IPB

Chào mừng khách viếng thăm diễn đàn ( Đăng nhập | Đăng ký thành viên )

Loading

Nội quy diễn đàn

10 Trang V  « < 4 5 6 7 8 > »   
Reply to this topicStart new topic
> Âm nhạc, Sự kiện & Nhân vật
post Jan 11 2013, 11:29 AM
Post #101



Cấp 2
**

Group: Members
Posts: 167
Thank(s): 8
Joined: 25-09-11
Member No.: 21,080



QUOTE (VuHungAnh @ Jan 10 2013, 06:16 PM) *
...
13- Qua cầu Tùng Cốc (Hoàng Hiệp) Quốc Đông & Trọng Nghĩa thể hiện. Một bài hát có cái tên lạ tai nhưng rất hay viết về cuộc chiến đấu ác liệt năm xưa ở mảnh đất lửa là ngă ba Đồng Lộc, qua cặp song ca khá quyện:


Tùng Cốc Tùng Cốc! Tùng Cốc Tùng Cốc!
Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc
Đêm hoa xoan hoa khế một màu
Ḥm đạn trên xe và sao sáng trên đầu

Tùng Cốc Tùng Cốc! Tùng Cốc Tùng Cốc!
Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc
Đêm bom rơi pháo sáng đầy trời
Mà vẫn khôn ngăn đoàn xe ta cứ ra vào!

Ơi cây cầu như thể cuộc đời ta
Để đường dài lấy đây làm mốc
Mảnh đất này Xô-viết năm xưa
Lại ào ào cuốn vào cơn lốc!
Tùng Cốc Tùng Cốc! Đây Tùng Cốc Tùng Cốc!

Tiếng trống tiếng mơ – đă nổi lên rồi
Xe ta đi tư duy hàng chở lại
Và tên cầu gơ nhịp măi không thôi!


...


Cám ơn bài viết công phu tiễn đưa nhạc sĩ Hoàng Hiệp của bác VHA nhiều ạ!

Em nghe đoạn chữ đỏ đó ca sĩ phát âm như là "tư duy hoàn trở lại", cũng khá hợp lư về ngữ nghĩa, nhưng quả thật h́nh thức ngôn ngữ này quá xa lạ với một ca khúc thật các bác hỉ biggrin.gif ? (Và nếu đúng như thế th́ topic Nồi cám lợn của bác Truc Dang ... lẽ ra đă có một câu đố rất độc)
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 11 2013, 03:11 PM
Post #102



Cấp 4
****

Group: Administrators
Posts: 847
Thank(s): 21
Joined: 03-07-11
Member No.: 19,938



QUOTE (Hậu sinh.2 @ Jan 11 2013, 11:29 AM) *
Cám ơn bài viết công phu tiễn đưa nhạc sĩ Hoàng Hiệp của bác VHA nhiều ạ!

Em nghe đoạn chữ đỏ đó ca sĩ phát âm như là "tư duy hoàn trở lại", cũng khá hợp lư về ngữ nghĩa, nhưng quả thật h́nh thức ngôn ngữ này quá xa lạ với một ca khúc thật các bác hỉ biggrin.gif ? (Và nếu đúng như thế th́ topic Nồi cám lợn của bác Truc Dang ... lẽ ra đă có một câu đố rất độc)

Rất đồng ư với Hậu Sinh. Cả hai phương án đưa ra đều không ăn nhập với tổng thể lời ca như một bài thơ của nhà thơ Hoàng Hiệp. Tất nhiên Hoàng Hiệp không viết như vậy nhưng nghe các nghệ sĩ hát th́ không biết ghi cái ǵ khác thế. Riêng VHA nghe suốt hai ngày mà vẫn không luận ra cái ǵ hợp lư hơn đành ghi như vậy để mong t́m kiếm sự giúp đỡ của các bác khác. Có lẽ phải nhờ cậy đến bác nvn33 chăng?
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 11 2013, 06:58 PM
Post #103



Cấp 2
**

Group: Members
Posts: 253
Thank(s): 8
Joined: 03-05-10
Member No.: 12,412



QUOTE (Hậu sinh.2 @ Jan 11 2013, 11:29 AM) *
Tiếng trống tiếng mơ – đă nổi lên rồi
Xe ta đi tư duy hàng chở lại
Và tên cầu gơ nhịp măi không thôi!


Cái "tai báo vụ" của HCC tôi nghe ra là "tư duy ṿng trở lại".

This post has been edited by Hoacamchuong: Jan 12 2013, 07:10 AM
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 14 2013, 10:04 AM
Post #104



Cấp 4
****

Group: Administrators
Posts: 847
Thank(s): 21
Joined: 03-07-11
Member No.: 19,938



QUOTE (Hoacamchuong @ Jan 11 2013, 06:58 PM) *
Cái "tai báo vụ" của HCC tôi nghe ra là "tư duy ṿng trở lại".

Có lẽ đây là phương án hợp lư chăng? Xin cả nhà cho phép VHA chữa ngay vào bài ở trên. Xin cảm ơn bác HCC!
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 14 2013, 10:12 AM
Post #105



Cấp 4
****

Group: Administrators
Posts: 847
Thank(s): 21
Joined: 03-07-11
Member No.: 19,938



Nhạc sĩ Lưu Cầu đă ra đi!


Thế là ngay sau sự ra đi của nhạc sĩ Hoàng Hiệp, lại một tên tuổi lớn nữa của làng nhạc Việt Nam đă ra đi: nhạc sĩ Lưu Cầu. Ông đă ra đi măi măi vào lúc 1 giờ 25 phút ngày 11/1/2013 tại tp Hồ Chí Minh, hưởng thọ 83 tuồi, nhiều hơn Hoàng Hiệp 1 tuổi.


Nhạc sĩ Lưu Cầu (30/11/1930 – 11/1/2013)

Tiểu sử nhạc sĩ

Lưu Cầu tên thật là Nguyễn Hoàn Cầu. Ông sinh ngày 30/11/1930 tại Sóc Trăng. Từ những ngày Nam Bộ kháng chiến, Lưu Cầu đă công tác tại Đài Tiếng nói Nam Bộ thời ấy và để lại một ấn tượng âm nhạc qua tác phẩm đầu tay Khu rừng miền Đông.

Tập kết ra Hà Nội, Lưu Cầu vào học Trường Âm nhạc VN (nay là Học viện ANQG) rồi sau khi tốt nghiệp, ông về công tác tại Ban Âm nhạc Đài Tiếng nói VN. Ngay từ những ngày đang học tập trong trường nhạc, Lưu Cầu cũng đă gửi nỗi nhớ thương miền Nam yêu dấu qua ca khúc Quê tôi. Bài hát được giọng nam cao Quốc Hương thể hiện dào dạt bao năm trên làn sóng phát thanh của Đài TNVN.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Lưu Cầu bỏng cháy căm hờn với hai hành khúc Lửa căm thù rực cháy khắp hai miềnMiền Nam ơi! Chúng tôi đă sẵn sàng với một ngôn ngữ âm nhạc gọn ghẽ mà đanh thép.

Chính thực tế cuộc chiến đấu đă khiến cho Lưu Cầu chuyển ngôn ngữ âm nhạc từ trữ t́nh sang hào sảng qua một ca khúc khác đặc biệt viết về thanh niên xung phong: Về đây với đường tàu. Bài hát đă được giọng nữ cao Bích Liên thể hiện như khắc sâu vào tâm trí bao người thành một giai điệu vượt thời gian.

Ngày Bác Hồ đi xa, một ca khúc mang âm hưởng dân ca Nam Bộ rất sâu lắng Miền Nam nhớ măi ơn Người đă được Quốc Hương chắp cánh bay măi qua bao thế hệ.

Sau ngày thống nhất, Lưu Cầu trở về tp Hồ Chí Minh. Bên cạnh ca khúc hợp xướng, ông c̣n viết tiểu phẩm violon Quê hương, nhạc cho phim tài liệu, phim truyện. Âm nhạc Lưu Cầu đă để lại ấn tượng khó quên trong lịch sử âm nhạc VN. Ông đă được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt I (2001).

Những sáng tác đă có trên net

Vốn là người ưa thích sự âm thầm lặng lẽ giống như rất nhiều nhạc sĩ miền Nam tập kết ra Bắc khác nhưng từ rất lâu rồi tên tuổi Lưu Cầu đă được biết tới với những sáng tác nổi tiếng gắn liền với cuộc đấu tranh anh dũng của đồng bào miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thần thánh của dân tộc: Miền Nam nhớ măi ơn Người, Miền Nam ơi chúng tôi đă sẵn sàng, Bài ca đất nước anh hùng, Tiếng hát nữ du kích Củ Chi, Về đây với đường tàu

Sau ngày đất nước thống nhất, ông tiếp tục sáng tác những ca khúc rất nổi tiếng mau chóng được đón nhận rộng răi và cho đến nay vẫn c̣n là những ca khúc rất hay, những bài ca đi cùng năm tháng: Cô gái ngành y, Mùa trái chín, Anh lại về bên sông Vàm Cỏ…

Nhạc sĩ Lưu Cầu sáng tác nhiều tác phẩm với nhiều thể loại: ca khúc, hợp xướng, nhạc không lời, nhạc phim, nhạc múa, trong đó nhiều sáng tác đoạt giải thưởng. Những sáng tác của ông hiện có trên net là:

