IPB

Chào mừng khách viếng thăm diễn đàn ( Đăng nhập | Đăng ký thành viên )

Loading

Nội quy diễn đàn

 
Reply to this topicStart new topic
> 50 năm xây dựng nền cách mạng âm nhạc
post Feb 24 2009, 03:31 PM
Post #1



Administrator
***

Group: Root Admin
Posts: 685
Thank(s): 3089
Joined: 20-04-07
Member No.: 1



I . Âm Nhạc Việt Nam Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945

Trải qua 4000 năm dựng nước, nhân dân các dân tộc Việt Nam đă sáng tạo nên hằng ngàn bài bản dân ca, dân nhạc, hàng trăm loại nhạc cụ, và nhiều h́nh thức sinh hoạt ca nhạc rất phong phú.

Tới những thập niên đầu thế kỷ 20 th́ nền âm nhạc ấy đă bị bóp nghẹt và bị mai một đi nhiều. Vào những năm đó, thực dân Pháp cho du nhập vào nước ta một số công cụ, phương tiện, h́nh thức tổ chức và hoạt động âm nhạc của phương Tây; thành lập vài dàn nhạc nhà binh, phát triển việc giảng dạy và sinh hoạt ca nhạc trong các nhà thờ, các trường dành cho tín đô công giáo; tổ chức giảng dạy ca nhạc Âu Tây trong một số trường trung học (dạy kư âm Pháp, dạy hát dân ca Pháp và một số bài hát Pháp như bài "Maréchal, nous voilà!" nhằm giáo dục ḷng biết ơn và trung thành với "mẫu quốc"...).

Khoảng năm 1930 trở về sau mới có một số nhạc sĩ Việt Nam được học tập, chủ yếu là tự học một cách rất gian khổ qua một số sách rất hạn chế của nước ngoài - về lư thuyết sáng tác âm nhạc một cách tương đối có hệ thống. Từ đó, bắt đầu xuất hiện những tác phẩm âm nhạc Việt Nam có chính thức ghi tên người soạn nhạc, và có bài bản được ghi bằng phương pháp kư âm hiện đại có thể truyền bá rộng răi.

Những tác phẩm đó đă đánh dấu sự ra đời của âm nhạc cải cách Việt Nam, với h́nh thức chủ yếu lúc này là bài hát.

Trong số những tác phẩm này, bên cạnh những bài theo khuynh hướng lăng mạn, c̣n có nhiều bài hát cách mạng, yêu nước tiến bộ, mở đầu bằng bài “Cùng nhau đi hồng binh” của Đinh Nhu, ra đời trong cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh.

Khoảng từ năm 1941 đến 1945, những bài hát này đă liên tục xuất hiện, như các bài “Tiếng gọi thanh niên”, “Diệt phát xít”, “Tiến quân ca”, “Du kích quân” v.v..., tích cực góp phần giáo dục ḷng yêu nước, tố cáo mạnh mẽ xă hội cũ, giác ngộ giai cấp và giác ngộ dân tộc cho nhân dân ta, kêu gọi nhân dân ta vùng lên đánh đổ thực dân Pháp, phát xít Nhật và bè lũ tay sai.

Tác giả của các bài hát nói trên là các chiến sĩ cách mạng, hoặc là những thanh niên trí thức chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong trào cách mạng do Đảng ta phát động và lănh đạo, mà tiêu biểu là Lưu Hữu Phước, Văn Cao, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đ́nh Thi.

Nh́n chung, trước năm 1945, các luồng âm nhạc cải cách tuy đă xuất hiện, nhưng c̣n rất non trẻ, đội ngũ c̣n mỏng, tŕnh độ nghề nghiệp c̣n hạn chế. Không một trường lớp đào tạo chuyên nghiệp chính quy, không một cơ quan sưu tầm nghiên cứu...

II - Âm Nhạc Việt Nam giai đoạn 1945 - 1954

Cách mạng Tháng Tám 1945 đánh dấu một bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử đân tộc Việt Nam, đồng thời cũng mở ra một bước ngoặt cực kỳ quan trọng trong lịch sử âm nhạc nước ta.

Hầu hết những người hoạt đông âm nhạc trước tháng 8-1945 đều hăng hái tham gia phục vụ cách mạng, trong đó có nhiều người thuộc khuynh hướng lăng mạn cũ, và cả các đoàn quân nhạc của chế độ cũ nữa. Các nhạc sĩ thuộc ḍng nhạc cách mạng và yêu nước tiến bộ trước đây đă trở thành lực lượng ṇng cốt của đội ngũ này. Nhiều bài hát mới đă ra đời, nhiệt thành ca ngợi chế độ mới, cuộc sống mới, Bác Hồ kính yêu và công ơn đổi đời của cách mạng...

