh biệt nhạc sĩ Tô Vũ, một nhạc sĩ tài năng, một nhân cách lớn.

Posted by: VuHungAnh May 25 2014, 03:01 PM

Nhạc sĩ Thuận Yến đă ra đi


Thế là nhạc sỹ Thuận Yến đă qua đời vào 12h trưa ngày thứ bảy 24/5/2014 sau mấy năm lâm trọng bệnh. Ông ra đi mà không dặn ḍ được ǵ nhiều với con cháu. Hiện tại gia đ́nh đang bàn bạc và thống nhất về việc tổ chức lễ tang cho ông…

Nhạc sĩ Thuận Yến tên thật là Đoàn Hữu Công, sinh ngày 15/8/1935 tại quê nhà Duy Xuyên, Quảng Nam. Sau khi đất nước thống nhất, ông sinh sống ở Hà Nội từ nhiều năm nay.

Ông tham gia công tác từ năm 1949, là cán bộ văn nghệ của Đoàn văn công Khu ủy Liên khu 5, sau đó theo học lớp Trung cấp sáng tác tại Trường âm nhạc VN (nay là Học viện ANQGVN). Bước vào kháng chiến chống Mỹ cứu nước, ông viết ngay những bài hát động viên thanh niên lên đường: Ba lô ta buộc cho chặt, Vành lá nguỵ trang rất xanh...


Nhạc sĩ Thuận Yến và vợ, nghệ sĩ đàn tranh Thanh Hương

Năm 1965, lên đường trở lại chiến trường sáng tác, lấy bút danh là Thuận Yến (Nhạc sĩ lấy hai chữ Duy Thuận quê cha với Duy Yên quê mẹ ghép lại thành Thuận Yên. Khi gửi tác phẩm từ miền Nam ra, biên tập viên âm nhạc ở Đài Tiếng nói VN tưởng nhầm là Yến nên đọc tên ông là Thuận Yến. Ông ở chiến trường xa xôi làm sao sửa được, thế là từ đó mới có nhạc sĩ Thuận Yến đi vào ḷng người yêu nhạc), với những ca khúc của thời kỳ này như: Hát mừng quê ta giải phóng, Mỗi bước ta đi, Bài ca tiếp vận, Mỗi ḍng thư Bác sáng ngời niềm tin. Ông đă có mặt trên chiến trường Trị Thiên – Huế và khi cuộc đấu tranh chính trị phát triển mạnh, ông đă viết ca khúc Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc được nhanh chóng phổ biến rộng răi ở cả hai miền Nam, Bắc.

Trở lại miền Bắc theo học sáng tác tại Nhạc viện Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, ông đă sáng tác một số tác phẩm khí nhạc, trong đó có bản Sonate Tự Nguyện và Trang giao hưởng 5 chương Khúc nhạc miền Trung và hành khúc Những bàn chân không mỏi. Về Đoàn văn công Tổng cục xây dựng kinh tế, ông tiếp tục viết ca khúc, có những ca khúc nổi tiếng về đề tài ca ngợi lănh tụ: Bác Hồ – một t́nh yêu bao la, Vầng trăng Ba Đ́nh và những đề tài khác như: Lênin, Người đến đất nước tôi (Giải nh́ cuộc thi nhân kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân VN), Hương tràm, Chia tay hoàng hôn (thơ Hoài Vũ), T́nh yêu không lời… rất được hoan nghênh. Ngoài ra ông c̣n viết nhạc cho múa (các vở Bông sen đỏ, Anh c̣n sống măi), nhạc cho phim (trong các bộ phim Khoảng trời chiến sĩ, Hát ở chiến hào).

Đă xuất bản Tuyển chọn ca khúc Thuận Yến, album Đi t́m trái tim (Sài G̣n Audio), Chia tay hoàng hôn (DIHAVINA). Ông đă được nhiều giải thưởng: Vầng trăng Ba Đ́nh (Giải nhất ca khúc của Bộ văn hoá, 1987), Màu hoa đỏ (Giải ca khúc xuất sắc của Bộ quốc pḥng, 1994), Chia tay hoàng hôn (Giải bài hát được nhiều người ưa thích năm 1992-1993 của Đài Tiếng nói VN).

Các tác phẩm tiêu biểu của nhạc sĩ Thuận Yến:

- Mỗi bước ta đi
- Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc
- Việt Nam – Hồ Chí Minh rực sáng muôn đời
- Bác Hồ một t́nh yêu bao la
- Vầng trăng Ba Đ́nh
- Gửi em ở cuối sông Hồng
- Chia tay hoàng hôn
- Con gái mẹ đă thành chiến sĩ
- Ninh B́nh quê mẹ
- Màu hoa đỏ
- Khát vọng
- T́nh yêu không lời…


Có thể nói nhạc sĩ Thuận Yến là một trong những đại diện xuất sắc của thế hệ nhạc sĩ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Trở về cuộc sống xây dựng đất nước sau chiến tranh, ông vẫn lại có nhiều tác phẩm xuất sắc. Ông đă chiếm trọn t́nh yêu của nhiều thế hệ người nghe trong cả nước. Xin nhắc lại vài tác phẩm của ông ở đây:

- Mỗi bước ta đi, qua giọng hát Trần Thụ:



- Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc, qua giọng hát Vân Khánh:



- Ninh B́nh quê mẹ, qua giọng hát Thanh Lam, con gái nhạc sĩ:



- Việt Nam-Hồ Chí Minh rực sáng muôn đời, qua giọng hát Kiều Hưng:



BQT Nhạc Cách Mạng xin kính cẩn thắp một nén hương vĩnh biệt ông. Những điều ông tâm huyết chắc chắn sẽ được chúng tôi giữ măi và truyền lửa cho những người sau.

Posted by: VuHungAnh May 27 2014, 03:42 PM


Sự ra đi của nhạc sĩ Thuận Yến khiến nhiều đồng nghiệp và khán giả tiếc nuối. Trên trang blog cá nhân của ḿnh, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo đă có một bài viết dài xúc động trong đó có những câu chuyện rất riêng của ông cùng tác giả ca khúc "Mỗi bước ta đi": "Sự ḥa nhập với nhịp điệu của tuổi trẻ khi một nhạc sĩ đă bước vào tuổi lục thập, thật không thể dễ dàng. Ai là người làm công việc sáng tạo văn hóa nghệ thuật cũng đều biết rơ như thế. Ấy vậy mà Thuận Yến đă làm được điều đó với hàng loạt ca khúc mới lạ, trẻ trung". Nhạc sĩ Nguyễn Trọng tạo đă viết về nhạc sĩ Thuận Yến như vậy. Bằng những ḍng chan chứa t́nh yêu thương đối với bậc đàn anh đồng nghiệp tài hoa, ông viết tiếp:


CHIA TAY HOÀNG HÔN, CHIA TAY THUẬN YẾN


Vào tuổi hoàng hôn của cuộc đời, nhạc sĩ Thuận Yến mắc phải căn bệnh mất trí nhớ Alzheimer, ông không nhận ra được cả Thanh Lam, cô con gái yêu của ḿnh. Hai năm trước, tôi gặp vợ chồng ông trong cuộc hội ngộ Văn công Quân khu 4 tại Hà Nội, chị Thanh Hương chỉ tôi và hỏi chồng: Anh có nhớ ai đây không? Thuận Yến cười hiền lành, lắc đầu.

Sau bữa trưa, mọi người đang ngồi uống nước th́ chị Hương phát hiện chồng đi đâu mất và hốt hoảng đi t́m. Thuận Yến đă đi ra đường và không biết lối trở lại. Khi chị Hương đưa ông về, tôi thấy buồn vô hạn. Một nhạc sĩ tài hoa, một người sống t́nh cảm luôn thân thiết với mọi người và thích chuyện tiếu lâm... đă mất trí nhớ.

Thời chiến tranh, anh sinh viên trường Âm nhạc Việt Nam Đoàn Hữu Công vừa tốt nghiệp Trung cấp sáng tác đă t́nh nguyện về chiến trường miền Nam để sáng tác âm nhạc phục vụ kháng chiến. Nhiều bài hát cách mạng của ông đă truyền cảm sâu sắc đến những người lính giải phóng và nhân dân hai miền như: Hát mừng quê ta giải phóng, Mỗi bước ta đi, Bài ca tiếp vận, Người mẹ miền Nam tay không thắng giặc...


Nhạc sĩ Thuận Yến và vợ, nghệ sĩ đàn tranh Thanh Hương

Âm nhạc của ông luôn khúc chiết, bài bản, chứng tỏ một học vấn khá chuẩn mực. Thời đó, tôi rất thích những ca khúc viết theo lối âm nhạc h́nh tượng, hàn lâm như thế với những sáng tạo bất ngờ mà không bị "nghiệp dư hóa". Nhưng cái thành công hơn cả trong ca khúc Thuận Yến là hơi thở của cuộc sống kháng chiến và hơi thở của người nhạc sĩ đă ḥa nhập làm một. Có thể nói, với những ca khúc của ḿnh, Thuận Yến đă thổi một làn gió mới vào âm nhạc cách mạng cuối những năm 60 của thế kỷ 20.

Sau 1975, Thuận Yến trở lại Nhạc viện Hà Nội tiếp tục hoàn thành chương tŕnh đại học sáng tác. Thời kỳ này ông viết một số bản nhạc không lời, viết nhạc cho phim. Nhưng đam mê nhất của ông vẫn là viết ca khúc trữ t́nh. Nhiều ca khúc của ông vang lên lay động ḷng người: Bác Hồ - một t́nh yêu bao la, Vầng trăng Ba Đ́nh, Miền Trung nhớ Bác, Người về thăm quê... và đặc biệt là những ca khúc về người lính rất nổi tiếng ngay trong cuộc chiến tranh biên giới phía bắc 1979 như Gửi em ở cuối sông Hồng, Màu hoa đỏ, Hương tràm...

Có lẽ bước ngoặt ấn tượng nhất của Thuận Yến là ông chuyển hướng từ nhạc trữ t́nh sang nhạc trẻ cuối những năm 80 thế kỷ trước. Bước ngoặt này khởi đầu từ cô con gái rượu Thanh Lam, "nữ hoàng âm nhạc" thời bấy giờ. Thanh Lam muốn hát bài hát của ba, và ông đă viết một loạt bài hát trẻ cho giọng hát của cô: Chia tay hoàng hôn, T́nh yêu không lời, Khát vọng, Đợi chờ, Em tôi, T́m anh, Thành phố vắng anh, Trái tim lang thang, Vị đắng t́nh yêu.

Sự ḥa nhập với nhịp điệu của tuổi trẻ khi nhạc sĩ đă vào tuổi lục thập, thật không thể dễ dàng. Ai là người làm sáng tạo VHNT cũng biết rơ điều đó. Ấy vậy mà Thuận Yến đă làm được điều đó với hàng loạt ca khúc mới lạ, trẻ trung. Tôi ngạc nhiên về bước ngoặt này của ông, bởi ông là một người luôn sống nghiêm ngắn, với tâm hồn giàu chất truyền thống nếu không gọi là "bảo thủ" trong các quan niệm sống và sáng tác.

Có lẽ ông đă chia sẻ thật nhiều với tâm hồn cô con gái, ca sĩ Thanh Lam, một tính cách mạnh trong làng nhạc trẻ. Những khát khao, mất mát trong cuộc sống của Thanh Lam như đă truyền thổi vào tâm hồn người cha luôn bên đứa con yêu. Với những ca khúc này, Thuận Yến như chia sẻ cùng con. Và có lẽ v́ thế mà nó đă vượt qua được giới hạn cá nhân để ḥa nhập với thế hệ trẻ đương thời.

