IPB

Chào mừng khách viếng thăm diễn đàn ( Đăng nhập | Đăng ký thành viên )

Loading

Nội quy diễn đàn

 
Reply to this topicStart new topic
> Nhà thơ Việt Nam, Thảo luận, suy nghĩ cảm nhận và b́nh lu&#
post Jan 12 2008, 07:14 PM
Post #1



Cấp 2
**

Group: Members
Posts: 217
Thank(s): 15
Joined: 15-12-07
Member No.: 581



chào các bạn!
Khi viết thơ, ta không thể nào quên được các nhà thơ, các tác giả.
Bởi vậy, Duyên lập ra topic này để chúng ta có thể biết về tiểu sử cũng như tác phẩm của những nhà thơ ḿnh ưa thích
Note: Topic này sẽ gắn với topic"Thơ Cách Mạng"(Nghĩa là bên kia có thơ ǵ th́ bên này có tác giả đó và ngược lại)_
Hôm nay là ngày đầu tiên
NGUYỄN Đ̀NH CHIỂU(Bài Chạy Giặc)

Nhân cách của Nguyễn Đ́nh Chiểu là một minh chứng sống động về tính năng động của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngă, nhưng sự nghiệp của con người ấy không v́ thế mà buông xuôi theo số phận. Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đ́nh Chiểu. Trên cương vị của một nhà thơ, cái sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đ́nh Chiểu chính là chỗ chê khen, biểu dương và phê phán, thương ghét rơ ràng, chánh tà minh bạch, hợp đạo lư, thuận t́nh người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam.

NGUYỄN Đ̀NH CHIỂU, một con người tiêu biểu cho nhân cách Việt Nam trong thời kỳ đất nước đầy biến cố, đau thương, nhưng vô cùng vĩ đại. Đất nước bị ngoại xâm, nỗi nhà tai biến, nỗi ḿnh bi thương, bao nhiêu nghiệt ngă của cuộc đời trút lên vai một người mù ḷa, sự nghiệp công danh nửa đường dang dở.Sự thách thức nghiệt ngă ấy đặt ra cho Nguyễn Đ́nh Chiểu thái độ phải lựa chọn lối sống và cách sống như thế nào cho thích hợp với vai tṛ người trí thức trước thời cuộc “quốc gia lâm nguy that phu hữu trách”, và ông đă chọn con đường sống, chiến đấu, bằng ng̣i bút “chí công” với cái tâm “đă v́ nước phải đứng về một phía”.

Nh́n từ góc độ văn hóa, Nguyễn Đ́nh Chiểu là một con người Việt Nam trọng đạo lư, nặng t́nh người, đậm đà bản sắc dân tộc, yêu ghét rơ ràng, khen chê dứt khoát. V́ người, cụ sẵn sàng hy sinh xả thân không màng danh lợi. V́ đời,cụ chấp nhận mọi thử thách trước khó nghèo, khổ cực, không hám lợi, không sợ uy vũ, không khuất phục cường quyền.

Với tất cả vai tṛ xă hội và sứ mạng của con người mà Nguyễn Đ́nh Chiểu phải gánh vác: Nhà thơ, nhà giáo, thầy thuốc, người công dân, chiến sĩ yêu nước... cho đến cuối đời cụ vẫn kiên cường vượt qua số phận, hoàn thành xuất sắc thiên chức của ḿnh, để lại cho đời sau một tấm gương về cách sống trong sáng đến tuyệt vời:

“Sự đời thà khuất đôi tṛng thịt
Ḷng đạo xin tṛn một tấm gương”

Con người là sản phẩm của hoàn cảnh, nhưng nhân cách của con người không chỉ là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh.Ngày xưa cụ Nguyễn Du từng cho rằng: “Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều”.

Nhân cách của Nguyễn Đ́nh Chiểu là một minh chứng sống động về tính năng động của con người. Cuộc đời dù nghiệt ngă, nhưng sự nghiệp của con người ấy không v́ thế mà buông xuôi theo số phận.Vượt qua số phận để đứng vững trước sóng gió của cuộc đời, chính là thái độ sống có văn hóa, là nhân cách cao đẹp của Nguyễn Đ́nh Chiểu.

Trên cương vị của một nhà thơ, cái sâu sắc, thâm thúy trong thơ văn của Nguyễn Đ́nh Chiểu chính là chỗ chê khen,biểu dương và phê phán, thương ghét rơ ràng, chánh tà minh bạch, hợp đạo lư, thuận t́nh người, theo đúng chuẩn mực văn hóa Việt Nam, Nhà thơ mù ḷa ấy là một trong những người đầu tiên đưa ra thông điệp tố cáo hành động phản văn hóa, mất tính người của bọn thực dân xâm lược. Về tội ác hủy diệt cuộc sống yên lành của nhân dân, ông viết:

“Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy
Mất ổ bầy chim nháo nhác bay”.

Với tội ác xâm lược phản văn hóa ngang nhiên đoạt tài sản và hủy hoại một cách dă man những di sản văn hóa của nhân dân ta:

“Bến Nghé của tiền tan bọt nước
Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây”.

Của tiền là sự tích góp của một đời người lao động sáng tạo vô cùng vất vả.