Khi giặc Pháp quay trở lại gây hấn ở Nam Bộ (9-1945) rồi đến khi kháng chiến toàn quốc bùng nổ, đông đảo anh chị em làm âm nhạc đă hăng hái tham gia công cuộc chiến đấu thần thánh của dân tộc. Nhiều người đă xung phong ṭng quân.

Trong suốt 9 năm, hằng trăm bài hát mới đă được sáng tác, với nội dung bám rất sát các nhiệm vụ chính trị từng giai đoạn, từng vùng, phản ánh khá sinh động nhiều nét đẹp trong cuộc sống hào hùng của quân và dân ta, khắc họa được nhiều h́nh tượng rất đẹp về các anh bộ đội, về bà con nông dân, về các chị phụ nữ ở hậu phương, về anh chị em thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến, về t́nh quân dân, về Đảng ta và Bác Hồ muôn vàn yêu kính...

Mặc dầu bận trăm công ngàn việc, Bác Hồ kính yêu của chúng ta vẫn dành thời giờ múa hát vui tập thể với cán bộ, với các cháu thiếu nhi yêu quư. Bác thường cầm nhịp chỉ huy mọi người hát bài "Kết đoàn", thể hiện ư chí và sức mạnh tất thắng của nhân dân ta.

Khoảng năm 1949 - 1950 trở về sau, cùng với việc đi sâu vào cuộc sống kháng chiến, thấm nhuần quan điểm đường lối văn hóa văn nghệ của Đảng, những người hoạt động âm nhạc Việt Nam đă ra sức học tập vốn dân gian dân tộc truyền thống. Do vậy, rất nhiều tác phẩm, tiết mục ra đời từ những năm ấy đă có được bản sắc dân tộc đậm đà hơn, đạt được những thành công rất tốt đẹp trong việc kế thừa và phát huy tinh hoa dân tộc cổ truyền, sáng tạo nên ngôn ngữ h́nh thức vừa giàu tính dân tộc, vừa mang hơi thở của thời đại.

Cho đến nay, những bài hát như “Tiếng chuông nhà thờ”, “Du kích sông Thao”, “Sông Lô”, “Người Hà Nội”, “Bộ đội về làng”, “V́ nhân dân quên ḿnh”, “Lời dặn ḍ trước lúc ra đi”, v. v... vẫn măi măi rung động ḷng người, gợi nhớ những h́nh ảnh, những kỷ niệm không thể nào phai của chín năm gian khổ và vô cùng oanh liệt ấy.

Về lực lượng biểu diễn, từ những đội tuyên truyền xung phong, tuyên truyền văn nghệ gồm chừng trên dưới mười người hồi đầu kháng chiến, đến những năm sau chiến thắng biên giới (1950), do đ̣i hỏi mới và do sự lớn mạnh của đội ngũ, một số đoàn biểu diễn với quy mô vài chục người đă được thành lập: Đoàn Văn công Nhân dân T.W. (tiền thân của các nhà hát Ca Múa nhạc, Kịch nói, Chèo T.W. hiện nay), Đoàn văn công Tổng cục Chính trị, Đoàn Quân nhạc cũng được khôi phục, củng cố. Một số khu, liên khu, sư đoàn cũng có đơn vị biểu diễn của địa phương, đơn vị ḿnh.

Trong kháng chiến, một phong trào ca hát nhảy múa quần chúng rất rộng răi đă được xây dựng, thu hút đông đảo bộ đội, cán bộ, dân công, và nhiều tầng lớp nhân dân, nhất là thanh niên, học sinh, thiếu nhi tham gia.

Nhiều nghệ sĩ biểu diễn đă được đông đảo nhân dân yêu mến: như Quốc Hương, Thương Huyền, Mai Khanh...

Trong chín năm đánh Pháp, âm nhạc của ta đă có một bước trưởng thành đáng tự hào. Đội ngũ sáng tác và biểu diễn phát triển khá nhanh, toàn tâm toàn ư phục vụ sự nghiệp kháng chiến vẻ vang của dân tộc.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Feb 24 2009, 03:31 PM
Post #2



Administrator
***

Group: Root Admin
Posts: 685
Thank(s): 3089
Joined: 20-04-07
Member No.: 1



III - Âm Nhạc Việt Nam giai đoạn 1955 - 1975

Sau chiến thắng Điện Biên chấn động địa cầu, ḥa b́nh được lập lại miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, dẩy mạnh khôi phục và phát triển kinh tế, hoàn thành cải cách ruộng đất, rồi tiến hành cách mạng xă hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực.
1. Những năm từ 1955 tới đầu thập kỷ 1960, hàng loạt tác phẩm và tiết mục mới thuộc nhiều thể loại đă xuất hiện, ca ngợi chiến thắng hết sức vẻ vang của ta, ca ngợi quê hương tươi đẹp khi không c̣n bóng giặc, ca ngợi lực lượng ta lớn mạnh và khí thế cách mạng bừng sôi trong giai đoạn mới, như các bài hát: “Quê tôi giải phóng”, “Việt Nam quê hương tôi”, “Những ánh sao đêm”, “Trên đuờng ta đi tới”, “Tiến bước dưới quân kỳ”, “Bài thơ gửi Thái Nguyên”, v.v...