1- Anh lại về bên sông Vàm Cỏ (Lưu Cầu) Tuyết Nhung
2- Anh thương binh vào trận mới (Lưu Cầu) Mạnh Hà
3- Bài ca Tây Ninh (Lưu Cầu) Thuư Lan
4- Bài ca thu đông (Lưu Cầu) Kim Oanh
5- Bài ca đất nước anh hùng (Lưu Cầu) Đồng ca Đài TNVN
6- Cô gái ngành y (Lưu Cầu) Bích Liên
7- Mùa trái chín (Lưu Cầu) Bích Liên
8- Miền Nam nhớ măi ơn Người (Lưu Cầu) Ngọc Bé
9- Miền Nam ơi chúng tôi đă sẵn sàng (Lưu Cầu) Doăn Thịnh & Tốp ca nam Đài TNVN
10- Miền Nam ơi chúng tôi đă sẵn sàng (Lưu Cầu) Quư Dương & Trung Kiên
11- Ngày xuân trên cánh đồng chiêm (Lưu Cầu) Tốp ca nữ Đài TNVN
12- Những người phụ nữ thủ đô (Lưu Cầu) Ngọc Bé
13- Quê tôi (Lưu Cầu) Trần Thụ
14- Tiếng hát nữ du kích Củ Chi (Lưu Cầu) Bích Liên
15- V́ mùa xuân đất nước (Lưu Cầu) Tốp ca nữ CMNDTW
16- Về mái trường xưa (Lưu Cầu) Thuư Lan
17- Về đây với đường tàu (Lưu Cầu) Bích Liên

Những ca khúc đáng chú ư

Trước tiên phải kể tới Miền Nam ơi chúng tôi đă sẵn sàng. Đây là bài hát VHA đă được nghe từ lúc đất nước c̣n đang chia cắt, nay nghe lại như thấy quá khứ hiện về, nhớ lại khi đó mỗi ngày vẫn thường nghe Đài thông báo hôm nay “loại khỏi ṿng chiến đấu được… tên Mỹ ngụy…”, h́nh dung ra cuộc chiến đấu cam go trong ấy. Bài hát do Quư Dương và Trung Kiên song ca, một kết hợp thú vị của một tenor và một baritone:


C̣n đây là giọng hát Ngọc Bé đóng đinh với ca khúc Miền Nam nhớ măi ơn Người:


Bài hát Về đây với đường tàu đă được Bích Liên thể hiện rất hay, nay chúng ta nghe bài hát này qua sự thể hiện của Kiều Hưng cũng vào lúc cuộc chiến tranh đang gay cấn:


Bài hát Cô gái ngành y cho đến nay vẫn c̣n là bài hát hay ca ngợi những cán bộ ngành y tế cao đẹp dưới tấm áo choàng trắng chữa bệnh cứu người. Bài hát này đă được dạy hát trên làn sóng Đài TNVN những năm 76-78 và là độc quyền của nghệ sĩ Bích Liên:


Nghe những bài hát của Lưu Cầu trên Đài TNVN mấy mươi năm trước không thể nghĩ có ngày lại viết những ḍng tổng kết sự nghiệp của ông và những ǵ c̣n lưu lại trong tâm trí. Xin cảm ơn ông và cho chúng con thắp nén hương vĩnh biệt ông, một nhạc sĩ của miền Nam b́nh dị và lặng thầm.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 14 2013, 03:02 PM
Post #106



Cấp 2
**

Group: Members
Posts: 253
Thank(s): 8
Joined: 03-05-10
Member No.: 12,412



QUOTE (VuHungAnh @ Jan 14 2013, 10:04 AM) *
Cái "tai báo vụ" của HCC tôi nghe ra là "tư duy ṿng trở lại".

Có lẽ đây là phương án hợp lư chăng? Xin cả nhà cho phép VHA chữa ngay vào bài ở trên. Xin cảm ơn bác HCC!


Thưa các bạn.
Nếu "tư duy ṿng trở lại" được coi là phương án hợp lư th́ cho phép HCC tôi... lan man một tí nhá.
Theo tôi, lời ca của bài "Qua cầu Tùng Cốc" (Hoàng Hiệp) không khác ǵ một bài thơ (nếu bài này nhạc sĩ tự đặt lời).
Bởi v́, ngoài việc gieo vần thanh trắc ("cốc") một cách rất nghệ thuật, tác giả c̣n vận dụng nghệ thuật chơi chữ rất độc đáo.
Tùng Cốc, danh xưng một cây cầu, đương nhiên nó là danh từ riêng. Nhưng khi xướng lên 2 âm "tùng - cốc", người ta liên tưởng ngay đến 2 âm thanh: "tùng" của trống, và "cốc" của mơ! Vậy, nếu "chẻ" chữ ra như thế, th́ từ một danh từ riêng 2 âm tiết, ta có 2 từ đơn tượng thanh "tùng" và "cốc", biểu thị 2 âm thanh của 2 nhạc cụ ("trống" và "mơ").
Tác giả "chơi chữ" ở chỗ này đấy ạ!
Giờ ta cùng nghe lại, ngay câu đầu tiên:

Tùng Cốc, tùng cốc, tùng cốc, tùng cốc..., 4 lần lặp, rơ ràng tác giả không chỉ gọi tên cây cầu, mà c̣n "gơ nhịp" theo kiểu "trống - mơ" nữa. Nghe rất... sướng tai.
Cái "âm thanh" trống mơ ấy tiếp tục ở câu sau:

Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc...


Vâng, vẫn cái nhịp điệu giật giật ấy khiến cho 3 "câu thơ" gieo vần thanh trắc ("ôc") vốn dĩ rất khó cho thơ lại trở nên duyên dáng lạ lùng.
V́ tôi không phải là nhạc sĩ nên không dám đi sâu phân tích bài hát, mà chỉ xin nêu cái ư chơi chữ ở đây để dẫn tới mấy câu cuối bài, rằng:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi

để khẳng định rằng, tác giả "chơi chữ" thật khéo. Và, để giải thích thêm rằng với một chiến sĩ lái xe khi qua cầu Tùng Cốc, tại sao lại có "tiếng trống tiếng mơ" chen vào đấy. Vâng, chỉ đơn giản là v́, người lính ấy đă nghe rất rơ cái âm thanh "tùng cốc" khi chạy xe qua cây cầu này.
Thưa các bạn.
Nếu ai đă từng cầm vô lăng chạy đường dài, hẳn sẽ nhận thấy một điều rằng, khi đang trong tâm trạng hưng phấn, tài xế sẽ "lợi dụng" sự rung xóc của xe để làm nhịp mà ngân nga măi trong đầu một giai điệu nào đó. Anh chiến sĩ lái xe của chúng ta ở đây cũng vậy, trong đầu anh đang ngân nga măi cái giai điệu "tùng cốc" như thế:

Tùng Cốc, tùng cốc! Đây Tùng Cốc tùng cốc...

Cũng v́ thế cho nên:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi
Xe ta đi tư duy ṿng trở lại
Và tên cầu gơ nhịp măi không thôi...


Xe anh đă qua cầu rồi, mà tư duy của anh vẫn "để" (ṿng trở lại) nơi cây cầu ấy mà nghe "tên cầu gơ nhịp măi không thôi" là như vậy.
Đôi lời... lan man, rất mong được các bạn chia sẻ.

Thêm:
Đề nghị bạn VHA đă chữa th́ chữa cho trót: tư duy ṿng trở lại (trở, chứ không phải chở đâu ạ).

This post has been edited by Hoacamchuong: Jan 14 2013, 03:20 PM
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 14 2013, 03:51 PM
Post #107



Cấp 4
****

Group: Administrators
Posts: 847
Thank(s): 21
Joined: 03-07-11
Member No.: 19,938



QUOTE (Hoacamchuong @ Jan 14 2013, 03:02 PM) *
Thưa các bạn.
Nếu "tư duy ṿng trở lại" được coi là phương án hợp lư th́ cho phép HCC tôi... lan man một tí nhá.
Theo tôi, lời ca của bài "Qua cầu Tùng Cốc" (Hoàng Hiệp) không khác ǵ một bài thơ (nếu bài này nhạc sĩ tự đặt lời).
Bởi v́, ngoài việc gieo vần thanh trắc ("cốc") một cách rất nghệ thuật, tác giả c̣n vận dụng nghệ thuật chơi chữ rất độc đáo.
Tùng Cốc, danh xưng một cây cầu, đương nhiên nó là danh từ riêng. Nhưng khi xướng lên 2 âm "tùng - cốc", người ta liên tưởng ngay đến 2 âm thanh: "tùng" của trống, và "cốc" của mơ! Vậy, nếu "chẻ" chữ ra như thế, th́ từ một danh từ riêng 2 âm tiết, ta có 2 từ đơn tượng thanh "tùng" và "cốc", biểu thị 2 âm thanh của 2 nhạc cụ ("trống" và "mơ").
Tác giả "chơi chữ" ở chỗ này đấy ạ!
Giờ ta cùng nghe lại, ngay câu đầu tiên:

Tùng Cốc, tùng cốc, tùng cốc, tùng cốc..., 4 lần lặp, rơ ràng tác giả không chỉ gọi tên cây cầu, mà c̣n "gơ nhịp" theo kiểu "trống - mơ" nữa. Nghe rất... sướng tai.
Cái "âm thanh" trống mơ ấy tiếp tục ở câu sau:

Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc...


Vâng, vẫn cái nhịp điệu giật giật ấy khiến cho 3 "câu thơ" gieo vần thanh trắc ("ôc") vốn dĩ rất khó cho thơ lại trở nên duyên dáng lạ lùng.
V́ tôi không phải là nhạc sĩ nên không dám đi sâu phân tích bài hát, mà chỉ xin nêu cái ư chơi chữ ở đây để dẫn tới mấy câu cuối bài, rằng:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi

để khẳng định rằng, tác giả "chơi chữ" thật khéo. Và, để giải thích thêm rằng với một chiến sĩ lái xe khi qua cầu Tùng Cốc, tại sao lại có "tiếng trống tiếng mơ" chen vào đấy. Vâng, chỉ đơn giản là v́, người lính ấy đă nghe rất rơ cái âm thanh "tùng cốc" khi chạy xe qua cây cầu này.
Thưa các bạn.
Nếu ai đă từng cầm vô lăng chạy đường dài, hẳn sẽ nhận thấy một điều rằng, khi đang trong tâm trạng hưng phấn, tài xế sẽ "lợi dụng" sự rung xóc của xe để làm nhịp mà ngân nga măi trong đầu một giai điệu nào đó. Anh chiến sĩ lái xe của chúng ta ở đây cũng vậy, trong đầu anh đang ngân nga măi cái giai điệu "tùng cốc" như thế:

Tùng Cốc, tùng cốc! Đây Tùng Cốc tùng cốc...