Một lần ngồi uống bia cùng họa sĩ Lê Huy Quang bên hồ Ngọc Khánh, tôi gặp Thuận Yến ngang qua. Khi bắt tay ông, tôi hát mấy câu nhạc trẻ của ông mà tôi rất thích: "Chưa dám hôn nhau. Chưa lời thổ lộ. Mà sao hơi thở như là của nhau. Chưa nắm tay nhau. Chưa ngồi sát lại. Mà sao năm tháng như là của nhau". Thuận Yến xúc động lắm. Ông bảo nhà ông có rượu Tây, chả uống bao giờ, Tạo, Quang về thử xem có ngon không.


Nhạc sĩ Thuận Yến & con gái ông, ca sĩ Thanh Lam

Tôi và Quang về nhà ông. Trên tủ rượu có nhiều chai đủ loại, ông bảo Tạo thích chai nào cứ mở. Tôi chỉ vào chai rượu đắt tiền nhất, nói đùa v́ biết ông là người không hay bia rượu: "Mở chai này anh ạ. Chai này ít tiền thôi". Thuận Yến ngăn ngay: "Lấy chai ngon nhất mà uống, để đây có ai uống đâu". Tôi cảm động về cái tính chân thành, nhiệt t́nh với khách của ông, và thú thật: "Đây là chai rượu mà anh muốn đó". Ngồi uống rượu ngon và nghe ông hát. Chị Hương nướng mực khô, đi ra đi vào lắng nghe và thỉnh thoảng nói vui: "Ông già dạo này viết nhạc cứ như thanh niên''.

Đúng vậy, Thuận Yến đă trẻ lại. Nhưng rồi không cưỡng được thời gian, ông tập hợp các tác phẩm âm nhạc của ḿnh để in thành sách. Tập sách này đă gói lại cuộc đời sáng tác của ông...

Tôi xem tập sách được ông kư tặng, thấy đóng góp của ông thật lớn lao. Chợt nghĩ, nếu người ta tặng cho ông Giải thưởng Hồ Chí Minh về VHNT kể cũng xứng đáng. Nhưng ông chỉ được trao Giải thưởng Nhà nước. Khi tôi nói điều này, Thuận Yến chỉ cười cười, một nụ cười không rơ vui hay buồn...

Tôi lại mở sách và gặp ca khúc Tự sự. Có lẽ đây cũng là một nỗi niềm riêng của ông: "Ta vẫn biết đời ta c̣n nhiều cơn mưa nhỏ. Đừng ướt thấm hồn ta thành những nỗi đau dài. Hăy như những mầm xanh xứ sở. Mưa gió nhiều thành cổ thụ ngày mai. Nếu ḷng ta có ào ào băo tố! Th́ em ơi! Hăy vững lấy tay chèo"...

Bẵng đi một thời gian, không thấy ông viết ǵ nữa, tôi hỏi Thanh Lam mới biết ba cô đă mắc bệnh quên. Và hôm thứ bảy ngày 24/5/2014 tôi nhận được mấy cuộc điện thoại từ các báo đặt bài viết về Thuận Yến, tôi mới biết ông đă qua đời vào buổi trưa cùng ngày. Tiếc là hôm đó tôi có việc nên không thể ngồi viết bài về ông được, và giới thiệu người khác viết. Hôm nay, trước khi đưa ông về cơi xa vào lúc 12h30 ngày mai, tôi viết vội mấy ḍng này như một nén tâm nhang vĩnh biệt ông, người nhạc sĩ của cách mạng và tuổi trẻ.

Nhà thơ, nhạc sĩ Nguyễn Trọng Tạo

Posted by: VuHungAnh May 29 2014, 08:32 AM

Nhạc sĩ, nhà lư luận âm nhạc Hồ Quang B́nh qua đời


Vào lúc 6 giờ 50 phút sáng chủ nhật 25/5 vừa qua, nhạc sĩ - nhà lư luận phê b́nh âm nhạc Hồ Quang B́nh đă trút hơi thở cuối cùng tại bệnh viện Việt Đức sau một tháng đấu tranh với căn bệnh hiểm nghèo. Thế là sau sự ra đi của nhạc sĩ Thuận Yến với bao nhiêu thương tiếc, giới âm nhạc và người hâm mộ tiếp tục phải chia tay với nhạc sĩ Hồ Quang B́nh ở tuổi 79.


Nhạc sĩ, nhà lư luận & phê b́nh âm nhạc Hồ Quang B́nh

Mới đây, năm 2012, ông c̣n làm MC dẫn chương tŕnh Không gian âm nhạc của đạo diễn Việt Tú.

Nhạc sĩ Hồ Quang B́nh sinh năm 1935 ở Quỳnh Lưu, Nghệ An. Sau khi tốt nghiệp Nhạc Viện Kiev (Ucraina), ông giữ chức Thư kư Hội đồng nghệ thuật ở Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc Vũ Kịch Việt Nam. Đến ngày đất nước thống nhất, ông được phân công về công tác tại nhạc viện TP. Hồ Chí Minh rồi về pḥng Phát thanh FM Đài Phát thanh và Truyền h́nh TP.HCM.

Năm 1983, ông quay trở ra Hà Nội và giữ nhiệm vụ biên tập âm nhạc cho Đài Phát thanh và Truyền h́nh Hà Nội.

Từ năm 2010 cho đến trước khi mất, nhạc sĩ Hồ Quang B́nh giữ chức vụ Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội.

Nhạc sĩ Hồ Quang B́nh hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực lư luận, giới thiệu âm nhạc trên sân khấu, trên sóng phát thanh, truyền h́nh. Với chất giọng trầm ấm, cách giải thích âm nhạc gần gũi, mẫu mực, ông thường trực tiếp dẫn các chương tŕnh âm nhạc thường thức, đặc biệt là giới thiệu nhạc cổ điển. Ông cũng tham gia chỉ đạo, cố vấn và dẫn dắt nhiều chương tŕnh nghệ thuật lớn hoặc tại các Liên hoan nghệ thuật.

Cho tới trước khi qua đời, ông vẫn tiếp tục quan tâm đến việc mang nhạc cổ điển đến với trẻ em qua các lớp học do Hội Âm nhạc Hà Nội tổ chức.

Ông đă giành được nhiều giải thưởng về lư luận của Hội Nhạc sĩ Việt Nam năm 1997, 1998 và đặc biệt là giải nhất công tŕnh (cụm nhóm tác giả) Ca khúc Hà Nội thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI. Ông cũng làm chủ biên cuốn sách Lịch sử nhà hát nhạc vũ kịchNền tân nhạc ở Hà Nội đầu thế kỷ 20, ...

Tang lễ cử hành từ 13 giờ 15 đến 14 giờ 30 ngày 27/5 tại nhà tang lễ Bộ Quốc pḥng, số 5 Trần Thánh Tông, Hà Nội. An táng tại đài hóa thân Hoàn Vũ.


Nhạc sĩ Hồ Quang B́nh làm MC cùng Thảo Vân trong một chương tŕnh nghệ thuật

Từ mấy chục năm trước cứ mỗi lần tới trụ sở Hội Văn học Nghệ thuật ở số 51 Trần Hưng Đạo (Hà Nội) nghe nhạc chuyên đề là tôi lại thấy nhạc sĩ Hồ Quang B́nh giới thiệu và dẫn dắt chương tŕnh. Ông có chất giọng nhẹ nhàng, như thủ thỉ mà hết sức khúc triết với phong cách hàn lâm cực kỳ thích hợp trong những buổi biểu diễn âm nhạc thính pḥng và cổ điển. Lời giới thiệu của ông ngắn gọn mà đầy đủ, nêu bật được nét chính cần chú ư khiến ông dường như là một bộ phận không thể thiếu trong những cuộc biểu diễn lớn đó. Ông đặc trưng bởi mái tóc bạc trắng như cước từ lâu, c̣n đôi mắt lấp lánh sau cặp kính cận. Ấy vậy mà nay ông đă ra đi xa rồi.

Chỉ trong khoảng thời gian ngắn vừa qua, bốn cây đại thụ của nền âm nhạc Việt Nam đă măi măi ra đi. Đó là nhạc sĩ Lê Việt Ḥa, nhạc sĩ Tô Vũ, nhạc sĩ Thuận Yến và nhạc sĩ Hồ Quang B́nh. Đây là sự mất mát lớn lao đối với nền âm nhạc nước nhà. Không biết đă có cơ quan văn hóa nào kịp ghi lại chân dung nghệ thuật của các nhạc sĩ vừa đi xa chưa? Hay là người ta vẫn cứ để các cụ tự nhiên rời bỏ nhân dân mà đi rồi một thời gian sau mới than trách là không kịp làm ǵ và… quá muộn?

Posted by: VuHungAnh May 10 2015, 12:31 PM

Nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích qua đời


Nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích, cha đẻ của những bài hát thiếu nhi nổi tiếng như "Đưa cơm cho mẹ đi cày", "Rửa mặt như mèo"… đă qua đời sáng 1/5. Hưởng thọ 75 tuổi.

Sau một thời gian dài lâm trọng bệnh, nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích đă trút hơi thở cuối cùng vào lúc 2h30 sáng 1/5/2015 hưởng thọ 75 tuổi. Lễ tang của nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích sẽ bắt đầu từ 9h ngày 4/5/2015 tại Nhà tang lễ Bệnh viện Quân đội 354 (Đội Nhân, Hà Nội).

Nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích sinh ngày 18/11/1940, quê ở Hà Nội. Ông từng tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 1962 và được cử về giảng dạy ở Hà Tây. 11 năm sau ông về công tác tại Bộ Giáo dục và Đào tạo, với cương vị là Ủy viên Thư kư Hội đồng Âm nhạc của Bộ.

Ông cũng từng công tác tại Vụ Giáo dục Phổ thông của Bộ Giáo dục và Đào tạo và góp phần soạn thảo nhiều sách hướng dẫn và giảng dạy môn hát nhạc cho học sinh tiểu học như Sách giáo viên hát nhạc (soạn chung với Nguyễn Minh Toàn).


Nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích

Trong cuộc đời sáng tác âm nhạc của ḿnh, nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích đă có những ca khúc để đời, gắn với tuổi thơ của nhiều thế hệ khán thính giả. Tiêu biểu trong số đó là “Con mèo hư” (Meo meo meo rửa mặt như mèo), “Đưa cơm cho mẹ đi cày” và “Em bay trong đêm pháo hoa”.

Trong cuộc b́nh chọn 50 bài hát thiếu nhi hay nhất thế kỷ XX do báo Thiếu niên Tiền phong, Hội Nhạc sĩ Việt Nam, Ban Khoa giáo – Đài Truyền h́nh Việt Nam và Ban Âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam phối hợp tổ chức trong hai năm 1999 – 2000, nhạc sĩ Hàn Ngọc Bích có tới 4 ca khúc được chọn là: “Tiếng chim trong vườn Bác”, “Em bay trong đêm pháo hoa”, “Tre ngà bên lăng Bác” và “Đưa cơm cho mẹ đi cày”. Chỉ có 3 nhạc sĩ được b́nh chọn đến 4 bài như thế. Ngoài Hàn Ngọc Bích, đó là các nhạc sĩ Phong Nhă và Phạm Tuyên.

Hàng chục ca khúc của ông đă giành những giải thưởng cao trong các cuộc thi sáng tác. Những ca khúc của Hàn Ngọc Bích vẫn được nhớ, được các em nhỏ và cả người lớn hát. Đó là một niềm hạnh phúc vô bờ đối với một nhạc sĩ sáng tạo.