Nỗi đau đất nước c̣n bị chia cắt, ư chí đấu tranh và niềm tin sắt son vào một ngày mai non sông một dải nhất định được thống nhất vẹn toàn cũng đă được thể hiện rất sâu sắc trong rất nhiều tác phẩm, tiết mục mới: “Câu ḥ bên bến Hiền Lương”, “Giữ trọn t́nh quê”, “Bài ca hy vọng”, “Xa khơi”, “T́nh ca”, “Miền Nam quê hương tôi”, v.v...

Hàng loạt tác phẩm vô cùng xúc động ḷng người đă xuất hiện, mở đầu là bài “Giải phóng miền Nam”, thể hiện khí thế của nhân dân miền Nam vùng dậy đồng khởi, cầm súng diệt thù giải phóng quê hương,

2. Trong điều kiện miền Bắc có ḥa b́nh và bắt đầu công cuộc xây dựng chủ nghĩa xă hội, nhằm đáp ứng đ̣i hỏi phát triển sự nghiệp âm nhạc và thỏa măn nhu cầu thưởng thức ngày càng cao và càng đa dạng của nhân dân ta, trong ṿng 10 năm (1955 - 1965), Bộ Văn hóa và các Sở, Ty địa phương đă tiến hành xây dựng hàng loạt thiết chế và tổ chức nghệ thuật:

- Ngay từ năm 1956, Trường âm nhạc Việt Nam đă được thành lập. Đây là trường đào tạo chuyên nghiệp chính quy đầu tiên của đất nước ta, tiền thân của Nhạc Viện Hà Nội sau này. Hầu hết các nhạc sĩ sáng tác, các nhà lư luận phê b́nh, các giảng viên, các nhà nghiên cứu, các nghệ sĩ biểu diễn chủ chốt của toàn ngành âm nhạc nước ta hiện nay đều đă tốt nghiệp và trưởng thành từ nhà trường này.

- Hàng loạt đơn vị biểu diễn đă được thành lập ở T.W và địa phương, như:

- Đoàn nhạc Giao hưởng - Hợp xướng (1959) rồi sau đó trở thành Nhà hát Giao hưởng Hợp xướng Nhạc Vũ Kịch (1964).

- Đoàn Ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam với dàn nhạc và dàn hợp xướng khá lớn, và bộ phận ca nhạc dân tộc cổ truyền rất nền nă cũng đă được xây dựng trong thời gian này, trên cơ sở kế thừa Ban Ca nhạc của Đài, đă có mặt phục vụ trên làn sóng điện từ thời đánh Pháp.

- Đoàn Ca nhạc Dân tộc T.W. được thành lập năm 1962, rồi đến năm 1964 được hợp nhất với Đoàn Ca múa Nhân dân TW thành lập Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam.

- Trong các lực lượng vũ trang, từ Đoàn Văn công Tổng cục Chính Trị trước đây, bộ phận ca múa nhạc cũng đă được tách ra để thành lập Đoàn Ca múa quân đội với dàn nhạc và dàn hợp xướng khá hùng hậu. Ở các quân khu, quân chủng, cũng đă dần dần h́nh thành các đoàn ca múa hoặc nghệ thuật tổng hợp.

-Tương tự như vậy, ở các tỉnh thành, từ các đội tuyên truyền văn nghệ thời chống Pháp, các Sở, Ty Văn hóa đă xây dựng nên những đoàn nghệ thuật chuyên ca múa hoặc tổng hợp, trong đó bộ phận ca nhạc giữ vai tṛ hết sức quan trọng.

- Cơ sở sưu tầm nghiên cứu khoa học về âm nhạc đầu tiên ở nước ta đă được Bộ Văn hóa thành lập: Ban Nghiên cứu Âm nhạc (nằm trong Vụ Âm nhạc và Múa), tiền thân của Viện Nghiên cứu âm nhạc và múa sau này.

- Nhà Xuất bản Âm nhạc (trực thuộc Cục Xuất bản) cũng đă ra đời từ đầu thập kỷ 60.

3. Khi đế quốc Mỹ liều lĩnh và trắng trợn đánh phá miền Bắc (bắt dầu từ ngày 5-8-1964), các nhạc sĩ, ca sĩ Việt Nam đă lập tức cất lên tiếng thét phẫn nộ qua các bài hát Giặc đến nhà, ta đánh! Thề quyết bảo vệ tổ quốc, Đánh đích đáng, Sẵn sàng bắn v.v...

- Và một lần nữa, anh chị em hoạt động âm nhạc lại ba lô lên vai, tay đàn tay súng, vượt mọi gian nan, tỏa về những mũi nhọn của cuộc sống chiến đấu và sản xuất.