Tranh ngói là cả một dinh cơ sự nghiệp, nhà cửa, đền, miếu, đ́nh, chùa phải mấy trăm năm với bàn tay và khối óc của nhiều người mới dựng nên cơ nghiệp lớn lao ấy.


Trong hoàn cảnh đất nước lâm nguy, một bọn người mang danh kẻ sĩ đă hèn nhát đầu hàng kẻ thù, phản bội đất nước. Nguyễn Đ́nh Chiểu là người sớm biểu lộ thái độ khinh miệt bọn đê hèn và phản văn hóa ấy:

“Dù đui mà giữ đạo nhà
C̣n hơn có mắt ông cha không thờ.
Dù đui mà khỏi danh nhơ
C̣n hơn có mắt ăn dơ tanh ŕnh”.

Với quan điểm xem ng̣i bút là vũ khí chiến đấu “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”,Nguyễn Đ́nh Chiểu đă trực tiếp đả kích bọn Việt gian khoác áo văn chương như loại Tôn Thọ Tường thường mượn màu chữ nghĩa làm đảo lộn trắng đen. Cụ viết:

“Thây nay cũng nhóm văn chương
Vóc dê da cọp khôn lường thực hư”.

Các tác phẩm văn học của Nguyễn Đ́nh Chiểu có sức sống bền vững trong t́nh cảm nhân dân. Lư tưởng thẩm mỹ trong các nhân vật anh hùng đă nêu bật một lối sống có văn hóa và khí phách anh hùng đặc trưng bản sắc Việt Nam. Đó là lối sống trọng đạo lư và công bằng xă hội, trọng con người và căm ghét áp bức bất công. Cái “hào khí Đồng Nai” ấy được thể hiện qua hành động của các nhân vật trong truyện thơ Lục Vân Tiên, trong các nghĩa sĩ Cần Giuộc và nghĩa sĩ lục tỉnh thời Nam Kỳ kháng Pháp đến nay vẫn c̣n được tiếp nối và phát huy trong đời sống văn hóa của nhân dân ta ở miền Nam. Trong một thời gian khá dài từ đầu thế kỷ XX đến nay, truyện thơ Lục Vân Tiên đă là nội dung diễn xướng dân gian với các loại h́nh như nói thơ, ḥ, vè, ca ra bộ trong sinh hoạt văn hóa quần chúng và chính đề tài Lục Vân Tiên - Kiều Nguyệt Nga sớm thể hiện trên sân khấu ca kịch cải lương khi bộ môn nầy vừa mới ra đời trên kịch trường Nam bộ. Gần nay đề tài nầy đă và đang được dựng lên thành nhạc kịch hiện đại, dựng thành phim truyện v.v... Hơn một thế kỷ qua, hiếm thấy nhà văn nào mà tác phẩm có tính phổ cập sâu rộng và có sức sống lâu bền trong đời sống văn hóa của nhân dân như vậy.

Trên lĩnh vực giáo dục, là một nhà giáo, trọn đời thầy Đồ Chiểu chăm lo dạy dỗ môn sinh, truyền thụ cho thế hệ tương lai những điều cốt lơi của văn hóa Việt Nam về đạo lư truyền thống của dân tộc và nhân cách của một kẻ sĩ. Hào khí Đồng Nai, một nét đẹp văn hóa của con người Nam bộ được nuôi dưỡng và phát huy chính là nhờ sự nghiệp giáo dục của biết bao thế hệ người thầy đầy tâm huyết mà được truyền thụ đến ngày nay, trong đó nhà thơ - nhà giáo Nguyễn Đ́nh Chiểu là một trong những người có công lớn. Chúng ta đều biết Nguyễn Đ́nh Chiểu là học tṛ đời thứ hai của nhà giáo Vơ Trường Toản ở Gia Định, một ông thầy nổi tiếng về phương pháp giáo dục tri ngôn, dưỡng khí, tập nghĩa, một nhà trí thức sớm nổi tiếng ở đất Đồng Nai - Gia Định, không màng danh lợi, suốt đời chăm lo đào tạo thế hệ moan sinh có chí, có tài, biết lấy “thảo ngay làm nghĩa cả”.

Vơ Trường Toản là thầy học của Nghè Chiêu.
Nghè Chiêu là thầy dạy Nguyễn Đ́nh Chiểu.

Từ ḷ đào tạo Ḥa Hưng của Vơ Trường Toản mà thế hệ các nhà văn thơ trước đó và cùng thời với Nguyễn Đ́nh Chiểu dù vận nước đến thế nào cũng tràn đầy “hơi chính khí”. Kẻ sĩ Gia Định chính là sản phẩm của phong cách rèn luyện của một ông thầy giỏi, giỏi đến mức dạy nên những người học tṛ nổi tiếng hơn ḿnh.

Thầy Đồ Chiểu dạy học tṛ theo phong cách ấy.

Nhiều thế hệ môn sinh của Đồ Chiểu tiếp thu sự giáo dục của thầy nuôi dưỡng ư chí, rèn luyện tinh thần để sẵn sàng trở thành “trang dẹp loạn” mà sinh thời cụ Đồ Chiểu hằng mong ước. Từ Nhiêu Đẩu, Nhiêu Gương ở Mỏ Cày cuối thế kỷ XIX đến các trí thức Nho học Lê Văn Đẩu, Trần Văn An, Huỳnh Khắc Mẫn ở Ba Tri nửa đầu thế kỷ XX đều là những thế hệ môn sinh đầy nhiệt huyết mang đậm dấu ấn giáo dục của thầy giáo Nguyễn Đ́nh Chiểu.