Cũng v́ thế cho nên:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi
Xe ta đi tư duy ṿng trở lại
Và tên cầu gơ nhịp măi không thôi...


Xe anh đă qua cầu rồi, mà tư duy của anh vẫn "để" (ṿng trở lại) nơi cây cầu ấy mà nghe "tên cầu gơ nhịp măi không thôi" là như vậy.
Đôi lời... lan man, rất mong được các bạn chia sẻ.

Thêm:
Đề nghị bạn VHA đă chữa th́ chữa cho trót: tư duy ṿng trở lại (trở, chứ không phải chở đâu ạ).

Bác Hoa Cẩm Chướng chẳng những có cái tai tinh tường của một báo vụ giỏi mà c̣n có ng̣i bút sắc sảo của một nhà thơ kiêm biên tập viên rất cừ! Những phân tích của bác trên đây rất trùng hợp với suy nghĩ của em khi nghe bài hát này. Thậm chí khi đă bỏ tai nghe ra rồi mà tiếng trống tiếng mơ c̣n gơ nhịp măi trong tâm trí rất lâu sau nữa...

Em cũng đă sửa lần chót rồi đấy ạ. Cảm ơn bác. biggrin.gif
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 15 2013, 10:14 AM
Post #108



Cấp 3
***

Group: Members
Posts: 351
Thank(s): 0
Joined: 04-04-10
Member No.: 11,797



QUOTE (Hoacamchuong @ Jan 14 2013, 03:02 PM) *
Thưa các bạn.
Nếu "tư duy ṿng trở lại" được coi là phương án hợp lư th́ cho phép HCC tôi... lan man một tí nhá.
Theo tôi, lời ca của bài "Qua cầu Tùng Cốc" (Hoàng Hiệp) không khác ǵ một bài thơ (nếu bài này nhạc sĩ tự đặt lời).
Bởi v́, ngoài việc gieo vần thanh trắc ("cốc") một cách rất nghệ thuật, tác giả c̣n vận dụng nghệ thuật chơi chữ rất độc đáo.
Tùng Cốc, danh xưng một cây cầu, đương nhiên nó là danh từ riêng. Nhưng khi xướng lên 2 âm "tùng - cốc", người ta liên tưởng ngay đến 2 âm thanh: "tùng" của trống, và "cốc" của mơ! Vậy, nếu "chẻ" chữ ra như thế, th́ từ một danh từ riêng 2 âm tiết, ta có 2 từ đơn tượng thanh "tùng" và "cốc", biểu thị 2 âm thanh của 2 nhạc cụ ("trống" và "mơ").
Tác giả "chơi chữ" ở chỗ này đấy ạ!
Giờ ta cùng nghe lại, ngay câu đầu tiên:

Tùng Cốc, tùng cốc, tùng cốc, tùng cốc..., 4 lần lặp, rơ ràng tác giả không chỉ gọi tên cây cầu, mà c̣n "gơ nhịp" theo kiểu "trống - mơ" nữa. Nghe rất... sướng tai.
Cái "âm thanh" trống mơ ấy tiếp tục ở câu sau:

Qua cây cầu này rồi ta lên dốc
Phía trước mặt là ngă ba Đồng Lộc...


Vâng, vẫn cái nhịp điệu giật giật ấy khiến cho 3 "câu thơ" gieo vần thanh trắc ("ôc") vốn dĩ rất khó cho thơ lại trở nên duyên dáng lạ lùng.
V́ tôi không phải là nhạc sĩ nên không dám đi sâu phân tích bài hát, mà chỉ xin nêu cái ư chơi chữ ở đây để dẫn tới mấy câu cuối bài, rằng:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi

để khẳng định rằng, tác giả "chơi chữ" thật khéo. Và, để giải thích thêm rằng với một chiến sĩ lái xe khi qua cầu Tùng Cốc, tại sao lại có "tiếng trống tiếng mơ" chen vào đấy. Vâng, chỉ đơn giản là v́, người lính ấy đă nghe rất rơ cái âm thanh "tùng cốc" khi chạy xe qua cây cầu này.
Thưa các bạn.
Nếu ai đă từng cầm vô lăng chạy đường dài, hẳn sẽ nhận thấy một điều rằng, khi đang trong tâm trạng hưng phấn, tài xế sẽ "lợi dụng" sự rung xóc của xe để làm nhịp mà ngân nga măi trong đầu một giai điệu nào đó. Anh chiến sĩ lái xe của chúng ta ở đây cũng vậy, trong đầu anh đang ngân nga măi cái giai điệu "tùng cốc" như thế:

Tùng Cốc, tùng cốc! Đây Tùng Cốc tùng cốc...

Cũng v́ thế cho nên:

Tiếng trống tiếng mơ đă nổi lên rồi
Xe ta đi tư duy ṿng trở lại
Và tên cầu gơ nhịp măi không thôi...


Xe anh đă qua cầu rồi, mà tư duy của anh vẫn "để" (ṿng trở lại) nơi cây cầu ấy mà nghe "tên cầu gơ nhịp măi không thôi" là như vậy.
Đôi lời... lan man, rất mong được các bạn chia sẻ.

Thêm:
Đề nghị bạn VHA đă chữa th́ chữa cho trót: tư duy ṿng trở lại (trở, chứ không phải chở đâu ạ).


Bài hát này, theo cháu mới đọc ở 1 bài viết trên mạng hôm qua (báo SGGP) th́ nhạc sĩ Hoàng Hiệp phổ thơ của bác Phạm Tiến Duật (bài thơ viết năm 1971). "Tư duy ṿng trở lại"- cháu cũng nghe như vậy.

PS bác VHA: Bài "Đất mũi Cà Mau"h́nh như cũng phổ thơ hay sao ư nhưng em không nhớ tên nhà thơ. Bác xem lại hộ em xem em nhớ có đúng không với ạ?
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 15 2013, 03:03 PM
Post #109



Cấp 3
***

Group: Members
Posts: 465
Thank(s): 11
Joined: 18-10-07
Member No.: 304




Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 15 2013, 04:48 PM
Post #110



Cấp 4
****

Group: Administrators
Posts: 847
Thank(s): 21
Joined: 03-07-11
Member No.: 19,938



Bác tuntin có tài liệu thật là quư hiếm mà em không có. Mấy ngày trước, khi chưa có bài trên SGGP mà meusangele giới thiệu, cứ phải đi xác định hoài xem bài này có phải của Hoàng Hiệp không v́ có bác đưa lên net ghi tác giả là Nguyễn Trọng Tạo. Liên lạc với nhà thơ NTT th́ được anh cho biết bài hát đó là của Hoàng Hiệp, anh cũng có một bài trùng tên nhưng chưa phổ biến ở bất cứ đâu cả. Nay có tài liệu rơ ràng rồi th́ xin bổ sung tên nhà thơ Phạm Tiến Duật vào phần tác giả lời bài hát.

Về bài Đất mũi Cà Mau (Hoàng Hiệp) th́ trong cuốn bài hát “6 ca khúc của Hoàng Hiệp” do NXB Văn Hóa xuất bản năm 1980, tên bài hát là Về Đất Mũi và không có tên nhà thơ nào ở phần tác giả lời ca. Như vậy bài này do nhạc sĩ Hoàng Hiệp viết lời:







Xin cảm ơn sự quan tâm của hai bác meusangele và tuntin rất nhiều!
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 15 2013, 04:54 PM
Post #111



Cấp 3
***

Group: Members
Posts: 351
Thank(s): 0
Joined: 04-04-10
Member No.: 11,797



QUOTE (tuntin @ Jan 15 2013, 03:03 PM) *



Cảm ơn bác Tuntin đă cung cấp sheet nhạc. Mặc dù nghe tương đối rơ ràng nhưng có 1 người bạn em băn khoăn về chữ "tư duy" trong câu "tư duy ṿng trở lại". Bác HCC đă giải thích rất hợp lư nhưng chữ "tư duy" th́ h́nh như chưa có bài hát nào sử dụng từ này nên em vẫn muốn t́m hiểu thêm. Em đă search măi mà không ra bài thơ này trên mạng, đang định ra kiếm tập thơ "Vầng trăng quầng lửa" của bác Phạm Tiến Duật. Xin cảm ơn các bác!
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 30 2013, 04:47 PM
Post #112



Cấp 4
****

Group: Administrators
Posts: 847
Thank(s): 21
Joined: 03-07-11
Member No.: 19,938



“Năm đó, tôi nhận được công bố đoạt giải Nobel ḥa b́nh cùng với ông Kissinger. Điều oái oăm là ḿnh là người chiến đấu để giành giật ḥa b́nh lại được giải về ḥa b́nh với kẻ gây chiến. Bởi thế tôi đă từ chối giải thưởng này” – Cố vấn Lê Đức Thọ tâm sự với phóng viên một tờ báo.


40 năm kư kết Hiệp định Paris (27/1/1973 – 2013)



Lê Đức Thọ (trái) và H. Kissinger bắt tay sau khi kư Hiệp định Paris

Tại sao có hội nghị Paris?