- Hàng loạt tác phẩm và tiết mục biểu diễn xuất sắc đă ra đời trong và sau những chuyến đi sôi nổi đó: “Đào công sự”, “Anh vẫn hành quân”, “Khúc hát đảo quê hương”, “Chào sông Mă anh hùng”, “Thanh niên vui mở đường”, “Đường cày đảm đang”, “Bài ca 5 tấn”, “Những cô gái quê hương quan họ”, v.v...

- Cùng với các tác phẩm nói trên, là hàng loạt bài hát và tiết mục rất thành công khác viết về quân dân miền Nam anh hùng, son sắt một ḷng, đi trước về sau, đánh thắng vẻ vang giặc Mỹ và tay sai, như các bài: “Cô gái vót chông”, “Tiếng đàn Ta lư”, “Cô gái Sài G̣n đi tải đạn”, “Qua song”, “Lời ru trên nương”, “Dưới bóng cây Kơnia”, “Tiếng chày trên sóc Bom Bo”, v.v...

4. Các nhạc sĩ, ca sĩ đă dành những lời ca đẹp nhất, những giai điệu thiết tha sâu lắng nhất để ca ngợi Hồ Chủ tịch kính yêu, để ca ngợi công ơn của Bác, để khẳng định Bác Hồ đời đời sống măi trong sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng toàn dân ta, và cũng để nói lên ư chí, quyết tâm của toàn dân ta, quyết tâm thực hiện những điều Bác hằng mong ước, những điều Bác dặn ḍ trước khi Bác đi xa... Hằng trăm bài hát như vậy đă được hoàn thành trong những năm này: “Tiếng hát giữa rừng Pác Bó”, “Hồ Chí Minh đẹp nhất tên Người”, “Trông cây lại nhớ đến Người”, “Người là niềm tin tất thắng”, “Bác Hồ sống măi với Tây Nguyên”, “Bác đang cùng chúng cháu hành quân”, “Miền Nam nhớ ơn Người”, “T́nh Bác sáng đời ta”, v.v...

5. Việc ra đời và trưởng thành của những đơn vị biểu diễn lớn nói bên trên, cùng với sự lớn mạnh của đội ngũ sáng tác đă cho phép chúng ta biên soạn, dàn dựng tŕnh diễn nhiều tiết mục thuộc các thể loại vừa và lớn thuộc loại h́nh âm nhạc bác học hàn lâm mà ta tiếp thu của thế giới (như mọi nền âm nhạc tiền tiến của các nước văn minh đều có). Trong khoảng thời gian từ 1955 - 1975 đă xuất hiện hàng loạt tác phẩm và tiết mục thuộc các thể loại này, như các nhạc kịch: “A Sao”, “Người tạc tượng”, “Bên bờ Krông Pa”, “Bông Sen”, các kịch múa như: “Tấm Cám”, ‘Xô Viết Nghệ Tĩnh”, “Bả Khó”, “Thạch Sanh”, “Rừng thương núi nhớ”, “Người con trai làng Gióng”, “Mẹ và con”, các tổ khúc giao hưởng (suite symphonique) “Quê hương Việt Nam”, “Sao Bắc Đẩu”, các bản thơ giao hưởng (poème symphonique) “Thành đồng Tổ quốc”, “Lửa cách mạng”, “Đồng khởi”, bản nhạc giao hưởng (symphonie) “Cây đuốc sống”, “Quê Hương”, thanh xướng kịch (oratorio) Nguyễn Văn Trỗi và nhiều bản tam tấu (trio), tứ tấu (quartuor), xônát (sonate), v.v... khác nữa.

Việc sáng tác và biểu diễn các tác phẩm nói trên cùng việc tŕnh diễn rất nhiều tác phẩm cổ điển, hiện đại khác của nước ngoài đă đánh dấu một bước tiến vượt bậc của âm nhạc Việt Nam trong giai đoạn này. Những thành tựu rất đáng khích lệ ấy đă được trân trọng ǵn giữ và tiếp tục phát triển ngay cả trong những năm tháng giặc Mỹ đánh phá miền Bắc ác liệt nhất.

6. Trong những năm chống Mỹ cứu nước, ở cả hai miền đất nước, bên cạnh việc phục vụ qua làn sóng điện cho hàng triệu thính giả cùng nghe một lúc, anh chị em các đoàn nghệ thuật thường xuyên chia thành những tốp nhỏ đi khắp nơi, đến các tuyến lửa để phục vụ và cổ vũ quân và dân ta đánh giặc và sản xuất.

Sân khấu biểu diễn "dă chiến" của anh chị em thật muôn h́nh muôn vẻ: bên ụ pháo cao xạ, trên tháp xe tăng, dưới giàn tên lửa, trên boong tàu, giữa các cỗ máy, bên giường thương bệnh binh, trong hầm sâu địa đạo... có trường hợp anh chị em đă biểu diễn ngay trong ḷng một hố bom cỡ lớn mà đáy hố được anh chị em thanh niên xung phong san bằng làm nơi diễn, c̣n người xem th́ ngồi trên thành hố thoai thoải. "Vé" vào xem biểu diễn bắt buộc mỗi người phải có là một cành lá ngụy trang...