Mới tháng 3 năm ngoái (3/2014) tôi c̣n gặp ông tại trường quay Giai Điệu Tự Hào ở nhà thi đấu Xuân La, Tây Hồ, Hà Nội. Khi tôi đứng lên phát biểu phản đối cách dàn dựng khác lạ và xuyên tạc bài Đi học, một sáng tác của Bùi Đ́nh Thảo, do e-kíp âm nhạc của chương tŕnh thực hiện, th́ nhạc sĩ ngồi hàng ghế trên quay xuống hỏi tôi: “Anh vừa phát biểu đấy à?”. Tôi trả lời: “Vâng, cháu vừa phát biểu”. Ông quay xuống nói tiếp: “Cảm ơn anh. Anh đă nói hộ tôi”. “Cháu cũng cảm ơn nhạc sĩ”. Ông lại quay xuống: “Thật ra tôi không phải nhạc sĩ đâu, tôi là giáo viên dạy nhạc thôi. Do dạy nhạc nhiều năm và viết được một số bài hát cho thiếu nhi nên được mời về Bộ công tác…”.

Sau đó khán giả yêu cầu kiến trúc sư kiêm nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến thể hiện một số bài hát thiếu nhi mà anh viết thời gian qua. Vĩnh Tiến liền đáp ứng ngay với vài sáng tác cho thiếu nhi của ḿnh, nghe khá ngộ nghĩnh. Dẫn chương tŕnh lại yêu cầu Hàn Ngọc Bích cho ư kiến về các sáng tác đó. Rất từ tốn và nhỏ nhẹ, ông nói: “Vẫn c̣n phức tạp lắm. Các em thiếu nhi khó hát và không thể thuộc nhanh chóng được. Mong anh cố gắng suy nghĩ thêm”.

Vậy mà bây giờ ông đă đi xa rồi. Xin ông hăy coi những ḍng này như một nén hương tưởng nhớ tới ông từ diễn đàn NCM. Xin vĩnh biệt nhạc sĩ tài năng của tuổi thơ.

Posted by: VuHungAnh May 10 2015, 01:48 PM

70 năm chiến thắng chủ nghĩa phát xít


Thế là đă trôi qua 70 năm kể từ ngày phát xít Đức kư tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân Đồng Minh vào ngày 9/5/1945. Bao nhiêu người đă ngă xuống trong cuộc chiến này, trong đó Liên Xô chịu tổn thất khủng khiếp nhất. Gần 27 triệu người Xô Viết đă ngă xuống mà trong đó để giải phóng riêng Ba Lan đă có 600 000 lính Xô Viết hy sinh…

Nhưng phát xít Đức đă phải thất bại, đă bị tiêu diệt đến tận sào huyệt của chúng.

Một cuộc chiến tàn khốc.

Một cuộc chiến tranh thần thánh của những người Xô Viết.

Ca khúc Cuộc chiến tranh thần thánh (СВЯЩЕННАЯ ВОЙНА, nhạc Alexander Alexandrov - tác giả của Quốc ca Liên bang Nga, lời Василий Лебедев-Кумач) mỗi khi vang lên luôn làm người ta không khỏi ứa nước mắt với những đau thương và bi tráng mà nhân dân Liên Xô đă trải qua.

https://www.youtube.com/watch?v=JQPmwzMopJw

Một bản thu khác:

https://www.youtube.com/watch?v=Nse1BG4zl-w

Những h́nh ảnh đáng nhớ trong cuộc diễu binh này:


70 năm chiến thắng phát xít



Tổng thống Putin cầm ảnh cha tham gia cuộc tuần hành của “Trung đoàn bất tử”



Chủ tịch nước ta cùng phu nhân trong lễ diễu binh



TBT kiêm CT nước Trung Quốc, Tập Cận B́nh và vợ, Bành Lệ Viện, ngồi ngay cạnh TT Putin trên lễ đài

Posted by: VuHungAnh Jun 25 2015, 03:10 PM


GSTS Trần Văn Khê đă ra đi...


Sau thời gian chống chọi với bệnh tật, GS-TS Trần Văn Khê đă trút hơi thở cuối cùng vào lúc 2h55 ngày 24/6/2015 tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, hưởng thọ 95 tuổi.

GS Trần Văn Khê nhập viện tại bệnh viện Nhân dân Gia Định, TP HCM, ngày 27/5, vài ngày sau đó ông lâm vào t́nh trạng nguy kịch. Đến 18/6, GS có dấu hiệu hồi tỉnh, nhưng v́ tuổi già sức yếu, GS đă không thể vượt qua những cơn tái phát bệnh sau đó.

GSTS Trần Văn Khê thuộc thế hệ cùng thời với các nhạc sĩ tân nhạc đầu tiên như Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Văn Thương, Đỗ Nhuận, Lưu Hữu Phước, Phạm Duy… Nhưng nếu các nhạc sĩ nói trên đi vào con đường tân nhạc th́ Trần Văn Khê trở thành một nhà sưu tầm âm nhạc dân tộc, nghiên cứu và quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam ra với bạn bè năm châu.


GSTS Trần Văn Khê

Ông được xem là nhà hoạt động âm nhạc đă có rất nhiều công lao trong việc giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè thế giới. Bởi ông là thành viên của nhiều tổ chức âm nhạc quốc tế như: Hội đồng Âm nhạc quốc tế thuộc UNESCO, Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế, Hội đồng Giáo dục Âm nhạc quốc tế, Hội đồng Nghiên cứu Âm nhạc quốc tế, Hội Âm nhạc Pháp, Hội Âm nhạc Dân tộc Pháp, Hội Nhà văn Pháp, Hội âm nhạc dân tộc Mỹ, Hội Nghiên cứu âm nhạc truyền thống Nhật Bản, Hội Nghiên cứu âm nhạc Ấn Độ…

Ngoài ra, ông c̣n tham gia giảng dạy âm nhạc truyền thống Việt Nam ở nhiều trường đại học một số nước trên thế giới, tham gia nhiều hội thảo quốc tế về âm nhạc truyền thống với những tham luận về âm nhạc truyền thống Việt Nam…

GS Trần Văn Khê sinh năm 1921 tại làng Vĩnh Kim, huyện Châu Thành, tỉnh Mỹ Tho (nay thuộc tỉnh Tiền Giang), ông là thế hệ thứ tư trong một gia đ́nh có nhiều gắn bó với âm nhạc truyền thống.


GSTS Trần Văn Khê bên bàn làm việc

Cụ cố nội của GS là ông Trần Quang Thọ vốn là nhạc công triều đ́nh Huế. Ông nội là Trần Quang Diệm (Năm Diệm) chơi đàn ḱm, tranh, tỳ bà. Cha của GS Trần Văn Khê là ông Trần Quang Triều (Bảy Triều) chơi được nhiều loại đàn nhưng ông Bảy Triều nổi tiếng trong giới nhạc tài tử Nam bộ với những ngón đàn ḱm độc đáo trên hệ thống dây Tố Lan do ông sáng tạo ra. Cô ruột của GS Trần Văn Khê là bà Trần Ngọc Viện (Ba Viện) người sáng lập gánh hát Đồng Nữ Ban nổi tiếng ở Vĩnh Kim (Mỹ Tho). Ngoài ra GS c̣n một người em trai rất nổi tiếng là Trần Văn Trạch được giới văn nghệ Sài G̣n thời đó phong là “quái kiệt”.

Năm 1942, Trần Văn Khê đi học “trường Thuốc” ở Hà Nội, nhưng năm 1943 ông trở về Sài G̣n theo phong trào “xếp bút nghiên”. Năm 1945 ông chính thức tham gia hoạt động cách mạng, được Huỳnh Văn Tiểng kư tên bổ nhiệm làm Nhạc trưởng quân đội Nam bộ với cấp Đại đội trưởng trong cộng ḥa vệ binh và đi khắp vùng Đồng Tháp Mười.

Năm 1946 trở về Sài G̣n tham gia nhóm “kháng chiến tại thành”. Năm 1948 nhóm “kháng chiến tại thành” bị lộ, ông bị bắt giam tại khám Catinat.

Năm 1949, Trần Văn Khê sang Pháp lánh nạn và bắt đầu sự nghiệp học tập quảng bá âm nhạc truyền thống Việt Nam tại nước ngoài.


GSTS Trần Văn Khê đang dạy nhạc tại nhà

Gần 1 thập niên ở đất khách quê người, ông phải bươn chải cuộc sống tự lập, vất vả mưu sinh và chống chọi với bệnh tật để năm 1958, Trần Văn Khê trở thành vị tiến sĩ âm nhạc đầu tiên của Việt Nam sau khi bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với hạng tối ưu. Luận án của ông với đề tài chính: Âm nhạc truyền thống Việt Nam. 2 đề tài phụ là: “Khổng Tử và âm nhạc” và “Vị trí âm nhạc trong xă hội Việt Nam”.

Trong thời gian ở Pháp ông hoạt động trong nhiều tổ chức âm nhạc, đặc biệt quan trọng là Trung tâm Nghiên cứu khoa học Pháp và Trung tâm Nghiên cứu âm nhạc Đông phương, ông cũng là thành viên của Hội đồng Âm nhạc Quốc tế thuộc UNESCO phụ trách âm nhạc châu Á.

Suốt thời kỳ hoạt động âm nhạc ở nước ngoài cho đến lúc ông trở về định cư tại Việt Nam, hơn 50 năm ông đă tham dự 210 hội nghị quốc tế về âm nhạc ở 67 quốc gia, tham dự khoảng 20 liên hoan quốc tế về âm nhạc. Trong rất nhiều hội nghị và liên hoan âm nhạc đó, GS Trần Văn Khê đă giới thiệu những nét đặc sắc của âm nhạc truyền thống Việt Nam. Ông c̣n có nhiều buổi thuyết tŕnh về âm nhạc truyền thống Việt Nam tại nhiều trường đại học ở khắp nơi trên thế giới. Ngoài ra ông c̣n viết nhiều bài báo, tham luận về âm nhạc truyền thống Việt Nam đăng trên nhiều báo, trong đó có tạp chí của UNESCO được dịch ra 14 thứ tiếng.


GSTS Trần Văn Khê và con trai, GS Trần Quang Hải

Sau năm 1975, GS Trần Văn Khê có nhiều chuyến trở về Việt Nam để tiếp tục nghiên cứu, sưu tầm, điền dă về âm nhạc truyền thống Việt Nam, trước khi ông về định cư chính thức tại Việt Nam vào năm 2006.

Ngôi nhà 32 Huỳnh Đ́nh Hai, quận B́nh Thạnh do UBND TP HCM cấp cho GS Trần Văn Khê là nơi lưu giữ tất cả những tư liệu nghiên cứu suốt cả cuộc đời của ông. Toàn bộ tư liệu này, sau khi qua đời, ông tặng cho TP HCM.

Cũng tại ngôi nhà này, GS Trần Văn Khê đă tổ chức những sinh hoạt về âm nhạc truyền thống Việt Nam qua những chuyên đề, là nơi gặp gỡ, giao lưu của các nghệ nhân, nghệ sĩ, các nhà hoạt động văn hóa ở TP HCM.

GS Trần Văn Khê là người đă có những đóng góp quan trọng trong việc đưa ca trù, không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và đờn ca tài tử Nam bộ trở thành di sản phi vật thể của thế giới. Suốt một đời hoạt động không mệt mỏi phấn đấu cho âm nhạc truyền thống Việt Nam, những ngày cuối đời GS trở về sinh sống tại đất mẹ và trút hơi thở cuối cùng trên mảnh đất đă sản sinh ra những giai điệu, những loại h́nh âm nhạc độc đáo mà ông đă góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu và tôn vinh trên phạm vi toàn thế giới…

Diễn đàn NCM xin kính cẩn nghiêng ḿnh vĩnh biệt giáo sư nhạc sĩ Trần Văn Khê.