Cho đến tận bây giờ vẫn c̣n khá nhiều người cho rằng cuộc Tổng tiến công của bộ đội chủ lực và nhân dân ở hầu khắp các đô thị miền Nam dịp tết Mậu Thân 1968 là không cần thiết, là manh động, làm hao người tốn của…., và rằng cũng do tổn thất nặng nề quá mà Chủ tịch Hồ Chí Minh lo nghĩ thành bệnh rồi mất sau đó hơn một năm. Đây thật sự là những suy nghĩ nông cạn, hết sức thiếu hiểu biết, thậm chí đó c̣n là luận điệu của các thế lực phản động nhằm hạ thấp ư nghĩa của Tổng tiến công vào dịp Tết 1968 khi đó.

Sự thực là cuộc Tổng tấn công Mậu Thân 1968 nằm trong tổng thể đ̣n giáng trả của nước Việt Nam DCCH vào chế độ Mỹ-ngụy và là cú hích để chúng ta yêu cầu mở Hội nghị Paris vào tháng 5/1968 nhằm đi đến một giải pháp chính trị kết thúc sự can thiệp của đế quốc Mỹ vào Việt Nam. Hội nghị Paris chính là một mặt trận nữa trên phương diện chính trị và ngoại giao, ngoài mặt trận quân sự trên chiến trường, mà kết quả của nó gắn bó chặt chẽ với mặt trận quân sự, lại giúp thu được kết cục triệt để và toàn diện hơn mặt trận quân sự.

Chính do âm vang của cuộc tổng tấn công Mậu Thân 1968 mà đế quốc Mỹ mới chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Hội nghị Paris. Ảnh hưởng và tác động của chiến thắng Mậu Thân 1968 thật là to lớn.

Sự chỉ đạo sát sao của Bác Hồ

Giữa năm 1967, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của nhân dân ta xuất hiện t́nh thế mới, có lợi cho ta. Tháng 12/1967, Bác Hồ chủ tọa cuộc họp Bộ Chính trị, phân tích t́nh h́nh, quyết định mở đợt tổng công kích, tổng khởi nghĩa Tết Mậu Thân 1968 để giành thắng lợi quyết định. Sau đó, tháng 01/1968, Hội nghị Trung ương lần thứ 14 (khóa III) thông qua Nghị quyết Bộ Chính trị tháng 12/1967, khẳng định quyết tâm, mục tiêu và hướng tiến công chiến lược.

Đồng chí Vũ Kỳ, thư kư riêng của Bác kể lại rằng, Bác đă chuẩn bị thư chúc Tết Mậu Thân 1968 từ độ ba tháng trước. Sáng chủ nhật 31/12/1967, Bác ra Phủ Chủ tịch để đọc ghi âm thư chúc Tết. Chị Trần Thị Tuyết ngâm bài thơ chúc tết vừa để Bác nghe, vừa để ghi âm phát lúc giao thừa. Sáng ngày 01/01/1968, Bác gửi Thư chúc mừng năm mới tới toàn thể cán bộ và đảng viên cả nước. Trong thư, Bác gửi lời chúc mừng đến các nước XHCN anh em, các nước bầu bạn và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ, đă nhiệt liệt ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta; chúc kiều bào ta ở nước ngoài, năm mới cố gắng mới, tiến bộ mới!. Đối với đồng bào và chiến sĩ cả nước, Bác chúc: “Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua. Thắng trận tin vui khắp nước nhà. Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ. Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!

Chiều ngày 01/01/1968, Bộ Chính trị đến, Bác căn dặn thêm công việc. Bốn giờ chiều, Người lên máy bay ra nước ngoài để chữa bệnh theo quyết định của BCT và HĐ bác sĩ. Các đồng chí lănh đạo Đảng và Nhà nước ta thường xuyên đến thăm Bác để báo cáo và xin ư kiến. Ngày 20/1/1968, đồng chí Lê Đức Thọ đến. Ngày 25/01/1968, trên đường từ Hungari về, đại tướng Vơ Nguyên Giáp ghé qua xin chỉ thị cuối cùng của Bác về chiến dịch Mậu Thân.

Cũng theo đồng chí Vũ Kỳ, chiều 29 tết, Bác Hồ nhận được điện của BCT và BCHTU Đảng chúc tết Bác. Đêm giao thừa ở nơi xa xôi, hai Bác cháu ngồi im lặng trong pḥng, vặn Đài TNVN nghe tin tức, ca nhạc và ngâm thơ Tết, chờ đón giao thừa. Từ khi về nước trực tiếp lănh đạo cách mạng vào năm 1941, đây là lần đầu tiên Bác đón giao thừa ở nước ngoài. Thời gian trôi đi chầm chậm. Rồi, bên ngoài, tiếng pháo nổ tan, tiễn Đinh Mùi và đón Mậu Thân. Từ chiếc đài bán dẫn, tiếng nói của Bác Hồ vang lên:

Xuân này hơn hẳn mấy xuân qua,
Thắng trận tin vui khắp nước nhà.
Nam Bắc thi đua đánh giặc Mỹ.
Tiến lên!
Toàn thắng ắt về ta!


Lời thơ chúc Tết của Bác đồng thời cũng là hiệu lệnh mở đầu cuộc tiến công và nổi dậy và truyền đi khắp mọi miền đất nước. Khi đài phát xong câu cuối “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!”, Bác nói khẽ: "Giờ này, miền Nam đang nổ súng!"



Các bên tham gia Hội Nghị Paris

Hội Nghị Paris được tiến hành giữa 4 bên, 2 của cách mạng Việt Nam và 2 của Mỹ-ngụy với các đại diện là:

- Đại diện cho Việt Nam Dân Chủ Cộng Ḥa là Bộ trưởng Xuân Thủy (1912-1985). Ông Xuân Thủy tên thật là Nguyễn Trọng Nhâm, nói thông thạo tiếng Anh và Pháp. Ngoài ra c̣n có tài thơ phú, ứng biến mau lẹ.
- Đại diện cho Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam là Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị B́nh. Bà Nguyễn Thị B́nh tên thật là Nguyễn Châu Sa, sinh năm 1927 tại Sa Đéc, là cháu ngoại của cụ Phan Chu Trinh.
- Đại diện cho Việt Nam Cộng Ḥa (ngụy quyền Sài G̣n) là ngoại trưởng Trần Văn Lắm (1913-2001). Ông Lắm đă tốt nghiệp khoa dược Viện Đại học Đông Dương tại Hà Nội năm 1939.
- Đại diện cho phía Mỹ là Averell Harriman rồi sau đó là Cabot Lodge.

Tuy nhiên các cuộc gặp không chính thức, bí mật, có tính chất quyết định, lại diễn ra giữa tiến sĩ Henry Kissinger (sinh 1923) và Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ (Uỷ viên Bộ Chính trị Đảng Lao động VN, 1911-1990, tên thật là Phan Đ́nh Khải), người được đích thân Bác Hồ phái sang với sự tin cậy cao. Hội nghị kéo dài hơn 4 năm 8 tháng với nhiều màn đấu trí gay go căng thẳng và sau trận Điện Biên Phủ trên không, đă kết thúc thắng lợi cho cách mạng Việt Nam, một kết cục có hậu v́ chúng ta quyết tâm đi theo lời Bác "dù có phải đốt cháy cả dăy Trường Sơn":


Hai tháng sau Hội nghị Paris, vào tháng 3/1973 báo chí loan tin giải Nobel Ḥa b́nh năm 1972 đă được giành cho Lê Đức Thọ và Kissinger, những người đă góp phần quan trọng kư kết Hiệp định Paris về Việt Nam. Chỉ có Kissinger tới nhận giải c̣n Lê Đức Thọ từ chối. Tuy nhiên chính bởi quyết định trao giải này, người ta đă chứng kiến một giải thưởng uy tín nhất thế giới đă bị tên đế quốc đầu sỏ lũng đoạn như thế nào: chính nghĩa và phi nghĩa đă bị đánh tráo. Giải Nobel đă có những vết đen như thế đó.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Jan 31 2013, 06:30 PM
Post #113



Cấp 2
**

Group: Members
Posts: 280
Thank(s): 0
Joined: 02-07-12
Member No.: 24,144



Những bài viết rất hay, rất quư bác VuHungAnh ag. Cách đây độ gần 1 năm , Hậu bối tôi có dịp học về Vấn đề này. C̣n được t́m hiểu về một vài vấn đề khác nữa, ví dụ : Vấn đề chiếc bàn đàm phán ; Tại sao Hiệp định này được kư tại Pháp mà không phải tại Mỹ, Việt Nam ...hay ....một nơi nào khác..?....


Mong bác VuHungAnh bổ sung thêm vào đây cho trọn bộ sưu tập nha.



Ông Lê Đức Thọ - mặc dù không nhận giải Nobel Năm ấy (1973). Nhưng ít ra, người Việt Nam cũng tự hào v́ đă từng có 1 con người được thế giới vinh danh, trao cho giải thưởng cao quư mang tầm cỡ thế giới này - giải Nobel .

Giaỉ thưởng mà ngày nay thế giới cần phải trao thật nhiều hơn nữa. Nhưng đạt được nó th́ không phải dễ. Thế giới của chúng ta ngày càng bất ổn, chiến tranh bạo loạn triền miên. Mong muốn 1 thế giới ḥa b́nh, ổn định là ước mơ của cả loài người.

This post has been edited by khonggiadinh79: Feb 2 2013, 12:31 PM
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Feb 1 2013, 09:20 PM
Post #114



Cấp 1
*

Group: Members
Posts: 87
Thank(s): 0
Joined: 20-08-10
Member No.: 14,273



Đọc những tư liệu này cảm thấy tự hào v́ ḿnh là ng VN.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Feb 3 2013, 11:16 AM
Post #115



Cấp 4
****

Group: Administrators
Posts: 847
Thank(s): 21
Joined: 03-07-11
Member No.: 19,938



QUOTE (khonggiadinh79 @ Jan 31 2013, 06:30 PM) *
Những bài viết rất hay, rất quư bác VuHungAnh ag. Cách đây độ gần 1 năm , Hậu bối tôi có dịp học về Vấn đề này. C̣n được t́m hiểu về một vài vấn đề khác nữa, ví dụ : Vấn đề chiếc bàn đàm phán ; Tại sao Hiệp định này được kư tại Pháp mà không phải tại Mỹ, Việt Nam ...hay ....một nơi nào khác..?....