Nhân cách của nhà giáo Nguyễn Đ́nh Chiểu có ảnh hưởng rất lớn đối với vùng đất Bến Tre và xa hơn nữa. Đất anh hùng từng sản sinh ra nhiều nhân vật anh hùng trong sự nghiệp chống giặc cứu nước. Ngày nay nói đất Bến Tre là quê hương của cụ Đồ Chiểu chính là nói đến truyền thống văn hóa Việt Nam mà Nguyễn Đ́nh Chiểu là một con người tiêu biểu và là người có công bảo vệ và truyền lại cho các thế hệ sau nầy những ǵ tốt đẹp nhất của truyền thống văn hóa ấy.

Nguyễn Đ́nh Chiểu c̣n là một thầy thuốc giỏi, một lương y thông hiểu sâu sắc y lư phương Đông và y lư Việt Nam cả về y thuật và y đức mà y đức của cụ chính là đạo cứu người lồng trong nghĩa vụ cứu dân cứu nước. Tác phẩm lớn cuối đời của Nguyễn Đ́nh Chiểu là quyển “Ngư Tiều y thuật vấn đáp”, một quyển sách dạy đạo làm người và đạo làm thầy thuốc cứu người. Yêu nước và yêu thương con người chính là tư tưởng chủ đề của tác phẩm:

“Xưa rằng quốc thử lời khen phải
Giúp sống dân ta trọn lẽ trời”

Giáo sư Lê Trí Viễn viết trong lời tựa quyển “Ngư tiều y thuật vấn đáp” lần xuất bản năm 1982: “Y thuật ấy là kết tinh nghề thuốc trong hằng trăm bộ sách của mấy mươi thế kỷ. Yêu nước ấy có chiều sâu cá nhân một đời người và chiều sâu lịch sử dân tộc hằng mấy ngàn năm. Nhưng cả hai đều đúc lại thành một thang thuốc hồi sinh, một đạo lư sống, một con đường phù hợp cho những con người yêu nước b́nh thường trong t́nh h́nh quê hương rơi vào tay giặc: giữ vững khí tiết không phục vụ quân thù, làm một công việc vừa có ư nghĩa vừa giúp dân, vừa giúp nước...”.

Đối với lương y Nguyễn Đ́nh Chiểu, y đạo tức là nhân đạo, mà chủ nghĩa nhân đạo của cụ là chủ nghĩa nhân đạo nhân dân rất gần gũi với chủ nghĩa nhân đạo cộng sản:

“Thấy người đau giống ḿnh đau
Phương nào cứu đặng, mau mau trị lành.
Đứa ăn mày cũng trời sanh
Bịnh c̣n cứu đặng thuốc dành cho không”.

Cảm ơn đức của cụ, khi cụ Đồ Chiểu mất, nhiều bịnh nhân được cụ cứu khỏi bịnh ngặt nghèo đến xin để tang cụ như con cháu trong nhà.

Kỳ Nhân Sư một h́nh tượng lư tưởng trong tác phẩm “Ngư Tiều y thuật vấn đáp” của Nguyễn Đ́nh Chiểu đă tự xông đui đôi mắt của ḿnh cho tṛn y đạo và nhân đạo để không phải đem nghề y ra phục vụ cho kẻ thù của Tổ quốc và nhân dân. Nhân cách cao thượng ấy của Nguyễn Đ́nh Chiểu c̣n để lại dấu ấn sâu sắc trong các thế hệ lương y sau nầy. Người thầy thuốc chân chính trong nhân dân làm nghề thuốc c̣n v́ mục đích từ thiện chớ không phải chỉ có kinh doanh trên sự đau khổ của đồng bào.

Nguyễn Đ́nh Chiểu làm thơ để biểu lộ ḷng yêu nước, thương dân và lấy đó làm vũ khí chống giặc; làm ông Đồ dạy học không biết mệt mỏi v́ sự nghiệp nuôi dưỡng “hào khí Đồng Nai” giữ ǵn bản sắc Việt Nam trong đời sống văn hóa của nhân dân giữa thời loạn ly; làm thầy thuốc v́ đạo cứu người chứ không chỉ v́ nghề để vụ lợi. Đó là lối sống có văn hóa, biết tự hào dân tộc, biết tự trọng của một người trí thức chân chính, biết trân trọng phẩm giá của con người, giữ đúng tiết tháo của một kẻ sĩ.

Bằng cuộc đời và sự nghiệp của ḿnh, Nguyễn Đ́nh Chiểu đă góp phần xứng đáng cho đời sống văn hóa dân tộc trải qua thử thách nghiệt ngă được bảo tồn và phát triển. Sống trong t́nh thương và sự kính trọng của nhân dân, những người làm nên lịch sử và sáng tạo văn hóa, Nguyễn Đ́nh Chiểu măi măi là một nhân cách lớn, một nhà văn hóa chân chính của nhân dân.