Ngay trong đêm Nôen 1972, giữa đợt địch đánh phá ác liệt bằng máy bay B52, Bích Liên vẫn hát vang "Bài ca hy vọng" tại trận địa pháo bảo vệ Thủ đô.

Những hoạt động biểu diễn nói trên của các đoàn chuyên nghiệp đă cùng với những hoạt động nghệ thuật không chuyên rất sôi nổi khắp nơi trong những năm đánh Mỹ hợp thành phong trào "Tiếng hát át tiếng bom" rộng lớn, đầy khí phách rất dáng tự hào của nhân dân ta và đội ngũ nghệ thuật chúng ta.

Đoàn văn công giải phóng Nam Bộ có lần đă hành quân băng rừng lội suối đến địa điểm bí mật để biểu diễn cho các khán giả bịt mặt ngồi xem, đó là các chiến sĩ biệt động nội thành ra họp.

7. Khoảng từ năm 1965, khi đế quốc Mỹ ồ ạt kéo mấy chục vạn quân vào miền Nam, đời sống tại các đô thị trong vùng tạm chiến bị xáo trộn rất mạnh. Trong sinh hoạt văn nghệ, nhiều sản phẩm lai căng ra đời, khiến người có ư thức dân tộc cảm thấy phẫn nộ. Một phong trào hát dân ca trong sinh viên học sinh ra đời.

Sau đó, để chống lại các thủ đoạn của địch dùng văn hóa mang vỏ dân tộc ḥng lừa mị nhân dân, phong trào của sinh viên học sinh chuyển sang hát sử ca và một số bài hát kháng chiến chống Pháp (của các nhạc sĩ Lưu Hữu Phước, Hoàng Quư, Văn Cao, Đỗ Nhuận, Nguyễn Đức Toàn...). Những bài này có tác dụng kích thích ḷng yêu nước, song không phản ánh được thực tại đấu tranh nóng bỏng của nhân dân thành thị miền Nam. V́ vậy, học sinh sinh viên đă trực tiếp sáng tác những bài ca tranh đấu trực diện hơn. Các đoàn văn nghệ đă được thành lập tại nhiều trường đại học ở Sài G̣n.

Trong đêm văn nghệ v́ ḥa b́nh tổ chức tại trường đại học Nông Lâm Súc Sài G̣n đêm 27-12-1969, đă chính thức xuất hiện tên gọi "Hát cho đồng bào tôi nghe" của phong trào sinh viên học sinh lấy văn nghệ làm vũ khí đấu tranh này. Phong trào đă phát triển ra khắp các đô thị khác như Huế, Đà Nẵng, Cần Thơ, An Giang, Quy Nhơn, Đà lạt, Phan Thiết..., đă khơi dậy ḷng yêu nước của những người con đất Việt và c̣n vượt cả bờ cơi Việt Nam, lôi cuốn cả thanh niên trí thức tiến bộ ở các nước như Pháp, Tây Đức, Canada, Nhật, Bỉ, Úc, Tân Tây Lan, Thụy Sĩ và ngay cả ở nước Mỹ. Ṇng cốt của phong trào này ở Sài G̣n là các anh: Tôn Thất Lập, Trần Long Ẩn v.v... Sau này càng mở rộng với sự tham gia của các nhạc sĩ nổi tiếng như Trịnh Công Sơn, Phạm Trọng Cầu.

Phong trào "Hát cho đồng bào tôi nghe" đă thực hiện được sứ mệnh vẻ vang của lực lượng xung kích trên mặt trận văn nghệ đấu tranh ngay trong ḷng địch, và đă có những cống hiến xứng đáng cho nền âm nhạc đương đại nước ta. (Cả điểm 7 này được viết bằng những tư liệu trích từ tập "Hát cho đồng bào tôi nghe" do 2 tác giả Tôn Thất Lập và Nguyễn Phú Yên biên soạn).

8. Nghiêm túc kế thừa tinh hoa nghệ thuật cổ truyền, tiếp tục công việc đă bắt dầu từ thời kỳ đánh Pháp, trong thời gian 1955 - 1975, ta đă sưu tầm được hơn 6000 bài bản dân ca, nhạc cổ với hơn 100 loại nhạc cụ khác nhau.

Nhiều h́nh thức sinh hoạt ca nhạc cổ truyền được khôi phục. Nhiều thể loại được trân trọng thể nghiệm đưa lên sân khấu tŕnh diễn, như: hát văn, ca trù, hát xoan, quan họ, ví dặm, dân ca Trị Thiên, bài cḥi, ca lư Nam Bộ và nhiều dân ca các dân tộc ít người.