(theo Hữu Trịnh – báo online thethaovanhoa)

Posted by: VuHungAnh Jun 25 2015, 05:14 PM


Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Nhạc sĩ Việt Nam lần thứ IX


Sáng 23 tháng 6 năm 2015, tại Hà Nội, đă khai mạc trọng thể Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Nhạc sĩ Việt Nam lần thứ IX (nhiệm kỳ 2015 – 2020). Tới dự và chỉ đạo Đại hội có PGS-TS Nguyễn Thế Kỷ - Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, Ủy viên Thường trực Ban chỉ đạo Đại hội; Nhà văn Hữu Thỉnh – Bí thư Đảng Đoàn, Chủ tịch Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Ủy viên Ban chỉ đạo Đại hội; đồng chí Đỗ Kim Cuông, Phó Bí thư Đảng Đoàn, Phó Chủ tịch Thường trực Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Ủy viên Ban chỉ đạo Đại hội.


Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam phụ trách khối văn hóa & giáo dục đă đến dự

Tại Hội nghị Đảng viên diễn ra trước khai mạc Đại hội, nhà văn Hữu Thỉnh đă đánh giá cao sự chuẩn bị công phu, kỹ lưỡng của Hội Nhạc sĩ Việt Nam trong việc triển khai tổ chức Đại hội: “Ban chỉ đạo thấy rằng, Hội Nhạc sĩ Việt Nam đă nghiêm túc triển khai tốt khâu chuẩn bị Đại hội, quán triệt Chỉ thị của Ban Bí thư Trung ương, Ban Tuyên giáo Trung ương. Với con số 353 đảng viên trong tổng số 1.356 hội viên. Đây là con số cao nhất trong các Hội Văn học Nghệ thuật chuyên ngành. Quá tŕnh chuẩn bị Đại hội rất chu đáo, cơ bản điều kiện thuận lợi để chúng ta bước vào Đại hội. Cuộc họp hôm nay nhằm phát huy vai tṛ của các đáng viên trong Đại hội.

Ban chỉ đạo Đại hội rất vui mừng, Hội Nhạc sĩ Việt Nam tiếp thu tốt các ư kiến của Ban chỉ đạo: Đại hội là của các nhạc sĩ phát huy vai tṛ làm chủ, dân chủ, quyết định chặng đường sắp tới của Hội.

Về phương hướng nhiệm vụ, tập trung cao độ triển khai Nghị quyết số 33 – NQ/TƯ “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”; về Điều lệ của Hội là pháp lư của Hội, cần được xây dựng, tiếp thu, kế thừa, tổng kết nhiệm kỳ đă qua, đón nhận những pháp lư cơ bản cho nhiệm kỳ tới, là văn bản để điều chỉnh các hoạt động của Hội. Tính chất của Hội chúng ta là một tổ chức chính trị - xă hội – nghề nghiệp, nhiệm vụ của chúng ta là sáng tạo nghệ thuật.


Trên hàng đầu ta thấy nhạc sĩ Văn Kư, nhà văn Hữu Thỉnh và PGS Nguyễn Thế Kỷ (Phó ban tuyên giáo TƯ)

Bầu cơ quan lănh đạo, chúng tôi đă nghe các đồng chí đóng góp ư kiến, chúng tôi hoàn toàn tán thành, nhưng tiêu chuẩn là quan trọng nhất. Ban lănh đạo phải tiêu biểu về mặt nghề nghiệp, phải có đủ tŕnh độ nghề nghiệp, có đủ khả năng cân nhắc những vấn đề về nghề nghiệp, có độ tin cậy của hội viên, toàn tâm với Hội… về cơ cấu vùng miền, giới tính, dân tộc… cũng rất quan trọng. Một mặt nữa là chúng ta nghiêng về sáng tác nhưng không quên: Lư luận, biểu diễn, đào tạo…, chú trọng khí nhạc nhưng không được quên thanh nhạc”.

Tiếp theo, Đại hội Đại biểu toàn quốc Hội Nhạc sĩ Việt Nam lần thứ IX, đă tiến hành thông qua kết quả kiểm tra tư cách đại biểu; Chương tŕnh đại hội; Qui chế Đại hội; Qui định về bầu Đoàn Chủ tịch, Ban Thư kư, bầu Ban Chấp hành mới; Qui định về cách đăng kư phát biểu và cách phát biểu…

Những nội dung chính: Đại hội nghe Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành khóa VIII: Tổng kết công tác nhiệm kỳ (2010 – 2015) và Phương hướng hoạt động khóa IX (nhiệm kỳ 2015 – 2020); Báo cáo kiểm điểm của Ban chấp hành khóa VIII; Báo cáo sửa đổi Điều lệ Hội (dự thảo) khóa IX; Báo cáo hoạt động của Ban Kiểm tra khóa VIII; Báo cáo đề án nhân sự khóa IX.

Báo cáo Tổng kết công tác khóa 8 (nhiệm kỳ 2010 – 2015) của Hội Nhạc sĩ Việt Nam cho biết, 5 năm qua, âm nhạc Việt Nam đă có nhiều chuyển biến, phát triển phong phú về nội dung và h́nh thức: 3 ḍng chảy chính trong âm nhạc Việt Nam: Âm nhạc dân gian – truyền thống, Âm nhạc hàn lâm – kinh điển và Âm nhạc đại chúng vẫn song song tồn tại, đan xen nhau, góp phần vào việc nâng cao đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân cũng như quảng bá, giới thiệu âm nhạc Việt Nam ra thế giới.

Chủ tịch Hội Nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân tŕnh bày tóm tắt
Báo cáo tổng kết nhiệm ḱ cũ và phương hướng nhiệm ḱ mới

Nổi bật là ḍng âm nhạc dân gian, truyền thống của Việt Nam được UNESCO tôn vinh 3 Di sản Văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại và Di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, nâng số Di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO tôn vinh trong lĩnh vực âm nhạc lên 7 di sản.

Nhiệm kỳ qua, Hội Nhạc sĩ Việt Nam tiếp tục duy tŕ, mở rộng đề tài sáng tác “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhiều tác phẩm chất lượng đă ra đời như: “Nước non tên Người” của nhạc sĩ Chu Minh, “Hành khúc Hồ Chí Minh” của nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn, “Pác Pó măi hát tên Người” của nhạc sĩ An Thuyên… Đặc biệt, trong nhiệm kỳ 8, đề tài về “Biển đảo quê hương” đă được các nhạc sĩ hưởng ứng sôi động…

Phát biểu tại Đại hội, Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đánh giá cao những kết quả mà giới nhạc sĩ Việt Nam đạt được trong 5 năm qua, với việc Hội vinh dự được phong tặng Danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Nhà lư luận phê b́nh âm nhạc Nguyễn Thị Minh Châu, PCT Hội Nhạc sĩ VN khóa 9

Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam đề nghị: “Đất nước ngày nay cũng đang rất cần những giai điệu có sức lôi cuốn để muôn người như một cùng chung sức, đồng ḷng để nền độc lập tự do của dân tộc, chủ quyền của đất nước được giữ vững, để đất nước phát triển nhanh hơn, bền vững hơn, thực sự giàu mạnh, kịp sánh vai với 5 châu bè bạn. Hàng triệu người Việt Nam đều có mong muốn và niềm tin rằng: đội ngũ những người làm âm nhạc nguyện bằng t́nh yêu cái đẹp để góp phần cảm hóa ḷng người, hướng về cái đẹp bản thể của tâm hồn, hướng về điều thiện của văn hóa Việt Nam ta”.

Với chủ đề “Đoàn kết – dân chủ - đổi mới – sáng tạo, tiếp tục xây dựng và phát triển nền âm nhạc Việt Nam tiên tiến, đậm đàn bản sắc dân tộc”, Đại hội tập trung thảo luận, bàn biện pháp đẩy mạnh hoạt động trong nhiệm kỳ tới trên một số lĩnh vực chính như: Phát triển chi hội địa phương; ưu tiên ủy viên nữ, dân tộc thiểu số; Trẻ hóa độ tuổi nhạc sĩ, ca sĩ, nhà lư luận trong Hội.


Nhạc sĩ Trần Viết Bính, tác giả Hạt gạo làng ta, đang phát biểu tại đại hội

Với những tiêu chuẩn Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa IX (nhiệm kỳ 2015 – 2020): Có phẩm chất chính trị, nắm vững Chủ trương, Chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực Văn hóa văn nghệ; Có khả năng chuyên môn nghề nghiệp, năng lực tổ chức và điều hành công tác Hội; Trung thực, công tâm, có uy tín với hội viên, có khả năng đoàn kết, tập hợp hội viên, hết ḿnh với công tác Hội; Có điều kiện sức khoẻ, thời gian để hoàn thành công tác Hội; Được hội viên tín nhiệm. Và tiêu chuẩn Chủ tịch Hội: Có phẩm chất chính trị vững vàng, đảm bảo giữ vững quan điểm đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng và Chủ trương, Chính sách của Nhà nước; Có năng lực chuyên môn, có tầm nh́n và năng lực định hướng công tác Hội, có khả năng quản lư, tổ chức thực hiện và chỉ đạo công tác của Ban Chấp hành và của Hội; Trung thực, công tâm, có khả năng đoàn kết Ban Chấp hành và hội viên, hết ḿnh với công tác Hội; Có sức khoẻ và khả năng hoàn thành nhiệm vụ; Được hội viên và Ban Chấp hành tín nhiệm cao.


Nhạc sĩ kiêm PGS khảo cổ học Nguyễn Lân Cường,
PCT Hội âm nhạc Hà Nội, phát biểu tại đại hội

Đại hội công bố danh sách 25 vị được đề cử vào Ban Chấp hành, do Đại hội cơ sở và Ban Chấp hành khóa VIII giới thiệu, và đă nhận được ư kiến đóng góp của các đại biểu như: Nhạc sĩ Thế Bảo: Ủng hộ và đề nghị thêm thành phần là người dân tộc thiểu số ở khu vực miền núi phía Bắc, và lực lượng vũ trang; Nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng: Nên bổ sung thêm các ủy viên ở các vùng miền, đặc biệt là miền Trung; Nhạc sĩ Đinh Quang Hợp: Không nên bầu theo h́nh thức mặt trận, cần chọn những người có thành tích, năng lực; chú ư những người có kinh nghiệm nghề nghiệp và công tác; Nhạc sĩ Trọng Bằng: Cần có thêm thành phần nữ đại diện cho phía Nam; Nhạc sĩ Vũ Thành: Các đồng chí trong Ban Chấp hành cũ (khóa VIII) kiểm điểm lại bản thân ḿnh xem có đủ năng lực để tham gia công tác nữa không, nếu không có thể xin rút.

Đại hội bổ sung thêm 2 đại biểu là nhạc sĩ Đinh Tiến B́nh (Hà Giang) và nhạc sĩ Trần Gia Cường (Công An). Tổng số đề cử vào Ban chấp hành khóa IX là 27 ứng viên, được Đại hội tiến hành bỏ phiếu bầu cử.

Nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông – Trưởng Ban bầu cử thay mặt Ban bầu cử công bố kết quả 21 vị trúng cử vào Ban chấp hành Hội Nhạc sĩ Việt Nam khóa IX (nhiệm kỳ 2015 -2020):

1. Đỗ Hồng Quân – Chủ tịch Hội Nhạc sĩ VN khóa IX
2. Phạm Ngọc Khôi – PCT Hội Nhạc sĩ VN khóa IX
3. Nguyễn Thị Minh Châu – PCT Hội Nhạc sĩ VN khóa IX
4. Nguyễn Đức Trịnh – PCT Hội Nhạc sĩ VN khóa IX
5. Nguyễn Trọng Đài
6. Trần Long Ẩn
7. Nguyễn Thị Mỹ Liêm
8. Phó Đức Phương
9. Trần Mạnh Hùng
10. Nguyễn Quang Thọ
11. Trần Vương Thạch
12. Trần Ái Nghĩa
13. Lê Phùng
14. Nguyễn Ngọc Thiện
15. Lê Nghiệp
16. Lê Xuân Hoan
17. Trần Nhật Dương
18. Vũ Duy Cương
19. Lương Minh
20. Tôn Thất Lập
21. Trần Gia Cường


Ra mắt BCH Hội Nhạc sĩ VN khóa 9. Từ phải qua, người thứ 6-7-8-9 lần lượt là
CT Đỗ Hồng Quân và các PCT Nguyễn Thị Minh Châu, Đức Trịnh và Phạm Ngọc Khôi.
Ngoài ra ta c̣n thấy ở b́a phải có Trần Ái Nghĩa và Tôn Thất Lập, b́a trái có Phó Đức
Phương, Trần Mạnh Hùng và Nguyễn Ngọc Thiện. Trong ảnh chụp vắng mặt 3 UVBCH
quan trọng là nhạc sĩ Trần Long Ẩn, nhạc sĩ Lương Minh và NSND Quang Thọ
.

TS nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân đă chia sẻ với các đại biểu tại Đại hội với t́nh cảm sâu sắc: “Đại hội hôm nay, chúng ta cùng nhau hội tụ về đây, với t́nh cảm thân thiết như anh em một nhà, cùng nhau nh́n lại bức tranh âm nhạc trong 5 năm qua, Đại hội c̣n là dịp để những nhạc sĩ, nghệ sĩ, các nhà lư luận phê b́nh, giáo dục âm nhạc… trên cả nước ngồi lại với nhau để bàn thảo về phương hướng hoạt động, góp phần định hướng phát triển cho âm nhạc Việt Nam trong giai đoạn tới.

Chúng tôi kỳ vọng thứ nhất là nhạc sĩ của chúng ta càng ngày càng trẻ hóa hơn, chuyên môn sâu hơn, thứ 2 nữa là những người trong Ban chấp hành là những người nhiệt t́nh làm việc có khả năng tập hợp. Hy vọng rằng với cách nh́n nhận mới, bước đi mới th́ hoạt động của Hội sẽ được mở rộng ra toàn quốc, đồng thời hướng đến những hoạt động đối ngoại. Thứ ba là âm nhạc phải đi sâu hơn nữa với đời sống xă hội”.

Posted by: VuHungAnh Jun 29 2015, 01:44 PM


Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu qua đời


Sau hơn 2 ngày nhập viện v́ sốt xuất huyết, sáng sớm nay 29.6, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu bị hôn mê sâu và ra đi lúc 10 giờ 15 phút.


Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu thời trẻ và trên trang b́a những tập bài hát của ông hơn 40 năm trước

Người nhà nhạc sĩ cho biết ông nhập viện vào sáng thứ 26.6, sau khi được bác sĩ đến khám tại nhà và đề nghị đưa ông nhập viện. Trước đó ngày 23.6, nhạc sĩ có dấu hiệu không khỏe, sốt nhẹ.

Trong ngày 25.6, khi gia đ́nh các thành viên Tiếng hát măi xanh (nơi ông đang làm giám khảo chuyên môn của cuộc thi Tiếng hát măi xanh 2015) tới nhà thăm, ông vẫn c̣n tỉnh táo hát cho cả đoàn nghe và cười đùa cùng mọi người. Ông bảo cho ông nghỉ một đêm chung kết rồi sẽ có mặt trong đêm chung kết xếp hạng.

Tối 28/6, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu rơi vào hôn mê sâu sau khi được đưa vào bệnh viện Thống Nhất trị bệnh trước đó hai ngày. Ông nhập viện v́ bị xuất huyết và ngất xỉu tại nhà. Bác sĩ chuẩn đoán ông bị bệnh bạch cầu cấp (một dạng ung thư máu). Theo con trai của nhạc sĩ, trước đây gia đ́nh không biết ông bị mắc bệnh này. Tuổi già sức yếu cộng với bệnh tật khiến nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu không thể qua khỏi.

Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu (sinh 1924) tại Đà Nẵng, là người con thứ 11 trong một gia đ́nh cha làm thợ may. Tuy sinh ra và lớn lên ở Đà Nẵng, nhưng nguyên quán gốc của ông ở Điện Bàn, Quảng Nam.

Ông bắt đầu hoạt động âm nhạc từ năm 1940 trong nhóm tân nhạc. Sau ca khúc đầu tay Trầu cau, sáng tác của ông được biết rộng răi là bài Đoàn giải phóng quân viết cuối 1945. Một nhạc phẩm nổi tiếng khác của ông là Mùa đông binh sĩ được viết khoảng giữa thập niên 1940.


Nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu trong thời gian gần đây, nom ông xanh xao và ốm yếu lắm rồi

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, Phan Huỳnh Điểu gia nhập quân đội, công tác ở Liên khu 5. Thời gian này ông viết một số ca khúc như Nhớ ơn Hồ Chủ Tịch, Quê tôi ở miền Nam...

Năm 1955, sau khi tập kết ra Bắc, ông công tác ở Ban Nhạc vũ, Hội Văn nghệ Việt Nam. Năm 1957, khi thành lập Hội Nhạc sĩ Việt Nam, ông được cử vào Ban chấp hành, là Ủy viên Thường vụ và công tác tại Hà Nội. Tháng 12 1964, Phan Huỳnh Điểu vào chiến trường Trung Trung Bộ ở trong Ban văn nghệ Khu. Thời gian đó ông viết bản hành khúc Ra tiền tuyến với bút danh Huy Quang.

Sau 1975, Phan Huỳnh Điểu chuyển về Hội Âm nhạc TP HCM. Ông đă sáng tác và công bố hơn 100 ca khúc, quá nửa trong số đó là ca khúc phổ thơ. Âm nhạc của ông có giai điệu trau chuốt, trữ t́nh, ngay cả trong thể loại hành khúc, như Cuộc đời vẫn đẹp sao, Hành khúc ngày và đêm. Phan Huỳnh Điểu c̣n có nhiều ca khúc về đề tài t́nh yêu thành công như T́nh trong lá thiếp, Những ánh sao đêm, Bóng cây Kơnia, Anh ở đầu sông em cuối sông, Sợi nhớ sợi thương, Ở hai đầu nỗi nhớ, Đêm nay anh ở đâu, Thuyền và biển, Thơ t́nh cuối mùa thu, Người ấy bây giờ đang ở đâu, T́nh ca Đămbri, Tia nắng...

Ngoài ra, ông c̣n sáng tác một số tác phẩm dành cho thiếu nhi, tiêu biểu là: Đội kèn tí hon, Nhớ ơn Bác...

Ông đă được Nhà nước trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật v́ những đóng góp cho sự nghiệp âm nhạc Việt Nam ở thế kỷ 20.

Vào tháng 11.2014, ông đă tổ chức đêm nhạc Phan Huỳnh Điểu 90 - Cuộc đời vẫn đẹp sao để mừng thọ 90 tuổi. Trong đêm nhạc này, ông đă chia sẻ: "Tôi đă sống 90 năm cuộc đời, 70 năm gắn bó với nghề sáng tác âm nhạc, đă góp cho đời dăm bài hát nghe cũng được, từ những bài hát “điếc không sợ súng”, đến những bài t́nh ca êm ái... Nhưng tôi c̣n một món nợ đối với quê hương ḿnh, đó là chưa sáng tác được bài nào hay cho quê hương của ḿnh. Tôi mong thế hệ nhạc sĩ trẻ sau này sẽ giúp tôi trả món nợ ân t́nh ấy".


Người yêu nhạc cả nước nhớ về ông với nụ cười nhân hậu như thế này

Những ngày qua, khi ṿng chung kết chương tŕnh Tiếng hát măi xanh diễn ra, dù tuổi cao sức yếu nhưng nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu vẫn miệt mài trên "ghế nóng". Đại diện truyền thông chương tŕnh cho biết sau khi nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu đảm nhận vai tṛ giám khảo ở hai đêm chung kết đầu, BTC nhận được thông tin ông bị sốt xuất huyết nên phải vắng mặt trong đêm chung kết thứ 3. Không ngờ rằng vị nhạc sĩ đáng kính lại ra đi quá nhanh...

BTC cho biết trong đêm chung kết sắp tới sẽ không mời ai thay thế vị trí của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu mà sẽ để khuyết một giám khảo.

Ông Phan Hồng Hà, con trai nhạc sĩ, cho biết cha ông qua đời bất ngờ nên gia đ́nh chưa định ngày giờ tẩm liệm và an táng. Hiện thi thể nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu vẫn đang để ở bệnh viện Thống Nhất và sẽ được quàn tại Nhà tang lễ Bộ quốc pḥng (5 Phạm Ngũ Lăo, quận G̣ Vấp, TP.HCM).

Diễn đàn NCM xin thắp nén hương thành kính vĩnh biệt nhạc sĩ lăo thành và yêu mến của đông đảo người yêu nhạc cả nước ta.

Posted by: VuHungAnh Jun 29 2015, 06:24 PM


Vừa tiễn biệt Phan Huỳnh Điểu,
nhạc Việt lại mất nhạc sĩ Phan Nhân


Sau sự ra đi của Giáo sư Trần Văn Khê và hơn một giờ sau sự ra đi của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, nền âm nhạc nước nhà lại mất thêm một cây đại thụ, nhạc sĩ Phan nhân, tác giả ca khúc nổi tiếng Hà Nội - Niềm tin và Hy vọng.

Nhạc sĩ Phan Nhân tên thật là Nguyễn Phan Nhân sinh ngày 15.5.1930 tại thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang. Tốt nghiệp PTTH, ông đi theo tiếng gọi của quê hương gia nhập quân ngũ, tham gia kháng chiến chống Pháp, và cũng chính trong môi trường đó, Phan Nhân đă "tập tành" sáng tác như một nhạc sĩ nghiệp dư, bởi vốn âm nhạc của ông lúc đó chỉ là những ǵ ông đă được học ở bậc trung học.


Nhạc sĩ Phan Nhân

Cuộc đời ông là những ngày dài cống hiến cho cách mạng và âm nhạc, với những tháng ngày kháng chiến chống Pháp và công tác tại Đoàn Văn công Nam Bộ (tập kết), dự Đại hội Văn công toàn quốc năm 1954; Đoàn Văn công quân đội Nam Bộ (1995), Đoàn Ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam và Ban Biên tập âm nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam (1959-1975).
Sau khi có mặt tại chiến trường miền Nam, năm 1954 từ quân đội nhạc sĩ Phan Nhân chuyển về đoàn Tuyển văn công Nam bộ rồi tập kết ra Bắc. Năm 1959, chuyển về công tác tại Đài Tiếng nói Việt Nam với tư cách là một biên tập viên kiêm phóng viên âm nhạc.

Năm 1969 hưởng ứng cuộc vận động sáng tác bài hát cho các em thiếu nhi, ông đă giành được giải thưởng cao với bốn ca khúc: Em là bông lúa Điện Biên, Chú ếch con, Em là con gái má Út Tịch, Chú cừu Mộc Châu.