--------------------
Việt Nam!
Người là ta, mà ta chưa bao giờ hiểu hết
Người là ai? Mà sức mạnh thần ḱ
Giữa cái chết, không phút nào chịu chết
Lửa quanh ḿnh, một tấc cũng không đi
Tố Hữu
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Feb 14 2008, 09:07 PM
Post #2



Cấp 2
**

Group: Members
Posts: 227
Thank(s): 28
Joined: 04-06-07
From: Hanoi
Member No.: 20



Nhà thơ Huy Cận

Huy Cận sinh ra và gắn bó tuổi thơ với vùng quê Ân Phú, cạnh ḍng sông La, nằm ở chân núi Mồng Gà, cảnh núi sông đẹp nhưng vắng vẻ hiu hắt. Huy Cận đă từng tâm sự:

"Tôi sinh ra ở miền sơn cước
Có núi làm xương cốt tháng ngày
Đất băi tơi làm ra thịt mát
Gió sông như những mảng hồn bay…"

(Tôi nằm nghe đất)

Tuy sống ở quê hương Ân Phú chưa đến 10 năm, nhưng vẻ đẹp buồn bă của thiên nhiên đất nước nơi đây đă góp phần quan trọng tạo nên một hồn thơ độc đáo. Từ giă quê nhà từ thuở hoa niên, Huy Cận được người cậu đưa vào Huế học hết tú tài. Nơi xứ sở đẹp và thơ mộng này, cái duyên đời và duyên thơ của Huy Cận đă bén cùng Xuân Diệu để tạo nên một "trái đôi" hiếm thấy giữa đời. Cuộc tao phùng Huy - Xuân là sự gặp gỡ của hai tâm hồn "đồng thanh tương ứng". Ngay từ buổi tựu trường năm 1936, vừa gặp lần đầu mà hai người cảm thấy gần gũi thân thiết ("gặp hôm nay nhưng hẹn đă ngàn xưa") và đôi bạn tri âm tri kỷ này đă gắn bó với nhau hơn nửa thế kỷ trên dương thế. Năm 1937, Xuân Diệu ra Hà Nội học Cao đẳng Luật và viết báo "Ngày nay". Tết Mậu Dần (1938) bài thơ "Chiều xưa" của Huy Cận và bài "Cảm xúc" của Xuân Diệu cùng được đăng trên báo "Ngày nay". Tháng 10.1939, Huy Cận ra Hà Nội học Cao đẳng Nông Lâm và hai người cùng sống với nhau ở căn gác nhà số 40, Hàng Than. Hai người vừa học tập vừa say mê sáng tác văn chương và trở thành những nhà thơ hàng đầu của phong trào Thơ mới. Năm 1940, "Lửa thiêng", tập thơ đầu tay của Huy Cận, với lời Tựa của Xuân Diệu, ra mắt bạn đọc tạo được tiếng vang lớn trên thi đàn. Có thể nói đây là tập thơ hay toàn bích, nhuần nhị, đằm thắm, hài hoà Đông - Tây, kim - cổ, kết tinh nhiều giá trị văn hoá truyền thống, là tập thơ hay nhất của Thơ mới.

"Lửa thiêng" man mác, dằng dặc nỗi buồn. Trong lịch sử thơ ca dân tộc có nhiều tác phẩm thể hiện nỗi buồn nhưng không có tập thơ nào nỗi buồn được nói lên một cách đa dạng, lắm cung bậc và nhiều sắc thái như "Lửa thiêng" của Huy Cận. Lúc nghe ḷng ḿnh hay ngắm nh́n ngoại cảnh, nhà thơ đều dễ gặp nỗi buồn. Nỗi buồn tưởng như vô cớ, như nghiệp dĩ nhưng thực chất có cuội nguồn từ đặc điểm tâm hồn thi nhân và đời sống xă hội. Nỗi buồn của Huy Cận thời "Lửa thiêng" là nỗi buồn nhân thế, nỗi buồn của người dân mất nước ư thức sâu sắc về cảnh ngộ non sông và thân phận con người. Nhà thơ buồn v́ kiếp người nô lệ đau khổ và khao khát biết bao cuộc sống tự do, hạnh phúc. T́nh cảm yêu đời, yêu người, yêu nước tha thiết của thi nhân trong xă hội cũ đă biểu hiện một phần trong nỗi đau đời quằn quại. Yêu đời và đau đời như là âm bản và dương bản trong tâm hồn Huy Cận. "Lửa thiêng" không chỉ có nỗi buồn mà c̣n có những niềm vui. Trong tâm hồn Huy Cận có một mảng rất hồn nhiên, tươi trẻ thường hướng về những ǵ non tơ, trong trắng, thơ mộng. Nhờ thế mà nhà thơ có rất nhiều bài thơ hay về tuổi thiếu niên, tuổi áo trắng học tṛ. Những bài thơ "Tựu trường", "Học sinh", "Áo trắng" măi măi là bạn tâm giao của nhiều thế hệ học sinh, sinh viên và tất cả những ai c̣n giữ được "trái tim run run trăm t́nh cảm rụt rè". Thơ Huy Cận rất nhiều không gian. Tâm hồn nhà thơ lúc nào cũng hướng tới sông dài trời rộng để thoát khỏi không gian chật chội tù túng của xă hội đương thời và cũng để trở về cuội nguồn thiên nhiên, cuội nguồn dân tộc. Thơ đối với Huy Cận là phương tiện màu nhiệm để giao hoà, giao cảm với đất trời, với ḷng người, là chiếc vơng tâm t́nh giữa tâm hồn ḿnh với bao tâm hồn khác. Nhưng trong cuộc đời cũ, nhà thơ khó t́m được niềm đồng cảm nên dễ rơi vào tâm trạng cô đơn. Sau năm 1940, thơ Huy Cận càng có khuynh hướng siêu thoát vào vũ trụ vời xa. Đó là cuộc hành tŕnh của một tâm hồn chối bỏ thực tại để t́m đến miền thanh cao, trong sạch. Khi đang bế tắc về tinh thần th́ may mắn thay, năm 1942, Huy Cận đă gặp ánh sáng cách mạng soi đường. Yêu thơ và say mê lư tưởng cách mạng, Huy Cận đă trở thành một trong những người hoạt động sôi nổi trong phong trào học sinh, sinh viên.