Một số công tŕnh nghiên cứu đă được hoàn thành như các cuốn, các tập: "Dân ca quan họ", "Âm nhạc dân gian dân tộc Thái", "Tính năng các nhạc cụ dân tộc cổ truyền", "Cây đàn bầu Việt Nam", "Điệu thức trong dân ca Nam Bộ" v.v...

Hội diễn ca múa nhạc dân tộc đầu tiên được tổ chức vào năm 1962, và Hội nghị chuyên đề về nhạc cụ dân tộc năm 1963 đă có ư nghĩa lớn trong việc chỉ đạo, định hướng công tác khai thác phát huy tinh hoa âm nhạc cổ truyền.

9. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, xây dựng đội ngũ nghệ thuật được đặc biệt coi trọng, ngay cả trong hoàn cảnh có chiến tranh. Trong 20 năm (1955 - 1975) ta đă đào tạo thêm được hàng ngàn cán bộ diễn viên. Một số trong đó đă được chi viện kịp thời cho miền Nam ruột thịt. Bên cạnh các anh chị đă nổi danh từ thời đánh Pháp, ta đă có thêm nhiều nghệ sĩ tài năng như Vũ Tuấn Đức, Tạ Bôn... và một số chỉ huy dàn nhạc như: Trọng Bằng, Trần Quư, Quang Hải, Lê Đóa...

Sau đại thắng mùa xuân 1975, khi tổng kết hoạt động trong chống Mỹ cứu nước, những người làm công tác âm nhạc Việt Nam vui mừng khi thấy toàn ngành đă có một bước tiến lớn, vượt bậc và đă phục vụ hết ḷng, có hiệu quả cho sự nghiệp dựng nước và giữ nước vĩ đại trong 20 năm qua.

Khối lượng tác phẩm, tiết mục mới rất lớn và đủ mọi thể loại. Tư tưởng và t́nh cảm chủ đạo xuyên suốt khối lượng đồ sộ đó là tư tưởng "Không có ǵ quư hơn độc lập tự do", là t́nh yêu thiết tha chủ nghĩn xă hội, là chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lao động và chiến đấu.
Go to the top of the page
 
+Quote Post
post Feb 24 2009, 03:33 PM
Post #3



Administrator
***

Group: Root Admin
Posts: 685
Thank(s): 3089
Joined: 20-04-07
Member No.: 1



IV - Âm Nhạc Việt Nam giai đoạn 1975 - 1995

A) Giai đoạn 1975 - 1985

1.Theo sát bước chân các đoàn quân chiến thắng, các đoàn nghệ thuật giải phóng, các đoàn miền Nam tập kết và các đoàn từ phía Bắc đă tiến vào Sài G̣n và các tỉnh, thành vừa sạch bóng thù.

Những buổi tŕnh diễn đông nghịt khán thính giả đă mang đến cho đồng bào vùng mới được giải phóng những t́nh cảm thân thương ruột thịt, sự xúc động mănh liệt và niềm tự hào được là con dân của đất nước Việt Nam anh hùng. Những bài hát: “Như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng”, “Mùa xuân trên thành phố Hồ Chí Minh”, “Đất nước trọn niềm vui”, “Tiếng hát từ thành phố mang tên Người”, “Nha Trang ơi - mùa thu lại về” v.v .. luôn luôn vang lên trên sân khấu trên làn sóng điện, và trong nhiều sinh hoạt tập thể khác.

Tiếp đó, nhiều đoàn ca múa của các tỉnh thành phía Nam đă được nhanh chóng thành lập với sự chi viện về cán bộ ṇng cốt của Bộ Văn Hóa và các tỉnh thành phía Bắc kết nghĩa, đưa tổng số đơn vị biểu diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp trong cả nước lên tới con số hơn 60 đơn vị vào những năm giữa thập kỷ 80.

Nhiều ca sĩ, nhạc công có tên tuổi trong vùng tạm chiếm trước đây cũng đă hăng hái tham gia hoạt động trong các đơn vị mới xây dựng này.

2. Sự phát triển nghệ thuật của dất nước đă hoàn toàn giải phóng và thống nhất đ̣i hỏi phải nhanh chóng đẩy mạnh công tác đào tạo, nhanh chóng mở rộng mạng lưới các trường.

Trường Âm nhạc Việt Nam đă trở thành Nhạc Viện Hà Nội, với 3 cấp học (sơ, trung, đại học) hoàn chỉnh. Tiếp theo đó Trường Quốc gia Âm nhạc Sài G̣n ta tiếp quản từ năm 1975, được Nhạc viện Hà Nội hết ḷng chi viện, cũng đă trở thành Nhạc viện thành phố Hồ Chí Minh. Huế cũng nhanh chóng trở thành một trung tâm đào tạo của miền Trung nước ta, với sự thành lập của Trường Cao đẳng Nghệ thuật Huế. Trong đó, khoa âm nhạc chiếm một vị trí rất quan trọng.