Trong những năm 1970 – 1972, ông tu nghiệp tại Hungaria về âm nhạc. Vừa trở về, ông lại tiếp tục có mặt ở Hà Nội để tham gia cuộc kháng chiến chống Mỹ. Chính trong 12 ngày đêm đạn bom ác liệt của trận Điện Biên Phủ trên không lịch sử, ông đă sáng tác bài hát nổi tiếng Hà Nội niềm tin và hy vọng ngay tại Đài TNVN ở số 58 Quán Sứ, Hà Nội.

Sau ngày đất nước giải phóng, ông làm việc tại Pḥng Văn nghệ Đài Phát thanh Giải phóng, rồi Đài Tiếng nói Việt Nam II tại TP.HCM cho đến khi nghỉ hưu.

Dù ông không sáng tác nhiều nhưng hầu hết các nhạc phẩm của ông đều là những ca khúc vượt thời gian không thể nào quên, để lại trong ḷng khán thính giả nhiều t́nh cảm sâu sắc. Đó là những ca khúc: Hà Nội - niềm tin và hy vọng, Em ở nơi đâu, T́nh ca đất nước, Cây đàn ghi-ta của Victor Hara, Nhớ về Pắc Bó, Xa Hà Nội, Thành phố của tôi, Bài ca cho em, Trên quê hương Minh Hải, T́nh bạn già,… Trong đó, được biết đến nhiều nhất là Hà Nội - Niềm tin và hy vọng.

Ngoài các ca khúc viết cho người lớn, Phan Nhân cũng có nhiều bài cho thiếu nhi được các em nhỏ yêu thích. Trước 1975 có mấy bài được thiếu nhi yêu thích như Chú ếch con (1967), Chú cừu Mộc Châu (1968), Em là bông lúa Điện Biên (1968), Hàng cây ơn Bác (1969)… Sau 1975, có một bài khá nổi tiếng là Vườn cây của ba (1978 - thơ Nguyễn Duy)…

Ngoài Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Chiến thắng hạng Ba, Huy chương Thành đồng Tổ quốc, Huy chương V́ sự nghiệp Văn học - Nghệ thuật, Huy chương V́ sự nghiệp Âm nhạc… Ông cũng nhận được giải thưởng của Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật vào năm 2001.

Có thể nói, niềm hạnh phúc lớn nhất đối với nhạc sĩ Phan Nhân là có được một người bạn đời - NSUT Phi Điểu, một giọng nữ Nam Bộ ta thường được nghe thấy trong mục "Đọc truyện đêm khuya" của Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Tiếng nói nhân dân TP.HCM.


Nhạc sĩ Phan Nhân và vợ, NSƯT Phi Điểu

Phan Nhân - Phi Điểu được coi là cặp vợ chồng nghệ sĩ có nhiều cống hiến với sự nghiệp văn học - nghệ thuật nước nhà. Hai người quen biết và kết hôn khi cả hai tập kết ra Bắc. Vợ chồng nhạc sĩ luôn dành cho nhau sự trân trọng trong cuộc sống. Những năm cuối đời, sức khỏe của Phan Nhân không ổn định. Ngoài bệnh tim, phổi, ông c̣n bị lăng tai. Tuy nhiên nhạc sĩ rất chịu khó tập thể dục và chăm chỉ đạp xe đi thăm thú bạn bè. Suốt những năm tháng cuối đời, ông luôn được vợ ở bên, tự tay chăm sóc.

Theo NSƯT Phi Điểu - vợ nhạc sĩ Phan Nhân, ông bị suy tim và có khối u ác tính ở phổi, phải điều trị trong suốt hai tháng qua. Đến 11 giờ 45 hôm nay, 29/6/2015, ông đă trút hơi thở cuối cùng tại nhà riêng (193/21 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, P.7, Q.3), hưởng dương 86 tuổi.

Lễ nhập quan sẽ diễn ra lúc 18 giờ, sau đó linh cữu sẽ được chuyển đến Nhà tang lễ Thành phố (25 Lê Quư Đôn, quận 3) vào 21 giờ. Dự kiến, lễ động quan sẽ diễn ra vào sáng 2/7/2015, sau đó hoả táng tại B́nh Hưng Hoà.

Tro cốt của cố nhạc sĩ sẽ được gia đ́nh thờ tại chùa Hải Tuệ (quận 3, TPHCM) theo di nguyện của ông.

Posted by: VuHungAnh Jun 30 2015, 10:02 AM

Nhớ nhạc sĩ Phan Nhân


Không sáng tác nhiều như những nhạc sĩ khác, nhưng những bài hát của Phan Nhân hầu như là những ca khúc vượt thời gian, để lại trong ḷng thính giả nhiều t́nh cảm sâu sắc, trong đó có thể kể đến một số tác phẩm như: Hà Nội niềm tin và hy vọng, Em ở nơi đâu, Thành phố của tôi, Trên quê hương Minh Hải, T́nh bạn già, Cây đàn guitar Victor Hara...

Ông tên thật là Nguyễn Phan Nhân, quê ở B́nh Đức, Long Xuyên, An Giang, sinh năm 1930, tại Long Xuyên, An Giang. Ngay từ nhỏ Phan Nhân đă tỏ ra là một cậu bé thông minh và có năng khiếu về nghệ thuật, đặc biệt là trong âm nhạc. Lên đến bậc PTTH, xa gia đ́nh lên Cần Thơ trọ học, những lúc buồn ông lại cùng bạn bè "nghêu ngao" vài câu ḥ Nam bộ chân chất, mộc mạc để vơi đi nỗi nhớ nhà.

Nhạc sĩ Phan Nhân

Đặc biệt cứ mỗi khi đến tiết học môn thanh nhạc, là ông lại cảm thấy như có một niềm đam mê kỳ lạ cứ cuốn lấy ông vào trong từng giai điệu, nốt nhạc. Tốt nghiệp xong, theo tiếng gọi của quê hương ông gia nhập quân ngũ, tham gia kháng chiến chống Pháp, và cũng chính trong môi trường đó, Phan Nhân đă "tập tành" sáng tác như một nhạc sĩ nghiệp dư, bởi vốn âm nhạc của ông lúc đó chỉ là những ǵ ông đă được học ở bậc trung học.

Trong những cuộc giao lưu của đơn vị với nhân dân, anh lính trẻ Phan Nhân thường tham gia góp vui bằng những bài hát do chính ḿnh sáng tác, và được sự cổ vũ nhiệt t́nh của mọi người. Những câu động viên, khen ngợi của mọi người như tiếp thêm sức mạnh cho ông, thế là những bài hát lần lượt ra đời, mang chủ đề chính là t́nh quân dân như "cá với nước" keo sơn gắn bó trong cuộc chiến đấu chống giặc ngoại xâm.

Trong số những bài hát ông sáng tác hồi ấy, có thể nói bài hát "Tiếng tơ ḷng" (1953) c̣n đọng lại nhiều nhất trong ḷng bạn bè. Bài này được ông sáng tác trong những đêm trăng thanh bên bờ suối trên đinh Cấm Sơn khi cùng đơn vị đóng quân ở Long Châu Hà - Thất Sơn, cùng với nhân dân phối hợp đánh các đồn bót của địch trên các tuyến đường An Giang - Tịnh Biên - Châu Đốc.

Năm 1954 từ Quân đội nhạc sĩ Phan Nhân chuyển về đoàn Tuyển văn công Nam bộ rồi tập kết ra Bắc. Năm 1959, chuyển về công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, với tư cách là một Biên tập viên kiêm phóng viên ông được đi rất nhiều nơi. Mỗi chuyến đi đối với ông như là một lần được tiếp thêm sức sống, bởi ông được gần gũi với tiếng nói, kho tàng dân ca của các dân tộc... tất cả làm xao động trong ḷng ông, thôi thúc ông sáng tác.

Dù vốn là một thanh niên Nam bộ, nhưng ông rất mê những làn điệu Dân ca đồng bằng Bắc bộ, Chèo cho tới quan họ Bắc Ninh... v́ thế trong những sáng tác của ông, ta thấy có sự ảnh hưởng ít nhiều của những làn điệu này như bài hát "Em ở nơi đâu" viết về t́nh cảm cao quư, chân thật của những anh bộ đội lái xe đối với những cô thanh niên xung phong đi mở đường. Trong chiến tranh ban đêm không được mở đèn xe nên các anh không biết mặt được người con gái đă giúp ḿnh mà "... Chỉ nghe có tiếng hát mà đem ḷng yêu thương..." rồi các anh đi t́m nhưng không biết em ở nơi đâu hoặc như bài "Nhớ về PácBó" cũng mang âm hưởng của dân ca Tày, Nùng Việt Bắc.

Yêu miền Bắc, yêu Hà Nội và tự trong ḷng, ông đă coi đây như là quê hương thứ hai của ḿnh. Để thể hiện t́nh yêu ấy, ông ấp ủ một ước mơ sẽ viết một bài hát về Hà Nội mà chưa biết viết như thế nào để thể hiện được sâu sắc nhất t́nh cảm của ḿnh. Cho đến năm 1970, khi Phan Nhân được cử đi tu nghiệp âm nhạc ở Hungari về, th́ lúc này Hà Nội đang chuẩn bị kháng chiến chống Mỹ, ông tiếp tục hăng hái tham gia.

T́nh h́nh lúc ấy rất cấp bách, nhiều khi phải đi sơ tán để tránh thiệt hại, nhưng ông được ở lại nhận nhiệm vụ đảm bảo cho những chương tŕnh âm nhạc trên làn sóng của đài phát thanh được hoạt động b́nh thường. Ông trầm ngâm: "Có lẽ đây là một điều may mắn đối với tôi. Bởi khi được chưng kiến cảnh Hà Nội chống trả với bom đạn Mỹ, tôi thấy yêu Hà Nội hơn với một t́nh yêu da diết mà cho đến bây giờ tôi vẫn không sao diễn tả được...?

Và có lẽ chính v́ t́nh yêu ấy mà ông đă viết nên bài ca "Hà Nội niềm tin và hy vọng", một ca khúc đă làm rung động con tim của biết bao thế hệ. Trong trận "Điện Biên Phủ trên không", 12 ngày đêm Hà Nội chống trả với bom đạn Mỹ, hầu hết mọi người trong Đài đều xuống hầm trú ẩn, nhưng riêng Phan Nhân th́ lại chạy lên sân thượng với mong muốn được nh́n cho rơ khung cảnh Hà Nội lúc bấy giờ. Dưới làn bom đạn có thể bất cứ một viên đạn lạc nào trúng ông, nhưng Phan Nhân dường như quên đi sự nguy hiểm đó, ông đứng lặng người đi, nghĩ về Hà Nội chiều nay vẫn b́nh yên, mặt nước hồ Gươm vẫn c̣n lung linh, yên ả mà giờ đây đă đỏ trời đạn bom. B52 điên cuồng đánh phá Hà Nội thực sự là cơn hấp hối giăy giụa của kẻ chiến bại, ông đă tự nghĩ như vậy và có một niềm tin, hy vọng vào ngày chiến thắng.

Cái cảm xúc ấy đă được ông đưa vào bài hát của ḿnh. Khi bài hát "Hà Nội niềm tin và hy vọng" được công bố, ngay lập tức đón nhận được sự hưởng ứng của thính giả. Mọi người khi nghe bài hát này ai cũng xúc động bởi nó quá sống động, quá chân thực, họ như thấy được toàn bộ h́nh ảnh một Hà Nội anh dũng, hào hùng chống trả quyết liệt với giặc Mỹ, với một niềm tin tất thắng, từ niềm tin mănh liệt đó quân và dân Hà Nội đă thực sự "Dệt nên tiếng ca át tiếng bom rền". Bài này đă đạt được giải A trong những bài hát sáng tác về Hà Nội.