Tháng 7.1945, Huy Cận tham dự Quốc dân Đại hội ở Tân Trào và được bầu vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng toàn quốc. Khi Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà được thành lập, Huy Cận được vinh dự đảm nhận trọng trách Bộ trưởng Bộ Canh nông, kiêm Thanh tra đặc biệt của Chính phủ. Ban Thanh tra đặc biệt của Chính phủ hồi ấy chỉ có hai người: cụ Bùi Bằng Đoàn (nguyên Thượng thư Bộ H́nh của triều đ́nh Huế) và Cù Huy Cận. Nhiệm vụ chủ yếu của Thanh tra đặc biệt là chấn chỉnh kịp thời những biểu hiện tiêu cực trong đội ngũ cán bộ nhằm đề cao kỷ cương phép nước, tạo dựng niềm tin của nhân dân đối với chính quyền cách mạng. Đoàn Thanh tra đă đến nhiều địa phương nắm bắt t́nh h́nh, xử lư kiên quyết và khôn khéo những cán bộ mắc khuyết điểm, sai lầm. Những việc làm của Thanh tra đă được nhân dân nhiệt t́nh ủng hộ v́ họ thấy Chính phủ Cụ Hồ luôn bênh vực bảo vệ dân. Tháng 3.1946, trước những diễn biến phức tạp của t́nh h́nh chính trị, Đảng ta chủ trương thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến với sự tham gia của nhiều lực lượng khác nhau. Một hôm, Bác Hồ cho gọi Huy Cận đến và bảo: "Từ mai chú thôi làm Bộ trưởng nhé!". Huy Cận đáp: "Thưa Cụ! Cụ và cách mạng bảo làm ǵ th́ con xin làm nấy". Sau đó, Bác thân mật giao nhiệm vụ: "Chú vẫn công tác ở Bộ Canh nông, chỉ không làm Bộ trưởng nữa, nhưng mọi việc chú vẫn làm hết. Chỉ nhớ khi nào cần kư th́ chú đưa cho ông Bồ Xuân Luật kư. Ông ấy được mời làm Bộ trưởng thay cho chú". Từ đó, suốt bốn thập kỷ, Huy Cận sẵn sàng thực hiện bất kỳ nhiệm vụ ǵ do Cách mạng giao phó, trong đó có nhiều việc "xa lạ" với một nhà thơ: Thứ trưởng Bộ Canh nông, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, Thứ trưởng Bộ Kinh tế, Thứ trưởng Tổng thư kư Hội đồng Chính phủ, Thứ trưởng Bộ Văn hoá, Bộ trưởng đặc trách công tác văn hoá - nghệ thuật tại Văn pḥng Hội đồng Bộ trưởng, kiêm Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam.

Ngoài những hoạt động chính trị, kinh tế, văn hoá trong nước, Huy Cận c̣n là nhà hoạt động quốc tế năng động, có nhiều đóng góp tích cực trên lĩnh vực văn hoá nghệ thuật. Ông là đồng Chủ tịch Đại hội nhà văn Á - Phi họp ở Ai Cập (2.1962), đồng Chủ tịch Đại hội văn hoá thế giới họp ở Cu Ba (1.1968), là Uỷ viên Hội đồng UNESCO (1978 - 1983), là Phó chủ tịch Tổ chức Hợp tác Văn hoá - Kỹ thuật của 49 nước (ACCT) (1981 - 1987), là Uỷ viên Hội đồng cao cấp tiếng Pháp (1985 - 2005). Trong những lần chủ tŕ hoặc tham gia các hội nghị quốc tế, Huy Cận đă thể hiện được bản lĩnh vững vàng của nhà hoạt động chính trị và kiến thức uyên bác của nhà hoạt động văn hoá tài ba. Ông được nhiều nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị quư mến kính trọng. Trên dưới 50 lần làm việc, công tác tại nhiều nước trên thế giới, Huy Cận đă góp phần đưa văn hoá Việt Nam đến với bè bạn năm châu và trân trọng đón nhận tinh hoa văn hoá của nhân loại để làm phong phú thêm văn hoá dân tộc. Ông am hiểu nhiều nền văn minh, văn hoá và tiếp nhận nhiều nguồn ảnh hưởng nhưng cái gốc tâm hồn, cái gốc hồn thơ Huy Cận là ngọn nguồn văn hoá dân tộc Việt Nam.