Hiện nay, trong cả nước ta đă có một mạng lưới dào tạo gồm hơn 20 trường. Ngoài 2 nhạc viện ra, các trường văn hóa nghệ thuật khác đều có khoa, hoặc bộ môn âm nhạc với chất lượng ngày càng được nâng cao.

Năm 1980: Đặng Thái Sơn, chàng sinh viên trẻ 22 tuổi, đă đoạt giải nhất trong cuộc thi piano quốc tế mang tên Sô panh (F. Chopin) lần thứ 10 tổ chức tại Ba Lan. Anh là người châu Á đầu tiên đoạt giải thưởng lớn trong cuộc thi âm nhạc vào loại khó nhất thế giới được tổ chức 5 năm một lần này. Mấy năm sau, Tôn Nữ Nguyệt Minh cũng giành được liền hai giải nh́ tại 2 cuộc thi piano ở Italia, làm vẻ vang thêm nền âm nhạc nước ta.

Cũng trong khoảng thời gian mười năm (1975 - 1985) này, nhiều tên tuổi diễn viên đă trở nên thân quen và được công chúng mến mộ rộng răi như Thu Hiền, Đỗ Lộc...

3. Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước có ḥa b́nh là điều kiện hết sức thuận lợi để đẩy mạnh công tác sưu tầm nghiên cứu âm nhạc.

Việc t́m thấy đàn đá ở Khánh Sơn (Khánh Ḥa) năm 1979, ở Bắc Ái (B́nh Thuận) và một số nơi khác đă mang lại niềm vui cho nhân dân cả nước, và là một sự khích lệ rất lớn đối với các nhà nghiên cứu âm nhạc nước ta.

Nhiều tỉnh thành, đặc biệt là các tỉnh phía Nam, đă hoàn thành và xuất bản công tŕnh sưu tầm dân ca của địa phương ḿnh. Hàng chục nhạc cụ dân tộc cổ truyền đă được nghiên cứu cải tiến đạt kết quả tốt như: đàn bầu, đàn tơ rưng, đàn krông pút, đàn gôông, đàn đinh pah, đàn ống tre lắc, sáo H’mông, bộ nhạc cụ gơ (trống, fách, mơ, xênh tiền, xập xỏa, hưn mạy, v.v...) Cây đàn tơ rưng do Đỗ Lộc cải tiến đă được đông đảo bà con các dân tộc Tây Nguyên rất yêu mến. Cụ Y Bi Alêô đă nói: "Cái đàn tơ rưng này bây giờ nói tiếng dân tộc cũng giỏi, nói tiếng kinh cũng giỏi, lại nói được cả tiếng nước ngoài nữa!"

cool.gif Giai đoạn 1986 - 1995

Từ Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng họp năm 1986 trở lại đây, đất nước ta bước vào một thời kỳ mới: công cuộc đổi mới đă và đang diễn ra trên khắp mọi lĩnh vực của đời sống xă hội.

Trong thời kỳ mới này, ngành âm nhạc cũng đă có một bước phát triển mới với nhiều nét mới đáng khích lệ:

1. Hàng loạt các tác phẩm mới thuộc nhiều thể loại lớn nhỏ đă xuất hiện và đă được dàn dựng thành tiết mục của các nhà hát và các đoàn, trong đó có:

· Nhiều vở kịch hát mới diễn trọn đêm

· Nhiều bản độc tấu, ḥa tấu nhạc cụ cổ truyền

· Nhiều bản nhạc giao hưởng và nhạc thính pḥng đă tham dự cuộc thi sáng tác được phát động từ năm 1992. Sáu tác phẩm được giải đă được tŕnh diễn, thu thanh năm 1993. Trước đó, một chương tŕnh gồm 5 tác phẩm nhạc giao hưởng về đề tài lực lượng vũ trang đă được dàn dựng và trang trọng tŕnh diễn.

· Hàng trăm ca khúc mới với các phong cách bút pháp khá phong phú đă được biên soạn. Nhiều bài được công chúng đông đảo rất yêu thích, trở thành tiết mục luôn được thính giả yêu cầu phát thanh, biểu diễn.

· Nhiều ca khúc "tiền chiến" được sưu tầm, tŕnh diễn. Nhiều bài hát trữ t́nh lăng mạn vùng tạm chiến cũ cũng đă được xem xét và sử dụng.

2. Nhiều đợt hội diễn chuyên nghiệp toàn quốc đă được liên tục tổ chức suốt từ năm 1978 tới nay. Đặc biệt là từ 1987 trở lại đây bên cạnh các đợt hội diễn, liên hoan ca múa nhạc tổng hợp, c̣n có nhiều đợt hội diễn, liên hoan, hội thi chuyên ngành: riêng về ca, riêng về nhạc, hoặc chuyên đề loại h́nh kịch hát mới. Có những đợt hội thi chuyên về ca múa nhạc dân tộc truyền thống, thi chuyên hát dân ca, lại có những đợt chuyên về ca múa nhạc nhẹ hiện đại.