Mong bác VuHungAnh bổ sung thêm vào đây cho trọn bộ sưu tập nha.
......

Bạn khonggiadinh79 đă có gợi ư rất hay. Những nội dung đó sẽ được đề cập đến vào dịp thích hợp. Cảm ơn bạn.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Feb 3 2013, 11:22 AM
Post #116



Cấp 4
****

Group: Administrators
Posts: 847
Thank(s): 21
Joined: 03-07-11
Member No.: 19,938





83 năm Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930-3/2/2013)





Lịch sử Đảng cũng chính là lịch sử dân tộc

Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) ra đời ngày 3/2/1930 trong băo táp của cuộc đấu tranh chống thực dân và phong kiến đầu thế kỷ trước.

Ngay khi vừa ra đời, Đảng đă lănh đạo nhân dân đứng lên làm cách mạng trong phong trào nổi dậy 1930 – 1931, đỉnh cao là Xô-viết Nghệ Tĩnh với mục đích thành lập chính quyền Xô viết, nhưng phong trào đă bị thất bại và bị d́m trong biển máu.

Liên tiếp trong những năm sau đó các lănh tụ của Đảng lần lượt bị bắt và bị sát hại dă man là các Tổng bí thư Trần Phú (1904-1931, Tổng Bí thư đầu tiên của Đảng), Lê Hồng Phong (1902-1942, Tổng Bí thư thứ 2 của Đảng), Hà Huy Tập (1906-1941, Tổng Bí thư thứ 3 của Đảng), Nguyễn Văn Cừ (1912-1941, Tổng Bí thư thứ 4 của Đảng, hậu duệ đời thứ 17 của cụ Nguyễn Trăi)… cũng nhiều lănh tụ khác.

Mỗi chúng ta không thể nào cầm ḷng được khi đọc lại những ḍng lịch sử hào hùng của Đảng. Những lănh tụ của Đảng ngă xuống đă trở thành tấm gương cực kỳ sáng chói cho toàn dân tộc noi theo trên bước đường cách mạng chông gai kể từ đó cho tới hôm nay và măi măi về sau.


Tuy nhiên do được vũ trang bởi lư luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh sáng suốt soi đường cùng với ḷng yêu nước vô bờ bến của quảng đại nhân dân, Đảng đă dẫn dắt toàn dân tộc làm cách mạng Tháng Tám thành công, lập nên nhà nước công nông đầu tiên trên mảnh đất Việt h́nh chữ S.

Kể từ đó, Đảng lại dẫn dắt toàn dân tộc đánh Pháp, đuổi Nhật, đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào, thống nhất đất nước và bắt tay vào xây dựng đất nước cho đến ngày nay.

Tuy mang nhiều tên gọi khác nhau trong mỗi giai đoạn cách mạng cụ thể như Đảng Cộng sản Việt Nam (2/1930-10/1930), Đảng Cộng sản Đông Dương (10/1930-1/1951), Đảng Lao động Việt Nam (1/1951-12/1976) và Đảng Cộng sản Việt Nam (10-1976 đến nay) nhưng Đảng ta về bản chất chỉ có một, đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Vai tṛ lănh đạo tuyệt đối và duy nhất của Đảng không phải tự nhiên mà có, mà đó chính là kết quả của cả chặng đường từ khi ra đời cho đến hiện nay Đảng là đội ngũ tiên phong duy nhất lănh đạo cả dân tộc từ trong máu lửa cách mạng đi đến thắng lợi ngày nay.

Không một tổ chức nào khác có đủ tư cách lănh đạo cách mạng VN hoặc thể so sánh được với Đảng Cộng sản VN. Vai tṛ lănh đạo duy nhất của Đảng đă được quy định trong hiến pháp CHXHCN Việt Nam.

Đảng trong giai đoạn cách mạng mới

Trong lịch sử VN, từ khi có nhà nước Việt đầu tiên cách nay gần 4000 năm, mỗi một triều đại sinh ra, phát triển cực thịnh rồi đi đến suy tàn và được thay thế bằng một triều đại khác tiếp nối. Đó là một sự thật, cho đến khi thời đại Hồ Chí Minh ra đời.

Sự sinh ra rồi suy tàn của các triều đại chính là do các triều đại ấy không phải là của nhân dân và cũng không được dựa trên nền móng vững chắc là triết lư về nhà nước và pháp quyền do dân v́ dân, trong đó không có một tổ chức, một đảng có lư luận khoa học dẫn đường.

Hiện nay, sau những thắng lợi kỳ vĩ giành được và lập nên nhà nước CHXHCNVN, lời nguyền cũ đang quay trở lại: sự suy tàn đang treo lơ lửng trên đầu chúng ta như thanh gươm Damocles. Những lănh đạo uy dũng trong chiến tranh thuở xưa nay đă nhường bước cho con cháu của họ như một kiểu cha truyền con nối. Mặt khác, sự thoái hóa trong đội ngũ cán bộ đảng viên các cấp đă thúc đẩy càng nhanh thời điểm suy tàn mau đến.

Nhân dân chán nản với sự tŕ trệ và lũng đoạn của tầng lớp quan lại mới dường như càng làm cho chén nước dâng đầy chực chờ tràn ly. Dường như không c̣n chân lư nữa, mọi thứ đang lộn ngược với nếp sống b́nh thường, người ngay lại sợ kẻ gian…

T́nh h́nh này buộc Đảng phải tiến hành chỉnh đốn lại, buộc phải thực hiện lời dạy của Bác Hồ cách đây gần 50 năm khi Người viết trong Di chúc vào năm 1967: “… việc đầu tiên cần phải làm sau khi thống nhất đất nước là chỉnh đốn lại Đảng…”. Chỉnh đốn Đảng trước hết và thực chất chính là chỉnh đốn cán bộ.

Xét về bản chất, Đảng ta là một đảng Macxit – Lennit, tức là một đảng lấy thế giới quan Mac-Lenin làm kim chỉ nam, trong đó chủ nghĩa duy vật biện chứng là nền tảng. Điều đó có nghĩa bất cứ hành động nào, lời nói nào, việc làm nào cũng phải xuất phát từ thực tế v́ vật chất có trước và quyết định ư thức, thực tế là tiêu chuẩn tối thượng của mọi việc làm và hành động và thực tế ấy phải trên quan điểm của nhân dân, của dân tộc, của thời đại.

Trăm ngh́n vạn triệu sai lầm đều xuất phát từ sự vi phạm cái nền tảng tư tưởng này của Đảng. Người ta căng mắt ra mà nh́n nhưng vẫn không thấy được sự thật, ấy là do lợi ích cá nhân và lợi ích nhóm, chứ không phải lợi ích của đất nước và dân tộc, làm cho mù mắt rồi. Lại có nhiều người cũng nh́n măi mà không thấy ǵ, ấy là v́ những người đó không có khả năng thấu thị để nh́n cho ra sự thật hoặc bị đặt nhầm chỗ hoặc chiếm ghế của người khác rồi và việc ấy không đơn thuần chỉ là chuyện có “một chỗ kiếm cơm tốt” nữa, mà c̣n làm ảnh hưởng đến bao nhiêu người khác v́ khả năng kém cỏi của họ...

Hơn lúc nào hết Đảng ta phải nh́n thẳng vào sự thật và nh́n cho ra sự thật, làm cho đúng như sự thật chỉ bảo cần phải như thế, dù có phải đau đớn vật vă đến thế nào chăng nữa, cho xứng đáng với những tấm gương của các bậc tiền bối đă ngă xuống để chúng ta có được ngày hôm nay, để cho mỗi mùa xuân về là chúng ta lại đón ngày sinh nhật Đảng như chính ngày sinh nhật của chính ḿnh:



Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Feb 3 2013, 02:46 PM
Post #117



Cấp 2
**

Group: Members
Posts: 238
Thank(s): 7
Joined: 07-03-10
Member No.: 11,251



Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn: "Lẽ sống niềm tin” từ một bài ca


Cả một đời ông “đắm đuối” với chủ đề về Đảng, về các anh hùng liệt sĩ, về “tập thể lớn” là nhân dân để viết lên những bài ca đi cùng năm tháng. Ông lại được anh em, bạn bè phong tặng danh hiệu “người “ga lăng” nhất toàn quân”, “sáng tác nhạc hay, chỉ đạo nghệ thuật giỏi mà vẽ cũng tài”. Tuy nhiên, ông chỉ tự nhận ḿnh là một hạt muối bé nhỏ và là một hạt muối không đến nỗi vô vị giữa đại dương đời mênh mông.

Trong những ngày cả nước đang vui mừng chào đón mùa Xuân thứ 83 của Đảng th́ nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn lại một lần nữa được nhắc nhớ tới với vai tṛ là tác giả của một trong những ca khúc hay nhất về Đảng - ca khúc Đảng là cuộc sống của tôi.

Người “ga lăng” nhất toàn quân

Đến thăm nhà đại tá, nhạc sĩ, họa sĩ Nguyễn Đức Toàn trong khu tập thể cũ của Hà Nội một ngày cuối năm, tôi may mắn được chứng kiến một cuộc viếng thăm bất ngờ của Hội Cựu chiến binh đầy “chất lính” và rất cảm động tại nhà ông.

Cuộc thăm viếng người nhạc sĩ già đă bước sang tuổi 84 chỉ diễn ra chóng vánh chừng 15 phút v́ “không muốn làm gián đoạn cuộc tṛ chuyện của nhạc sĩ và nhà báo” nhưng thật cảm động và đă cho thấy những người lính già xưa vốn là văn công của Đoàn văn công Tổng cục Chính trị - nơi nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn từng công tác - đă dành nhiều sự kính trọng và mến mộ đối với ông như thế nào.