Ngoài những ca khúc trên, nhạc sĩ Phan Nhân c̣n sáng tác rất nhiều những ca khúc dành cho thiếu nhi: Chú ếch con, Hàng cây ơn Bác, Vườn cây của Ba (phổ thơ Nguyễn Duy)... được nhiều thế hệ thiếu nhi Việt Nam yêu thích. Năm 1969 hưởng ứng cuộc vận động sáng tác bài hát cho các em thiếu nhi, ông đă giành được giải thưởng cao với bốn ca khúc: Em là bông lúa Điện Biên, Chú ếch con, Em là con gái má Út Tịch, Chú cừu Mộc Châu. Theo ông, sáng tác nhạc thiếu nhi rất khó bởi tác giả phải biết hóa thân và tinh chế cho phù hợp với tâm hồn trẻ thơ, biến lư trí khô khan thành t́nh cảm th́ các em mới cảm thụ được.

Có thể nói, niềm hạnh phúc lớn nhất đối với nhạc sĩ Phan Nhân là có được một người bạn đời - NSUT Phi Điểu, một giọng nữ Nam bộ ta thường được nghe thấy trong mục "Đọc truyện đêm khuya" của Đài tiếng nói Việt Nam, và Đài tiếng nói nhân dân TPHCM, một giọng đọc đă từng làm say mê biết bao người hâm mộ. Bà là người phụ nữ biết hy sinh, biết tạo điều kiện thuận lợi cho Phan Nhân sáng tác, bởi bà hiểu biết và cảm thông đối với sự nghiệp sáng tác của ông. Hơn nữa đối với nhạc sĩ Phan Nhân, NSUT Phi Điểu c̣n là một người đồng chí, một đồng tác giả không cần đứng tên trong những tác phẩm của ḿnh.

Nhạc sĩ Phan Nhân tâm sự: "Tôi vẫn luôn cố gắng hết ḿnh trong công việc, đó là điều chứng tỏ ḿnh vẫn c̣n có ích cho cuộc đời. Chứ là nhạc sĩ mà không c̣n sáng tác được th́ buồn lắm. Một nhà thơ người Nga đă từng nói "đừng chết trước lúc ĺa đời", tôi không muốn ḿnh sẽ rơi vào hoàn cảnh ấy". Chính v́ vậy mà mỗi tác phẩm của ông khi ra đời là cả một quá tŕnh t́m ṭi, chọn lựa, chắt lọc kỹ càng, bởi ông không muốn phụ ḷng khán giả, và muốn cống hiến cho đời những tác phẩm có giá trị.

(Theo Công an nhân dân)

Posted by: VuHungAnh Jul 4 2015, 10:37 AM

Nhạc sĩ An Thuyên đột ngột qua đời


Nhạc sĩ thiếu tướng An Thuyên đă qua đời lúc 17h45' ngày hôm qua, thứ sáu 3/7/2015, tại Bệnh viện 108.


Trao đổi với các báo, con gái nhạc sĩ An Thuyên, ca sĩ Bông Mai, cho hay chiều nay khi đang trên đường tới nơi làm việc, nhạc sĩ bất ngờ thấy đau ngực. Ông đă gọi cho cô để đưa ngay tới bệnh viện. Trên đường đi, cha cô vẫn c̣n vui tươi, chỉ trỏ đường xá. Khi lên đến pḥng bệnh tại tầng 4 của bệnh viện Quân y 108, t́nh trạng của nhạc sĩ vẫn b́nh thường. Tuy nhiên, tới lúc con gái chạy ra ngoài gọi bác sĩ và quay trở lại th́ thấy ông nằm co.

Nhạc sĩ An Thuyên được bác sĩ khoa A1 (Nội Cán bộ) chẩn đoán bị nhồi máu cơ tim cấp. Ông ngưng tim lúc 16h20. Sau hơn một tiếng nỗ lực cứu chữa không thành công, nhạc sĩ đă trút hơi thở cuối cùng vào lúc 17h45', hưởng thọ 66 tuổi.

Vợ nhạc sĩ An Thuyên, bà Ngô Huyền Lâm, choáng váng v́ không thể tin vào cái chết của chồng. Bà vừa khóc vừa nói ngày hôm qua vừa đi mua cặp vé để hai vợ chồng xem nhạc kịch th́ hôm nay ông đă ra đi.

Nhạc sĩ An Thuyên có tiền sử huyết áp cao, trước đây ông từng vào viện điều trị một tuần. Sau đó, gia đ́nh xin cho ông về điều trị ngoại trú một thời gian.

BTV Bông Mai, con gái của nhạc sĩ An Thuyên quá sốc trước sự ra đi đột ngột của bố ḿnh nên không thể chia sẻ điều ǵ. Chị chỉ nói, gia đ́nh không nhận hoa, tiền phúng viếng, chỉ nhận lồng chim để phóng sinh.


Nhạc sĩ An Thuyên sinh năm 1949 tại xă Quỳnh Thắng, Quỳnh Lưu, Nghệ An. Năm 11 tuổi đă đàn hay, sáo giỏi và là người chơi các nhạc cụ dân tộc rất có duyên cho "gánh hát" của gia đ́nh. Ca khúc đầu tiên đó chính là bài hát Nối gót anh hùng, nhân dịp vài người dân quê đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Năm 1967, An Thuyên bắt đầu công tác ở Ty Văn hoá Nghệ An. Năm 1975, ông vào bộ đội. Năm 1977, ông trở thành nhạc công của Đoàn Văn công Quân khu IV. Năm 1981, ông được cử đi học ở Nhạc viện Hà Nội. Sau khi tốt nghiệp, ông về Pḥng Văn nghệ Quân đội, nay là Trường Đại học Văn hóa - Nghệ thuật Quân đội, trở thành Hiệu trưởng của trường và công tác ở đó cho đến tận lúc về hưu với quân hàm thiếu tướng.

An Thuyên sáng tác khá sung sức và đều tay. Công chúng biết và yêu mến ông với rất nhiều bài hát như: Em chọn lối này, Đêm nghe hát đ̣ đưa nhớ Bác, Hành quân lên Tây Bắc, Khi xe tăng qua miền quan họ, Thơ t́nh của núi, Chín bậc t́nh yêu, Huế thương, Neo đậu bến quê, Mẹ Việt Nam anh hùng, Ca dao em và tôi...

Tuy nhiên, An Thuyên chiếm trọn được trái tim của mọi người yêu nhạc Việt Nam là nhờ vào những bài viết nặng ḷng với quê hương như Neo đậu bến quê, Ca dao em và tôi. T́nh yêu quê hương đập rộn ràng trong các ca khúc của ông, và dường như nó cũng hóa thân vào những xúc cảm thẩm mỹ khi ông viết về những vùng quê khác, những đề tài khác.


"Tôi đă được lớn lên trong ḍng sữa âm nhạc dân gian. Nhưng điều đấy không có nghĩa là chất liệu đó sẽ vào trong sáng tác của ḿnh. Điều cốt lơi là người nhạc sĩ phải biết nâng niu, gọt giũa, kết hợp cái thuần tuư thắm đượm của âm nhạc dân gian, cái tri thức âm nhạc dân gian với tri thức âm nhạc bác học hiện đại. Có như vậy mới tạo ra được những tác phẩm tân thời hiện đại mà đậm đà chất liệu dân ca" - nhạc sĩ An Thuyên từng trải ḷng.

Ngoài sáng tác ca khúc, nhạc sĩ An Thuyên c̣n viết một số kịch hát đă được dàn dựng ở nhiều đoàn văn công như Trương Chi, Đôi đũa kim giao, Biển t́nh cay đắng, sáng tác cho khí nhạc như Concerto cho flute và dàn nhạc giao hưởng. Ông c̣n viết nhạc cho phim, nhạc cho múa và viết phần âm nhạc cho khoảng 60 vở kịch nói, tuồng, chèo...

Với những sáng tác đi vào ḷng người, nhạc sĩ An Thuyên vinh dự nhận được nhiều giải thưởng: Giải Nhất cuộc thi ca khúc toàn quốc năm 1985: Tiếng đàn balalaica trên sông Đà (phỏng thơ Quang Huy); Giải thưởng chính thức của Bộ Quốc pḥng: Hành quân lên Tây Bắc (1984), Thơ t́nh của núi (1994). Giải Nhất của Bộ Văn hoá - Thông tin và Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Khi xe tăng qua miền Quan họ (1985), Mẹ Việt Nam anh hùng (1995).


Bài hát được dạy hát trên làn sóng Đài TNVN ngày 24/8/1981

Ông đoạt nhiều giải của Hội Nhạc sĩ Việt Nam: Giải Nh́ với bài Chín bậc t́nh yêu (1992), giải Nhất với bài Bài ca người t́nh báo (2000), Giải Nhất với bài Đi t́m bóng núi (2004), giải Nh́ hợp xướng Chào Việt Nam thênh thang mùa xuân (2004). Đặc biệt, năm 2007 ông được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật với chùm tác phẩm: Em chọn lối này, Đêm nghe hát đ̣ đưa nhớ Bác, Hành quân lên Tây Bắc.

Về đời riêng, An Thuyên là ông bố hạnh phúc của hai người con cũng khá nổi tiếng là nhạc sĩ An Hiếu (hiện đang công tác tại ĐH Nghệ thuật quân đội) và ca sĩ, BTV Bông Mai (hiện đang làm việc tại Đài THVN) cùng người vợ tuyệt vời - đạo diễn, nghệ sĩ Ngô Huyền Lâm. Chính từ người vợ này mà người nhạc sĩ tài hoa đầy lăng mạn dám dũng cảm nói trước công chúng: "Cả đời tôi mê đắm phụ nữ, v́ không yêu, không bay bổng sao viết hay được?".

Chúng ta cùng nghe lại một trong những sáng tác ban đầu của An Thuyên thể hiện t́nh yêu quê hương đất nước vô hạn trong ông, bài hát Biên giới trăng lên:



Chúng tôi yêu mến các sáng tác của ông và vẫn thường xuyên nghe. Xin vĩnh biệt nhạc sĩ tài hoa.

Posted by: Nguyen Duy Hoang Jul 10 2015, 12:24 PM

Buồn quá, lâu lâu mới vào, em và các bác vừa mới đề cập đến một tác phẩm của nhạc sỹ An Thuyên trong "Bài hát hay của VOV" th́ tác giả đă đi xa rồi. Xin phân ưu chia buồn cùng gia đ́nh nhạc sỹ An Thuyên.

Nhạc sỹ với các tác phẩm ca nhạc với những giai điệu hay, đậm chất dân ca các miền, thể hiện hoạt động văn hóa tinh thần của người chiến sỹ vào những năm 1980-1990, đi vào ḷng của đại đa số công chúng nghe nhạc như báo mấy hôm nay đă nêu.

Có một góc khuất về tác phẩm của nhạc sỹ An Thuyên, chính cái góc khuất này mới thể hiện tŕnh độ, tính học thuật trong sáng tác của nhạc sỹ; thông qua hai tác phẩm mà em biết đó là aria “Mỵ Nương mong chờ” và “Dương cầm thu không em”. Nếu như một người nghe b́nh thường nghe các tác phẩm này th́ sẽ không nghĩ đó là sáng tác của nhạc sỹ, v́ phong cách của chúng khác hẳn với phần lớn các tác phẩm c̣n lại của nhạc sỹ.

Xin vĩnh việt nhạc sỹ của những câu thơ trong tác phẩm “ .... giờ ḿnh anh đêm dài... T́nh ta vừa chạm thu đă thấy mùa đông sang...”