Là cán bộ cao cấp của Chính phủ, phải dành nhiều tâm sức cho công tác quản lư nhưng Huy Cận vẫn say mê, bền bỉ sáng tạo thơ ca. Sự nghiệp chính trị của Huy Cận thật đáng trân trọng, trước sau nhất quán, Huy Cận vẫn là một nhà thơ. Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Huy Cận có thêm gần hai chục tập thơ, trong đó có nhiều bài thơ hay, đạt tầm cao dân tộc và thời đại. Tiếp nối mạch thơ t́nh đời, t́nh người sâu nặng từ thời "Lửa thiêng", thơ Huy Cận sau Cách mạng tháng Tám có sự thay đổi cơ bản về cách nh́n nhận con người và cuộc đời. Nếu trước đây nhà thơ nh́n con người trong vũ trụ, con người giữa thiên nhiên th́ giờ đây ông nh́n con người giữa cuộc đời, con người gắn bó trong các mối quan hệ xă hội hoà hợp tin yêu. Thơ Huy Cận vừa giàu cảm xúc tươi mới của cuộc đời vừa mang đậm nội dung triết lư về sự sống bất diệt, về t́nh yêu đất nước, về sức mạnh nhân dân và vẻ đẹp tâm hồn dân tộc Việt Nam.

Huy Cận tha thiết gắn bó với thiên nhiên đất nước Việt Nam, tâm hồn ông vươn lên những khoảng rộng xa vũ trụ nhưng tấm ḷng nặng trĩu với đời. Hành tŕnh thơ ca của Huy Cận đi từ "Trời mỗi ngày lại sáng" đến "Đất nở hoa", từ "Bài thơ cuộc đời" đến "Ngôi nhà giữa nắng", rồi từ "Hạt lại gieo" đến "Ta về với biển", lúc nào tâm hồn ông cũng chịu sức hấp dẫn của hai cực: vũ trụ và cuộc đời. Sức hấp dẫn ấy đă góp phần tạo nên một cá tính nghệ thuật độc đáo của Huy Cận trong vườn thơ dân tộc.

Thơ Huy Cận kết hợp hài hoà giữa hai nền văn hoá Đông - Tây, vừa có sức sống mạnh mẽ của truyền thống vừa mang hơi thở của thời đại. Ông tiếp nhận ảnh hưởng văn hoá phương Tây từ những ngày học ở Huế và qua sách báo đương thời nhưng cái gốc sâu xa làm nên gương mặt thơ Huy Cận là tiếng thơ dân tộc. Huy Cận yêu thiết tha tiếng nói dân tộc và luôn luôn có ư thức về nguồn mạch thơ ca mà ḿnh tận hưởng.

T́nh yêu đất nước, t́nh yêu thiên nhiên, t́nh yêu văn hoá dân tộc đă nâng cánh thơ ông và nhờ thế ông gặp gỡ vẻ đẹp nhân bản của thơ ca nhân loại. Khi thơ ông đạt tầm cao dân tộc cũng là khi những thi phẩm ấy trở thành tài sản nhân loại. Vinh dự thay ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Thơ thế giới. Danh hiệu cao quư ấy không chỉ minh chứng cho một tài năng văn chương cái thế mà điều quan trọng hơn là vẻ đẹp thơ ca dân tộc Việt Nam được nhân loại thừa nhận và tôn vinh.

Huy Cận là nhà thơ lớn của dân tộc, là cán bộ cao cấp của Chính phủ và cũng là con người của đời thường b́nh dị. Ở Huy Cận có sự thống nhất hài hoà của nhiều phẩm chất, năng lực như là đối cực. Ông có tầm nh́n chiến lược và tính cẩn trọng của một nhà lănh đạo nhưng cũng rất tinh tế, đa cảm, lăng mạn và đam mê của một thi sĩ tài hoa. Ông là người uyên bác, hiểu biết sâu sắc nhiều lĩnh vực: Triết học, tôn giáo, chính trị, kinh tế, văn hoá nhưng vẫn không quên những việc đời thường. Ông quan tâm tới những người thân đến từng việc nhỏ, ngoài 80 tuổi vẫn nhớ được vài chục số điện thoại của cơ quan, bạn bè, đồng nghiệp, không bao giờ lỡ hẹn với ai dù chỉ vài phút. Trong túi áo ngực của ông luôn luôn có một bọc nhỏ có đầy đủ các loại thuốc đề pḥng bất trắc, lúc khoá cửa xong bao giờ ông cũng cầm ống khoá lắc lắc 2 - 3 lần xem đă chắc chưa, lúc ăn một món ăn lạ miệng ông muốn được chia sẻ với vợ con. Huy Cận là người làm việc rất nghiêm túc nhưng ăn mặc mộc mạc đến xuềnh xoàng, cởi mở chân thành đến mức hồn nhiên khi tiếp xúc với anh em, bè bạn. Huy Cận là người rất yêu đời, say mê sống, tha thiết sống. Cách đây mấy năm, tôi đến chúc Tết nhà thơ Huy Cận, ông đưa bàn tay trước mặt tôi và hỏi: "Ông xem tôi sống được bao lâu nữa?". Tôi liếc qua bàn tay của ông rồi ḍ hỏi: "Thế ngày tháng năm sinh chính xác của bác như thế nào?" - "Tuổi khai sinh của tôi hiện nay là do ông cậu khai khi vào học ở Huế, c̣n ngày sinh chính xác là ngày 29 tháng Chạp năm Bính Th́n (dương lịch là ngày 22.1.1917). Tôi có thể sống đến lúc kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long - Hà Nội không?". Trân trọng niềm khát vọng tốt đẹp của ông, tôi trả lời một cách tự tin: "Chắc là được bác ạ! Bác c̣n rất khoẻ mà". Đúng vào buổi chiều ngày 29 tháng Chạp năm Giáp Thân, theo lời hẹn trước, tôi và GS. Hà Minh Đức đến để cùng nhà thơ Huy Cận làm bữa tất niên. Nhưng đến nhà Lệ Duyên mới hay, ông vừa phải vào bệnh viện. Lúc ấy, tôi cảm thấy công hoàng và chột dạ v́ hôm nay là sinh nhật của ông. Ông đă chạm tới tuổi 90 rồi! Tôi không tin ông sẽ ra đi trong mùa xuân Ất Dậu, tôi vẫn nghĩ rằng nhà thơ Huy Cận kính yêu sẽ c̣n sống khoẻ để dự lễ kỷ niệm một ngàn năm Thăng Long - Hà Nội của chúng ta./.