Tất cả đều quên hết việc ḿnh đă trở thành những ông già, bà già, lại cùng nhau say sưa hát “Quê em miền trung du đồng quê lúa xanh rờn…”, “Nghe xuân sang trên bến cảng, đàn hải âu tung cánh bay rợp trời…”, “Chưa có bao giờ đẹp như hôm nay, non nước mây trời làm ta mê say”…

Bác Xuân Cầu vừa hát vừa tranh thủ giới thiệu về “nhân vật chính”: “Anh em trước đây đều phong nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn là người duyên nhất toàn quân, người “ga lăng” nhất toàn quân đấy. Ông ấy là một người toàn tài mà, sáng tác nhạc hay, chỉ đạo nghệ thuật giỏi mà vẽ tranh cũng tài nữa”!

Như muốn khẳng định thêm lời nói của bác Xuân Cầu, cô Lê Danh Dung - cựu diễn viên múa của Đoàn văn công quân giải phóng Trị Thiên tiếp lời: “Mấy chục đoàn văn công quân đội khi ấy ai cũng yêu quư nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn”.

C̣n về phần ḿnh, trao đổi với tôi, ông chỉ tâm niệm: “Cũng thấy ḿnh có một số thành tựu, vài bài hát cũng được đi vào ḷng công chúng. Nhưng càng sống lâu trong cuộc đời, tôi càng thấy ḿnh nhỏ bé lắm, chẳng qua cũng chỉ là một hạt muối giữa biển. Đại khái nó cũng chỉ là một hạt muối bé nhỏ mang chút mặn ṃi của biển cả, không đến nỗi vô vị".

Một bài hát trữ t́nh về Đảng



Khi những người bạn già đă ra về để “trả lại” người nghệ sĩ “toàn tài” cho tôi, nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn bắt đầu kể về bài hát hay nhất về Đảng của ông, cũng là một trong những bài bát hay nhất về Đảng cho đến nay - bài Đảng là cuộc sống của tôi.

Ông kể, ông không thể nhớ bài hát đầu tiên mà ông viết về Đảng là bài nào, càng không nhớ bài hát đầu tiên ấy ông viết vào năm nào, bởi ông đă viết rất nhiều ca khúc về Đảng. “Hầu như lần Đại hội Đảng nào ông cũng có ca khúc về Đảng” - nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn cho biết.

Hỏi về hoàn cảnh sáng tác bài hát hay nhất về Đảng của ông, ông bảo, đối với một người chép sử hay các nhà báo th́ họ hay quan tâm đến hoàn cảnh sáng tác của các ca khúc, chứ đối với một nhạc sĩ như ông th́ hầu như chẳng bao giờ nhớ được. Lí do là bởi “cảm xúc để viết bài hát thường đến rất tự nhiên, giống như ḍng nước chảy theo ṿng tuần hoàn từ khi hạt mưa rơi xuống đổ vào suối vào sông rồi ra biển”, vậy thôi!

Bài Đảng là cuộc sống của tôi được ông viết năm 1976, sau một năm cả nước mừng chiến thắng. Nhưng đồng thời, đó cũng là năm cả nước phải đón nhận nhiều thử thách trong thời kỳ mới… “Bài hát Đảng là cuộc sống của tôi ra đời trong giai đoạn đó. Cảm xúc để viết bài hát đến rất tự nhiên” - nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn tâm sự - "Khi viết về Đảng th́ ít khi người ta viết bằng bút pháp trữ t́nh. Nhưng bài Đảng là cuộc sống của tôi lại là một bài hát trữ t́nh chứ không phải một bài hùng ca hoành tráng".

“Đảng là cuộc sống của tôi, măi măi đi theo người/ Từ thuở c̣n thơ đời tôi chưa quen sóng gió/ Đảng đă cho tôi lẽ sống niềm tin, giữa biển khơi biết đâu là bờ/ Bầu trời xanh chưa thấy bao giờ…” Nhạc sĩ Nguyễn Đức Toàn tâm niệm, đây chính là tâm sự, là tiếng ḷng của ông với Đảng, cũng là tiếng ḷng của mọi người lúc bấy giờ đối với Đảng. Nó là một cái ǵ đó thân thuộc, máu mủ, rất tự nhiên. Niềm tâm sự: “Đảng đă cho tôi lẽ sống niềm tin” cũng chính là tâm sự của các thế hệ người Việt Nam. Bởi vậy mà bài hát đă nhanh chóng được phổ biến trong công chúng và tiếp tục sống cho tới ngày nay.

Theo Thể thao Văn hóa
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Feb 19 2013, 06:46 PM
Post #118



Cấp 4
****

Group: Administrators
Posts: 847
Thank(s): 21
Joined: 03-07-11
Member No.: 19,938



Lần đầu tiên kể từ cuộc chiến biên giới 1979, báo chí Việt Nam mới công khai và rầm rộ nói về cuộc chiến tranh này. Một cuộc chiến mà người ta cứ né tránh nó để rồi 34 năm sau buộc phải nói về nó như chính sự thật và chính nhân dân đ̣i hỏi phải như thế.



Kỷ niệm 34 năm chiến tranh biên giới phía Bắc 1979:
P̣ Hèn c̣n măi khúc ca


Địa danh P̣ Hèn được biết đến như một bản hùng ca của cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới, nhưng P̣ Hèn càng nổi tiếng hơn khi những ca khúc viết về mảnh đất này dành nhiều ngợi ca Hoàng Thị Hồng Chiêm, cô gái mậu dịch viên của cửa hàng thương nghiệp P̣ Hèn đă hi sinh khi chiến đấu vào sáng 17/2/1979.

Cả ba ca khúc viết về Hoàng Thị Hồng Chiêm đều của những nhạc sĩ, ca sĩ nổi tiếng sáng tác và tŕnh bày. Ngoài Bài ca trên đỉnh P̣ Hèn của nhạc sĩ Thế Song qua giọng ca Lê Dung, c̣n có Bông hoa Hồng Chiêm của nhạc sĩ Dân Huyền với tiếng hát Kiều Hưng và Người con gái trên đỉnh P̣ Hèn của nhạc sĩ Trần Minh do Tuyết Nhung tŕnh bày. Cả ba tác phẩm ấy đều đă được lưu lại trong tâm trí bạn yêu nhạc từ đó đến nay.


Anh Hoàng Văn Lợi (trái), em trai liệt sĩ Hoàng Thị Hồng Chiêm,
bên bức tượng của chị ở Trường THCS B́nh Ngọc (Móng Cái)

Căn nhà ấy nằm ngay trên đường từ Móng Cái ra B́nh Ngọc. Cái rẻo đất ngay địa đầu biên giới nhô ra như một vành đai che chắn cho Móng Cái từ phía biển, phía bắc là địa bàn của phường Trà Cổ - nơi có mũi Sa Vĩ, nơi bắt đầu đặt nét bút để vẽ chữ S của bản đồ nước Việt, và phần c̣n lại phía nam là phường B́nh Ngọc với mũi Ngọc cũng nổi tiếng không kém khi từ đây nối lên mũi Sa Vĩ làm thành băi biển có chiều dài 17 cây số, được công nhận kỷ lục Guinness là băi biển dài nhất nước!

Người con gái B́nh Ngọc

Con đường từ Móng Cái ra B́nh Ngọc đang được mở rộng c̣n ngổn ngang bùn đất, dễ nhận ra căn nhà có tấm biển kẻ sơn đỏ lên vách tường ghi “Nhà t́nh nghĩa - ngành thương mại Quảng Ninh và UBND huyện Hải Ninh tặng”. Đấy là món quà t́nh nghĩa của quê hương và đồng đội dành tặng gia đ́nh Hoàng Thị Hồng Chiêm sau sự hi sinh của chị.

Trên đường từ Móng Cái ra B́nh Ngọc, anh Hoàng Như Lư (cựu binh P̣ Hèn tháng 2/1979) cứ nhắc măi với chúng tôi h́nh ảnh chị Chiêm ngày xưa, ấn tượng nhất là đôi giày bata màu xanh gần như bất ly thân của chị. Trận chiến sáng 17/2 chống lại quân Trung Quốc năm ấy, nhiều cán bộ chiến sĩ của đồn P̣ Hèn cũng bất ngờ trước khả năng sử dụng vũ khí của cô gái mậu dịch viên. Hóa ra trước khi chuyển ngành về cửa hàng thương nghiệp P̣ Hèn, Hồng Chiêm từng có mấy năm đi bộ đội.

Trước khi cuộc chiến tranh biên giới nổ ra chừng một tuần, các khối lâm trường, thương nghiệp... đă được lệnh lùi về tuyến sau. Cửa hàng bách hóa thương nghiệp P̣ Hèn cũng thế, chỉ c̣n một ít hàng được giữ ở kho. Anh em thay nhau lên trông coi, bảo vệ. Chiều 16-2, Chiêm được lệnh lên cửa hàng cũ dọn dẹp một số hàng ở kho, tiện dịp cũng qua thăm Lượng, người yêu của chị, đang là cán bộ đội vận động quần chúng của đồn biên pḥng P̣ Hèn. Dọn dẹp, niêm phong kho xong, từ cửa hàng thị trấn Hồng Chiêm lên đồn xem trận bóng chuyền của anh em. Lượng cũng là một tay đập chủ công của đội bóng đồn.

Sáng hôm sau khi trận đánh bất ngờ diễn ra, từ cửa hàng Hồng Chiêm chạy về phía đồn, sát cánh chiến đấu cùng anh em chiến sĩ.