“Dương cầm thu không em” (em post lại)



Và http://baicadicungnamthang.net/bai-hat/aria-my-nuong-mong-cho-3478.html trong baicadicungnamthang.net


Mời các bác nghe tham khảo 2 nữa bài em thấy cũng rất hay:

http://baicadicungnamthang.net/bai-hat/ha-noi-dem-173.html

http://baicadicungnamthang.net/bai-hat/di-tim-bong-nui-4768.html trong baicadicungnamthang.net

Posted by: VuHungAnh Feb 6 2016, 10:29 PM

CUỐI NĂM NH̀N LẠI


Chỉ c̣n khoảng gần 25 giờ nữa năm Ất Mùi sẽ qua, năm mới Bính Thân sẽ tới. Theo thông lệ của người Việt, năm mới là năm theo âm lịch. Bởi vậy trước thềm năm mới đang gơ cửa, tôi xin tổng quan lại những sự kiện âm nhạc đáng chú ư nhất trong năm vừa qua. Có thể có nhiều ư kiến khác nhau để làm một cái tổng kết như thế này nhưng tôi cho rằng phải đứng trên quan điểm của nhân dân và phát triển mà đưa ra ư kiến. Có như vậy mới khách quan, toàn diện và có được một chút giá trị nào đó.

1. Sự ra đi của nhiều tên tuổi đóng góp lớn cho âm nhạc Việt Nam

Năm 2015 âm nhạc Việt Nam chịu tổn thất lớn bởi sự ra đi của nhiều nhạc sĩ tên tuổi. Trong tháng 6 có ba tên tuổi lớn ra đi măi măi. Đầu tiên là GSTS Trần Văn Khê, nhà dân tộc học trong âm nhạc có đóng góp quan trọng để giới thiệu âm nhạc truyền thống Việt Nam đến với bạn bè thế giới, đă ra đi ở tuổi 95. Cuối tháng 6, nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu, giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đă ra đi ở tuổi 91. Hàng triệu người yêu âm nhạc cả nước không thể nào quên những tác phẩm để đời của ông như Đoàn vệ quốc quân, T́nh trong lá thiếp, Những ánh sao đêm, Bóng cây Kơnia, Anh ở đầu sông em cuối sông, Sợi nhớ sợi thương, Ở hai đầu nỗi nhớ, Đêm nay anh ở đâu, Thuyền và biển, Kư họa mùa xuân, Thơ t́nh cuối mùa thu…

Ngay sau đó là sự ra đi của nhạc sĩ Phan Nhân vào cùng ngày, ở tuổi 85. Nhạc sĩ tài hoa đă để lại những sáng tác lay động ḷng người như Hà Nội – niềm tin và hy vọng, Em ở nơi đâu, T́nh ca đất nước, Cây đàn ghi-ta Victor Hara, Nhớ về Pắc Bó…

Trước đó, trong tháng 5, nhạc sĩ của tuổi thơ Hàn Ngọc Bích đă ra đi ở tuổi 75 và nhà phê b́nh nhạc Hồ Quang B́nh ra đi ở tuổi 79.

Tháng 11 người yêu nhạc lại đau xót nhận được hung tin từ Pháp: nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo đă ra đi ở tuổi 75. Nguyễn Thiện Đạo từng được ghi tên vào "Từ điển danh nhân thế giới" Le Petit Larousse vào 1982, Le Petit Robert năm 1995 và giành nhiều danh hiệu cao quư của cả hai nước Việt, Pháp. Ông hoạt động trong lĩnh vực nhạc đương đại đồng thời nghiên cứu âm nhạc cổ truyền Việt Nam. Ông đă viết hơn 80 tác phẩm độc tấu, giao hưởng, opera... và được biểu diễn trên toàn thế giới. Âm nhạc của ông ca ngợi con người chân chính, đấu tranh cho lư tưởng sống cao đẹp để hướng tới một xă hội công bằng, một cuộc sống ḥa b́nh có ư nghĩa. Một số tác phẩm tiêu biểu của ông gồm hoà tấu B́nh Minh cho 6 nhạc cụ dây, Tuyến Lửa, nhạc phim Đế chế lụi tàn, opera Mỵ Châu Trọng Thuỷ, thanh xướng kịch Hồn non nước, giao hưởng Phù Đổng, nhạc phim Chuyện của Pao, giao hưởng Sóng Nhất Nguyên...

Vào những ngày cuối cùng của năm dương lịch chúng ta lại đau đớn nhận được tin NSUT Thúy Lan, một trong những giọng hát nổi tiếng của Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam đă ra đi ở tuổi 61, độ tuổi c̣n khá trẻ. Giọng hát của chị thành công cả khi hát đơn ca hoặc lĩnh xướng trong dàn đồng ca qua các bài hát như Chiều biên giới (Trần Chung, Ḷ Ngân Sủn), Đất nước t́nh yêu (Lệ Giang), Gửi đảo Trường Sa (Thế Công), Đất Hồng Lam thân yêu của tôi (Thái Quư), Mùa xuân vẫy gọi (Cát Vận), Biên giới trăng lên (An Thuyên)... Vào lúc mùa xuân mới đang bên thềm nhà như thế này chúng ta không thể nào không nhắc tới một trong những bài hát chị đă thể hiện rất thành công từ 30 năm trước và luôn được phát sóng mỗi độ xuân về, đặc biệt là vào lúc giao thừa, bài Mùa xuân về (Nguyễn Đ́nh Bảng):



2. Nhiều nghệ sĩ được phong danh hiệu NSND và NSNT:

Chúng ta thực ḷng vui sướng và chúc mừng các nghệ sĩ cao niên Văn Hanh và Phan Huấn được phong danh hiệu NSUT. Đây là sự công nhận của nhà nước đối với sự đóng góp trong lĩnh vực biểu diễn của hai ông từ nhiều năm về trước mặc dù cả hai ông đă không hát nữa từ ít nhất 20-30 năm qua. Điều này đồng thời cũng gián tiếp công nhận rằng việc xét duyệt và phong danh hiệu cho các nghệ sĩ c̣n hàm chứa nhiều sai sót, thậm chí là những sai sót rất lớn. Hơn bất cứ ai, diễn đàn nhạc cách mạng đă biết rơ điều này từ lâu và đă không ít lần chỉ ra những sai sót đó. Thậm chí hai lăo nghệ sĩ vừa được phong chắc chắn chưa phải là những ca sĩ cuối cùng mà nhà nước cần phải đánh giá cho đúng, một cách công bằng. C̣n nhiều ca sĩ khác cần phải được nhận danh hiệu đúng với tài năng của họ, thậm chí là phải từ lâu rồi mới đúng. Đó là Mỹ B́nh và Tuyết Nhung vẫn chưa có danh hiệu nào. Là Kim Oanh (A), Kiều Hưng, Tuyết Thanh và Bích Liên cần phải được trao tặng NSND. Đó chỉ là vài trường hợp quá bất công mà tôi buộc phải chỉ thẳng, gọi đích danh ra. Thế c̣n với chính các nghệ sĩ kể trên th́ khi hỏi chuyện, họ đều không c̣n quan tâm về việc đó nữa rồi. Hỡi ôi, chính những nghệ sĩ tài năng đă tạo ra những giá trị nhân văn cao cả lại chưa được đối xử một cách nhân văn. Thật là một thất bại lớn cho đường lối và chính sách về văn nghệ.

Song song với những nghệ sĩ xứng đáng được nhận danh hiệu cao quư th́ cũng xuất hiện một xu hướng “quần chúng hóa” danh hiệu nghệ sĩ, đặc biệt là với danh hiệu NSND. Điều này khiến người am tường t́nh h́nh văn nghệ nước nhà lắc đầu ngán ngẩm. Không hiểu là rồi đây mọi nghệ sĩ sẽ nhận danh hiệu NSND hết hay sao?


Ca sĩ Thái Bảo nhận danh hiệu NSND trong khi chị không có thành tựu nào nổi trội



Giám đốc NHCMNVN Quang Vinh nhận danh hiệu NSND có lẽ là cho công tác tổ chức biểu diễn?


Cũng chính v́ những bất cập như đă nói ở trên và việc phải viết đơn xin danh hiệu mà có những nghệ sĩ rất xứng đáng nhưng sẽ không bao giờ được trao tặng danh hiệu do đă thề sẽ không bao giờ viết đơn xin xỏ. C̣n quá nhiều điều chưa thể nói hết chỉ qua vài ḍng tổng kết ngắn gọn này...

3. Nhiều chương tŕnh âm nhạc nở rộ nhưng chất lượng nghệ thuật đi xuống:

Có lẽ về điều này th́ không c̣n phải bàn căi ǵ nữa. Chưa bao giờ các chương tŕnh ca nhạc, thi hát, t́m kiếm tài năng âm nhạc, liveshows nở rộ như bây giờ nhưng những cái đó chỉ nên coi như giải trí mà thôi chứ c̣n chất lượng nghệ thuật th́… không có ǵ đáng nói. Nói điều này th́ dường như các nhạc sĩ trẻ đương đại không vui lắm nhưng quả thật âm nhạc đang ở dưới đáy trong tiến tŕnh phát triển của nó mà chưa thể lên ngay được v́ chưa hội tụ được đầy đủ những yếu tố cần thiết cho một chu kỳ đi lên mới.

Muốn âm nhạc đi lên, khởi phát phải là công nhận cho đúng người đặt cho đúng việc, đánh giá đúng những ai xứng đáng là NSND, c̣n ai chỉ măi măi là NSUT. Và không thể thiếu được một nhà chuyên môn đủ tâm và tầm ở vị trí cầm cân nảy mực…

4. Trong việc đào tạo, sáng tác và biểu diễn vẫn loay hoay chưa có đường ra

Thời đại đă sang trang mới đ̣i hỏi nghệ thuật cũng phải chuyển ḿnh th́ mới theo kịp cuộc sống. Tuy vậy, công tác đào tạo chưa có được những người thầy đủ tầm để đào tạo ra những lứa học tṛ tài năng có thể sánh ngang với lớp nghệ sĩ đi trước. Sự ngộ nhận về chân giá trị vẫn đang là điều thường trực trong tâm thức những nghệ sĩ trẻ và sắp không c̣n trẻ hiện nay.

Trong sáng tác lại càng loay hoay hơn. Hầu hết các nhạc sĩ đang viết nhạc đương đại vẫn loay hoay t́m đường đi cho riêng ḿnh nhưng măi vẫn không định h́nh được phong cách. Hoặc là rơi vào sự hời hợt, viết rất nhiều nhưng chả để lại bao nhiêu. Một trào lưu đáng lo ngại nữa là sao chép, lai căng nhạc ngoại mà không phân biệt được chỗ nào là nên, chỗ nào không nên. Chung quy lại, vẫn là công tác đào tạo và tự đào tạo không đến nơi đến chốn. Chỉ có một số rất ít nhạc sĩ viết nhạc có phong cách rơ ràng, có ư tưởng và giá trị nghệ thuật nhất định. Nhưng số này c̣n quá ít ỏi đến mức đáng thất vọng. Một đại diện xuất sắc của số ít ấy là nhạc sĩ Trần Mạnh Hùng.

Mảng biểu diễn th́ lại càng nhốn nháo hơn bao giờ hết. Những chân giá trị và sự sao chép, lai căng, phi âm nhạc lẫn lộn v́ bị đánh lộn ṣng với nhau khiến cho người nghe không thể phân biệt được thật giả. Chức năng giáo dục thẩm mỹ của âm nhạc đă bị tê liệt. Âm nhạc biến thành