--------------------
Yêu Tổ Quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ ǵn vệ sinh thật tốt
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Feb 15 2008, 11:30 AM
Post #3



Cấp 2
**

Group: Members
Posts: 217
Thank(s): 15
Joined: 15-12-07
Member No.: 581



Cảm ơn về thông tin của dhpaul về nhà thơ Huy Cận...
Ngay sau bài này, Duyên sẽ viết 1 số tác phẩm của Huy Cận trên trang "Thơ Cách Mạng"
NHÀ THƠ PHẠM TIẾN DUẬT

Phạm Tiến Duật, tên thật mà cũng là bút danh, sinh ngày 14-1-1941. Quê gốc: thị xă Phú Thọ. Tốt nghiệp đại học sư phạm Văn, chưa đi dạy ngày nào, ông nhập ngũ (1965). Mười bốn năm trong quân đội thêm tám năm ở Trường Sơn, đoàn vận tải Quang Trung 559. Có thể nói: Trường Sơn đă tạo nên thơ Phạm Tiến Duật, và Phạm Tiến Duật cũng là người mang được nhiều nhất Trường Sơn vào thơ. Nói đến đề tài Trường Sơn đánh Mỹ, người ta không thể quên Phạm Tiến Duật và thơ Phạm Tiến Duật hay nhất cũng ở chặng Trường Sơn. Chiến tranh đă qua một phần tư thế kỷ, tâm hồn thơ Phạm Tiến Duật vẫn chưa ra khỏi Trường Sơn. Những bài thơ anh viết hôm nay vẫn c̣n vang ngân lắm h́nh bóng của Trường Sơn.

Phạm Tiến Duật có giọng thơ không giống ai, và cũng khó ai bắt chước được, dù hồi đó đă thấy vài người mô phỏng. Khó v́ giọng đùa đùa, tinh nghịch, tếu táo nhưng lại đụng vào những miền sâu thẳm của t́nh cảm con người. Giọng ấy là của một chất tâm hồn chứ không phải chỉ đơn thuần một kiểu cách chữ nghĩa. Điều đáng nói là giọng thơ ấy đă tỏ ra đắc địa trong hoàn cảnh lịch sử cụ thể đó. Kháng chiến chống xâm lược Mỹ là cuộc chiến tranh ác liệt, nhất là ở Trường Sơn. Hy sinh lớn, gian khổ nhiều. Thơ cần phản ánh chân thật thực tiễn ấy, nhưng lại không được gây bi lụy, xót thương. Cuộc chiến đang cần sự phấn đấu của ḷng người. Nhưng cũng không được lên gân, cao giọng hay cắt bớt nét dữ dằn của thực tế chiến tranh. Đây là một thử thách với tất cả các nhà thơ hồi ấy. Nhiều người không vượt được. Phạm Tiến Duật vượt được, trước hết nhờ vào cái giọng đó:

Cạnh giếng nước có bom từ trường
Em không rửa ngủ ngày chân lấm
Ngày em phá nhiều bom nổ chậm
Đêm nằm mơ nói mớ vang nhà.
Con gái thế th́ đoảng quá: đêm ngủ không rửa chân, nằm mơ th́ nói ông ổng. Đây lại là lời kể của cô bạn cùng đơn vị thanh niên xung phong nói với bạn trai của cô gái. Hại thế. Nhưng không, anh bạn nghe lại ứa nước mắt: Chuyện kể từ nỗi nhớ sâu xa. Thương em, thương em, thương em biết mấy. Trong một câu có tới ba động từ thương. Rửa chân trước khi đi ngủ là quyền lợi của mọi người trên mặt đất. Nhưng ở đây, để đ̣i được quyền lợi nhỏ bé đó có thể phải đổi cả mạng người. Phá bom là việc làm đối diện với cái chết, không ai nói tài được. Con người có phần tự vệ bản năng nên phải hồi hộp lo âu. Nhưng v́ lư tưởng, ư chí đă vượt lên bản năng, họ làm mà không sợ hăi. Đêm về, ư thức của vỏ năo đă bị giấc ngủ ức chế, chỉ c̣n tiềm thức dưới vỏ năo hoạt động, nỗi sợ hăi bản năng trỗi dậy thành cơn mê hoảng. Đêm đêm mê hoảng nhưng sáng sáng lại ra mặt đường tiếp tục phá bom. Phẩm chất anh hùng cao cả đă thành nếp sống hàng ngày. Chất thơ chân thực, do vậy mà sâu xa, nó kết tinh từ sự từng trải của tác giả, chứ không phải từ thứ chế tạo trên trang giấy để biểu dương tuyên truyền. Giọng thơ Phạm Tiến Duật rất gần với câu nói thường ngày. Câu nói khác câu thơ là không du dương trau chuốt, nó thô mộc như chỉ có nhiệm vụ thông tin. Phạm Tiến Duật dùng chức năng thông tin ấy mà tạo thơ. Ông đặt thông tin nọ cạnh thông tin kia, như ngẫu nhiên, như có sao nói vậy, không b́nh luận móc nối ǵ, mà thành ra t́nh cảm, ra nghĩa lư sự đời. Bài thơ Công việc hôm nay , viết khoảng năm 1966- 1967, giống như văn bản tinThông tấn xă:

Cục Tác chiến báo sang tin cuối cùng
Về số máy bay rơi và tàu chiến cháy
Nha Khí tượng, tin cơn băo tan
Bộ Nông nghiệp, t́nh h́nh vụ cấy...
Trong những tờ tŕnh Thủ tướng kư đọc trong đêm C̣n có việc hoàn thành bộ thông sử đầu tiên Chính cái chất bản tin ấy đă tạo nên thơ: giữa bao nhiêu việc gấp gáp của đời sống chiến tranh, chúng ta vẫn dành sức lo cho lâu dài (bộ sử). Điều đó không chỉ là sự b́nh tĩnh mà c̣n là niềm tin vào thắng lợi cuối cùng. Phạm Tiến Duật muốn để sự kiện tự nói. Ông tinh tế trong quan sát, lại giàu có khi liên tưởng nên mới bắt chi tiết tự nói được như vậy. Với Phạm Tiến Duật, chi tiết nào của đời cũng có thể thành thơ, từ độ cao vật lư bảy trăm mét, một ngh́n mét, tám ngh́n mét đến dáng vẻ các loài hoa, loài cây, rồi xe không kính, rồi xoong nồi xủng xoảng, rồi nằm ngửa nằm nghiêng... Đây là một bước tiến dài trong sự "tiêu hóa" của thơ. Đâu cứ phải mây gió trăng hoa mà tất tật, thượng vàng hạ cám của đời đi qua tâm hồn Phạm Tiến Duật đều thành thơ. Ông đă kế thừa truyền thống "tạp thực" của thơ đội viên kháng chiến chống Pháp và xa nữa là Tú Xương đầu thế kỷ.

Vật liệu xây dựng nên bài thơ là việc thật của đời sống chiến tranh, c̣n nguyên lấm láp cát bụi chiến hào, không sơ chế tái chế ǵ, giọng thơ th́ tếu, vui, nhưng cảm xúc lại là trữ t́nh thấm thía, t́nh cảm sâu và rộng:

Cũng vương tóc rối chân gà
Cũng tiếng chó sủa chiều tà sau cây
Cũng quần áo ướt phơi dây
Cũng gàu múc nước. Ô hay, cũng làng
Thắm một h́nh ảnh làng đến vậy là nỗi ḷng người lính ở Trường Sơn những năm chiến tranh, khi mà không khí thanh b́nh làng quê xứ sở đă thành niềm xa lắc. Phạm Tiến Duật không trực tiếp nói nỗi ḷng ấy nhưng người đọc lại thấy được rất rő. Đằng sau giọng thơ, cái lői cảm xúc này mới là chính yếu làm nên chất thơ chiến tranh Phạm Tiến Duật. Nhân vật thơ thường ḥa vào tác giả. Ở Phạm Tiến Duật không, hoặc ít, phân biệt chủ thể, khách thể. Có lẽ khách chủ cũng đều là bộ đội nên họ dễ dàng thành một.

Phạm Tiến Duật thật sự là người đă mở rộng phạm vi cái nên thơ, giúp thơ trực tiếp với đời sống và giúp đời sống trực tiếp bước vào thơ.

Hà Nội, 3-11-2001
Vũ Quần Phương


--------------------
Việt Nam!
Người là ta, mà ta chưa bao giờ hiểu hết
Người là ai? Mà sức mạnh thần ḱ
Giữa cái chết, không phút nào chịu chết
Lửa quanh ḿnh, một tấc cũng không đi
Tố Hữu
Go to the top of the page
 
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
1 User(s) are reading this topic (1 Guests and 0 Anonymous Users)
0 Members:

 



Bản vắn tắt Giờ hiện tại:: 17th November 2019 - 01:50 PM
Skin IPB: Invisionpower.fr - IP.Board France