Và những nhân vật trong khoảnh khắc đó đều có trên tấm bia tưởng niệm. Trên bia, ngoài liệt sĩ Đỗ Sĩ Họa đầu tiên, tên của liệt sĩ Bùi Văn Lượng, người yêu chị Chiêm, có thứ tự là 5, liệt sĩ Nguyễn Văn Dụng xếp thứ 21, Nguyễn Văn Mừng xếp thứ 26 và Hoàng Thị Hồng Chiêm xếp thứ 59. Không chỉ có duy nhất chị Chiêm là nữ liệt sĩ hi sinh trong trận đánh bảo vệ biên giới ấy, trên bia chúng tôi c̣n thấy khá nhiều nữ liệt sĩ có tuổi đời chỉ mới 17-20 như liệt sĩ Nguyễn Thị Ruỗi sinh năm 1962, quê Tiên Lăng (Hải Pḥng) cũng hi sinh vào sáng 17/2/1979 ấy, hay liệt sĩ Vũ Thị Tới sinh 1961 (18 tuổi), rồi Đặng Thị Vượng, Đỗ Thị Mâu, Hoàng Thị Nết, Nguyễn Thị Lèn, Vũ Thị Mười, Cao Thị Lừng... Những cô gái tự vệ lâm trường Hải Ninh ấy, khi ngă xuống h́nh như chưa cô nào có người yêu như chị Chiêm...


Mai sau dù có bao giờ...

Tiếp chúng tôi trong căn nhà t́nh nghĩa của ngành thương mại xây tặng là anh Hoàng Văn Lợi, em trai của chị Chiêm. Trong gia đ́nh, chị Chiêm là con thứ ba, cũng thật bất ngờ khi được biết người chị ruột của Hồng Chiêm, chị Hoàng Thị Liễm, là vợ của trung tướng, anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Đoàn Sinh Hưởng, tướng Hưởng cũng là người quê ở phường B́nh Ngọc (Móng Cái) này.

Trên bàn thờ, tấm h́nh chị Chiêm được truyền thần từ một tấm h́nh chụp chị mặc quân phục bộ đội và mũ tai bèo sang áo dài truyền thống. Anh Lợi bảo: Chị Chiêm ngoài đời thật c̣n xinh hơn trong tấm h́nh đang thờ, nhất là đôi mắt như có lửa. Năm 1972 chị Chiêm đi bộ đội, đóng quân ở Quảng Yên th́ Lợi c̣n rất nhỏ. Biên giới thuở ấy cũng đang b́nh yên. Kư ức của Lợi là lần chị Chiêm về phép, tranh thủ chủ nhật nghỉ đưa mấy em sang Đông Hưng (thành phố giáp biên Móng Cái của Trung Quốc) đi chơi, mua cho mấy chiếc kẹo. Sau năm 1975, xuất ngũ th́ chị Chiêm chuyển sang ngành thương nghiệp và lên bán hàng ở P̣ Hèn. Chặng đường từ P̣ Hèn về B́nh Ngọc chỉ hơn 50 cây số nhưng thuở ấy đường sá khó khăn lắm, không thể thường xuyên về nhà được, mấy năm về sau t́nh h́nh căng thẳng chị Chiêm lại càng ít về hơn.

Buổi sáng 17/2/1979 chị Chiêm hi sinh nhưng phải mấy ngày sau gia đ́nh mới nhận được tin báo. Mộ chị cũng được an táng ở khu vực Tràng Vinh, sau đó khu vực này xây cất một công tŕnh ǵ đó nên được quy tập về địa bàn khác, nhưng người được giao nhiệm vụ báo tin cho gia đ́nh lên cất bốc lại quên mất. Mộ chị Chiêm được quy tập về xă Hải Ḥa nhưng gia đ́nh không hề biết. Măi sau này một người bà con trong thôn khi đi viếng mộ người thân ở nghĩa trang Hải Ḥa, thấy tên tuổi chị Chiêm trên bia mới vội vă chạy về báo cho biết và sau đó anh chị em mới đưa hài cốt chị Chiêm quy tập về nghĩa trang gia đ́nh.


Sau khi Hoàng Thị Hồng Chiêm hi sinh, năm 1984 tên chị được đặt cho ngôi trường cấp II xă B́nh Ngọc là Trường trung học cơ sở Hoàng Thị Hồng Chiêm. Sân trường có bức tượng chị Chiêm bằng ximăng đặt trên bệ đá, tay trái cầm khẩu AK, tay phải cầm thủ pháo, mắt nh́n thẳng kiên nghị về phía trước. Bao thế hệ học tṛ B́nh Ngọc đă được học dưới mái trường mang tên chị, thấm đẫm niềm tự hào về người nữ liệt sĩ của quê hương và ngày ngày hát vang lớp học những bài ca ca ngợi tấm gương liệt nữ.

Theo chân người em ruột của chị Chiêm ra thắp nhang cho chị, chúng tôi chợt thấy se ḷng. Nén nhang thắp như chực tắt trước cơn gió bấc buốt giá cứ thổi bạt đi, và khi nhang bén chợt bốc cháy rừng rực trong buổi chiều cuối năm ở cuối trời đông bắc địa đầu đất nước... (Theo Tuổi Trẻ)
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Feb 24 2013, 12:16 PM
Post #119



Cấp 4
****

Group: Administrators
Posts: 847
Thank(s): 21
Joined: 03-07-11
Member No.: 19,938



… Nhiều năm qua, ở VN gần như không đưa tin tức ǵ về cuộc chiến tranh biên giới 1979 cả. Đây là rơ ràng là một sự bất b́nh thường trên nhiều phương diện: cả sự giáo dục ḷng yêu nước, truyền thống chống ngoại xâm, lịch sử dân tộc lẫn tâm tư t́nh cảm của nhân dân đối với những người thân đă ngă xuống trong cuộc chiến tranh này. Sự thiếu sót đó là không thể nào biện hộ được, dù chỉ là ngụy biện đi chăng nữa. Xét thấy sự cần thiết phải hiểu cho rơ vấn đề này, VHA xin giới thiệu bài viết sau đây đă đăng trên Thanh Niên.


Nh́n lại chiến tranh biên giới 1979


Đúng 34 năm trước (17/2/1979), Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, nhưng đă phải rút quân sau hơn một tháng gặp sự kháng cự mănh liệt của quân và dân ta, chịu nhiều tổn thất nặng nề.

Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược, Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nh́n nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết.

Kể từ sau khi VN và TQ b́nh thường hóa quan hệ (1991), hai bên dường như đều không muốn nhắc lại cuộc chiến này. Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Theo ông tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lăng quên như vậy?

Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ư như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15... hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền h́nh của VN gần như không đưa tin ǵ về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đă bỏ ḿnh để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2/1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đ́nh vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ ǵ về chuyện này? Đă có ư kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện.

Trong khi chúng ta im lặng th́ những dịp đó chúng tôi đă thống kê hệ thống phát thanh, truyền h́nh báo chí của TQ tung ra trung b́nh từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN”. Có thông tin cho rằng hiện tại có tới trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội VN đă vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền của TQ đă nhồi nhét vào đầu người dân TQ rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của VN.

Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, cả ở kênh nhà nước, nhân dân và trên truyền thông, chúng ta phải làm rơ và góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rơ bản chất của cuộc chiến tranh Việt - Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỉ người TQ biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân TQ đă vượt biên giới xâm lược VN. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là không đúng. Việc nói ra cũng không liên quan ǵ chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hăy thử so sánh chuyện đó với việc TQ tung ra hàng ngh́n bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua.

Với độ lùi về thời gian, theo ông chúng ta có thể rút ra những điều ǵ từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ư nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ?

Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm đă là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Thế nhưng đến giờ phút này tôi có cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới.

Vấn đề thứ nhất, phải xác định rơ về mặt khoa học, cuộc chiến 1979 là cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề phải nhận thức rơ từ cấp cao nhất. Sự nhận thức ấy cũng phải được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.


Bệnh viện huyện Trùng Khánh (Cao Bằng) bị quân
Trung Quốc tàn phá tháng 2/1979 (Ảnh tư liệu)

Không chỉ nhận thức mà Nhà nước phải có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết ǵ về cuộc chiến tranh này. Nếu để t́nh trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chắc chắn chúng ta sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đă bỏ ḿnh để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc của Tổ quốc, tại sao không có một ḍng nào nhắc đến họ? Bây giờ đă quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Theo quan điểm của tôi, Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ được, không thể lờ đi vấn đề lịch sử này được.

Tôi đă nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ đă thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân TQ xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo tŕnh lịch sử của VN. Tôi đă phải chống chế với lư do rằng người VN muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản đă phản bác tôi v́ “Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói rằng: “Chúng tôi biết người VN rất nhân hậu, muốn ḥa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế cho trang sử chống ngoại xâm này được”.

Thứ hai, trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Ngay cả Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm về độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rơ cái ǵ là trường tồn? Theo tôi có 3 thứ là chủ quyền quốc gia, ư thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây chúng ta phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn với ḷng yêu nước chân chính, ư thức tự tôn tự hào dân tộc. Hai cái đó khác nhau. Người VN có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người VN trong và ngoài nước.

Chủ quyền quốc gia, ư thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những cái “dĩ bất biến”, những cái c̣n lại là “ứng vạn biến”. Những chuyện “16 chữ”, “bốn tốt” trong quan hệ với TQ là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này th́ rất nguy hiểm.

Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí để phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7/2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy có một quan điểm bây giờ vẫn đúng, đó là: "Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác b́nh đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh". Đồng thời, cũng phải có cách nh́n biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh.


Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng

Nh́n lại từ câu chuyện của 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề biển Đông, theo ông có thể hy vọng ǵ ở tương lai trong quan hệ giữa VN và TQ?

Tạo ra ḷng tin, sự hữu nghị chân thật giữa hai nước là con đường tất yếu nhưng đ̣i hỏi thời gian lâu dài và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng có được trong vài ba năm tới đây. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được ḥa b́nh, ổn định, giữ được độc lập tự chủ th́ điều quan trọng nhất là giữ được ḷng dân. Trên dưới một ḷng, có được sự đoàn kết dân tộc th́ chắc chắn không có kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử VN đă cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân:

- Năm 179 trước CN An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù th́ chuyện mất nước là không thể tránh khỏi.

- Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng v́ đă mất dân. Đến mức độ nhà Minh truy bắt cha con Hồ Quư Ly th́ chính những người trong nước đă chỉ điểm cho quân Minh.

- Năm 1788 Lê Chiêu Thống sang cầu viện Măn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là ông vua đă mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia. (Theo Thanh Niên)
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Mar 14 2013, 04:02 PM
Post #120



Cấp 4
****

Group: Administrators
Posts: 847
Thank(s): 21
Joined: 03-07-11
Member No.: 19,938




Ghi nhớ sự kiện 25 năm trước, 64 chiến sĩ Việt Nam đă hy sinh trong trận chiến đấu chống
quân Trung Quốc đánh chiếm băi đá ngầm Gạc Ma thuộc quần đảo Trường Sa của chúng ta:



Trung Quốc là kẻ xâm lược!



Đă nhiều lần người viết nhắc lại những ư kiến không mới về bộ mặt thật của giới cầm quyền Trung Quốc, là: họ luôn luôn là kẻ tiền hậu bất nhất, luôn lợi dụng lúc hàng xóm suy yếu để đâm những nhát dao trí mạng vào mạng sườn nhằm hạ gục bạn bè, đảng cầm quyền của họ không hề là cộng sản và sự cố t́nh lờ đi những điều đă xảy ra trong lịch sử của truyền thông nước ta do được chỉ đạo từ trên xuống là không thể chấp nhận được dù chỉ là bằng ngụy biện! Cho đến những ngày gần đây, truyền thông của chúng ta đă đề cập công khai đến những sự kiện mà những ngày trước đó và mấy chục năm qua c̣n bị lờ đi. Đặc biệt ngày hôm nay, 14/3/2013 tức là đúng ngày này 25 năm về trước, Trung Quốc đă nổ súng đánh chiếm băi Gạc Ma của chúng ta làm 64 chiến sĩ Việt Nam anh dũng hy sinh, báo Thanh Niên đă có bài viết chính thức và rơ ràng công khai trên công luận tất cả những điều này:


Tại sao Trung Quốc đánh chiếm các đảo của Việt Nam vào tháng 3/1988?

Từ đầu năm 1988, Trung Quốc đă sử dụng một lực lượng lớn hải quân gồm nhiều tàu chiến chiếm đóng một loạt đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Cao trào của hành động xâm lược này diễn ra vào ngày 14/3/1988 khi biên đội gồm 6 tàu chiến, trong đó có 3 tàu hộ vệ có trang bị tên lửa và pháo 100 mm, của Trung Quốc đă bắn ch́m và cháy 3 tàu vận tải của Việt Nam tại băi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Trong vụ thảm sát này, 64 binh sĩ Việt Nam đă anh dũng hy sinh. Sau đó Trung Quốc c̣n ngăn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu những người bị thương, bị nạn.

Điều phải lưu ư là đây là lần đầu tiên người Trung Quốc (lục địa) đặt chân đến Trường Sa. Trước đó, với tư cách quan phương, Trung Quốc chưa bao giờ có mặt ở vùng biển này.

Đă một phần tư thế kỷ trôi qua, từ sự kiện 14/3/1988, có những điều cần phải nói rơ như sau:

Đầu tiên, ngay sau ngày 14/3/1988, thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ của ḿnh, Trung Quốc đă ngang nhiên bịa đặt trắng trợn với dư luận trong nước và quốc tế rằng: Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc (LHQ) đi khảo sát khoa học tại Trường Sa th́ bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công. V́ thế hải quân Trung Quốc bắt buộc phải đánh trả tự vệ!


Tàu HQ505 đă lao lên băi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14/3/1988

Sau đó thông qua người phát ngôn của ḿnh, Tổng thư kư Liên Hợp Quốc đă nói rơ: không hề có tàu của LHQ tổ chức khảo sát khoa học ở Trường Sa vào 3.1988!

Rơ là “cháy nhà ra mặt chuột” và chính quyền Trung Quốc đă “lấy thúng úp voi”, đă “lấy thịt đè người” lại c̣n muốn lấy tay che mặt trời!
Đă không có tàu khảo sát khoa học của LHQ th́ chắc chắn không có việc tàu chiến Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. Điều mà nhiều người đều biết đó là chuyện “ngậm máu phun người” là sở trường của các nhà cầm quyền Trung Quốc.

Trước đó, năm 1962 Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Ấn Độ và chiếm của Ấn Độ hàng ngh́n kilomet vuông nhưng lại vu cáo Ấn Độ xâm lược Trung Quốc. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục đem 60 vạn quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Bắc. Sự việc rơ ràng như vậy nhưng cũng được họ tuyên truyền là “phản kích tự vệ quân Việt Nam xâm lược”!

Thứ hai, có một câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại tiến hành đánh chiếm các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 3/1988?

Cuối 1987 đầu 1988 là thời kỳ Việt Nam rơi xuống điểm thấp nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế - xă hội. T́nh h́nh trong nước chồng chất khó khăn: kinh tế đ́nh đốn, đời sống của đại đa số người dân cực kỳ vất vả.

Cũng trong thời điểm đó, Liên Xô cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng chính trị - xă hội. Bắc Kinh cúi ḿnh trước Washington, tự nhận là “NATO phương Đông” để nhận được nguồn tài chính và công nghệ, kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa. Trong bối cảnh ấy, Trung Quốc cũng đă câu kết với Mỹ và hầu hết các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia) siết chặt ṿng bao vây, cấm vận đối với Việt Nam.

Lợi dụng t́nh thế khó khăn đó của Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa phục vụ cho ư đồ lâu dài.

Trung Quốc cũng là bậc thầy trong việc lợi dụng thời điểm. Mặc dù đă đưa lực lượng ra Trường Sa và có những hoạt động đe dọa từ đầu năm 1988, nhưng thời điểm được Trung Quốc lựa chọn nổ súng rơi đúng vào 14/3/1988 cũng là thời điểm lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được tổ chức tại Hà Nội! Một khi họ đă có dă tâm th́ chuyện “tang gia bối rối” lại trở thành điều có thể lợi dụng được!

Câu chuyện xảy ra ngày 14/3/1988 tại Trường Sa đến nay vẫn c̣n nguyên ư nghĩa thời sự. Sự hy sinh của những người lính Việt Nam 25 năm trước là một lời nhắc nhở tới 90 triệu người đồng bào hôm nay, trước hết là những người có trọng trách với dân tộc, không bao giờ được quên 3 điều:

- Một là, ḷng tin phải được đặt đúng chỗ. Đối với Trung Quốc, điều quan trọng không phải là lời nói mà là hành động. Các đấng quân vương Trung Hoa từ xưa đến nay và từ nay về sau đều là những bậc thầy về nghệ thuật “nói một đàng làm một nẻo”. Tin vào những điều mà giới lănh đạo cấp cao ở Bắc Kinh nói không khác ǵ chuyện “gửi trứng cho ác”!

- Hai là, cần phải hiểu về con đường mà Trung Quốc lựa chọn. Những toan tính và hành động của Trung Quốc liệu có phải là một quốc gia cộng sản đồng chí như họ từng miêu tả hay thực tế là chính sách dân tộc nước lớn vị kỷ?

- Việc vô cớ đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng, bất kể quốc gia đó phát triển theo đường lối nào cũng là đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phản bội đối với chủ nghĩa Marx - Lênin mà Trung Quốc từng sử dụng như một chiêu bài (nghĩa là có cộng sản hay không cộng sản cũng chả có ǵ quan trọng! Và cái mác cộng sản trưng ra chỉ là chiêu bài, là cái bộ cánh con cừu của con chó sói mà thôi).


Láng giềng là vĩnh viễn và không bao giờ thay đổi, trừ phi có một trận siêu động đất đẩy hai quốc gia ra xa nhau!

Việt Nam cần và mong muốn có một mối quan hệ hữu nghị, ổn định, lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ ấy cần được đặt trong sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề “bất biến” là chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức được điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “ứng vạn biến” như “mười sáu chữ”, “bốn tốt” có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu quả lớn cho quốc gia, dân tộc!

Chúng ta đă có được bài học đắt giá khi rơi vào cảnh bị cô lập trên trường quốc tế từ 1979-1990. Bài học ấy cùng với sự kiện 14/3/1988 mách bảo chúng ta rằng bị cô lập không đồng nghĩa với có độc lập, mà ngược lại, bị cô lập sẽ dẫn đến thảm họa, thậm chí mất cả độc lập và chủ quyền quốc gia.

Các nhà sử học Việt Nam chân chính và những người Việt có lương tâm trong sáng sẽ c̣n mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, mổ xẻ, soi xét sự kiện 14/3/1988 một cách khách quan để rút ra bài học bổ ích cho những người Việt hiện nay và các thế hệ mai sau.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lănh thổ của Tổ quốc không thuộc sở hữu riêng của riêng ai. Nó là tài sản lớn nhất, quư giá và quan trọng nhất của cả dân tộc. (theo Liêm Thạch, Thanhnien online)
Go to the top of the page
 
+Quote Post

10 Trang V  « < 4 5 6 7 8 > » 
Reply to this topicStart new topic
1 User(s) are reading this topic (1 Guests and 0 Anonymous Users)
0 Members:

 



Bản vắn tắt Giờ hiện tại:: 20th September 2019 - 05:28 PM
Skin IPB: Invisionpower.fr - IP.Board France