Năm 1995, hội diễn ca múa nhạc chuyên nghiệp toàn quốc có quy mô khá lớn (với 53 đơn vị nghệ thuật và 2.118 nghệ sĩ diễn viên) đă được long trọng tổ chức để chào mừng các ngày lễ lớn trong năm.

Ta cũng đă tổ chức các cuộc thi quốc gia, với thể lệ thi chặt chẽ như các cuộc thi quốc tế, dành riêng cho loại h́nh nhạc thính pḥng bác học hàn lâm mang tên "Mùa thu" được tổ chức vào các năm 1990, 1993 tại Hà Nội, với khá đông thí sinh tham dự. Hàng trăm anh chị em đă được Nhà nước phong tặng danh hiệu nghệ sĩ ưu tú và nghệ sĩ nhân dân. Trong đó có Đỗ Phượng Như (2 lần đoạt giải nh́ về thi violon quốc tế cho thiếu niên), Lê Thị Ngọc Thanh (giải nhất cuộc thi quốc tế về accordeon tại Paris năm 1988, Bùi Công Duy (giải nhất cuộc thi violon tại Nevossibirsk, Cộng ḥa Liên bang Nga năm 1995). Các anh chị em: Lê Dung, Quang Thọ, Quỳnh Liên, Rơ Chăm Pheng, Mai Tuyết, Thanh Tâm, đă được tặng giải nghệ sĩ xuất sắc tại nhiều đợt Liên hoan nghệ thuật Mùa Xuân B́nh Nhưỡng. Nhóm nghệ sĩ trẻ "Phong Lan" đă giành được giải nhất tại Liên hoan quốc tế về ca nhạc dân tộc tổ chức tại Dijon (Pháp) mùa hè 1993.

3. Trong 10 năm đổi mới (1986 - 1995), hoạt động nghiên cứu âm nhạc cũng đă đạt được nhiều thành tựu mới đáng mừng. Một loạt công tŕnh đă được hoàn thành và xuất bản như Lược sử âm nhạc Việt Nam, Dân ca Việt Nam, Đặc điểm âm nhạc trong nghệ thuật tuồng, Dân ca dân tộc Việt v.v... Riêng năm 1995, các cuốn Nghệ thuật cồng chiêng dân tộc Xtiêng tỉnh Sông Bé (319 trang) và Thang âm điệu thức trong âm nhạc truyền thống một số dân tộc miền Nam Việt Nam (429 trang) cũng đă ra mắt công chúng.

Nhiều cuộc hội thảo khoa học âm nhạc đă được tiến hành, đánh dấu một bước tiến mới của đội ngũ cán bộ nghiên cứu, lư luận của chúng ta.

4. Phong trào ca hát quần chúng phát triển mạnh mẽ mà đỉnh cao là những cuộc liên hoan, những nhạc hội mang tính toàn quốc như: các nhạc hội cồng chiêng, hát ru, hát giao duyên; các cuộc liên hoan "Tiếng hát hẹn ḥ chín ḍng sông", "Hát về biển", "Tiếng hát Làng Sen", "Sơn ca", "Liên hoan các giọng hát hay trên làn sóng điện", "Liên hoan nghệ thuật thiếu nhi các dân tộc", các cuộc thi đàn oóc-gan cho thiếu nhi do nước ngoài tài trợ, rồi các cuộc hội diễn không chuyên của lực lượng vũ trang, của công an nhân dân, của các ngành hàng không, bưu điện, liên hoan các giọng hát hay trong học sinh sinh viên, trong công nhân viên chức, v.v... và vân vân...

Tất cả những hoạt động ca nhạc không chuyên đó đă phối hợp chặt chẽ và nhịp nhàng với các hoạt động chuyên nghiệp, trên sân khấu làm phong phú thêm rất nhiều đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân ta, nâng cao thêm đáng kể mức hưởng thụ nghệ thuật của nhân dân ta, kể cả của quân và dân ở biên giới, hải đảo xa xôi...

Trong chặng đường nửa thế kỷ qua, một nền âm nhạc xă hội chủ nghĩa Việt Nam đă ra đời và trưởng thành nhanh chóng. Từ một khởi điểm, một cơ sở ban đầu nhỏ yếu lại phải trải qua mấy thập kỷ liên tục có chiến tranh, đến nay ta đă có một cơ ngơi âm nhạc khá bề thế, một lực lượng gồm cả chuyên nghiệp và không chuyên khá hùng hậu, một đời sống âm nhạc khá phong phú.

Điều đáng tự hào về nền âm nhạc của chúng ta không chỉ ở số lượng tác phẩm khá lớn (gồm hàng vạn bài hát, bản nhạc, cùng rất nhiều tác phẩm thuộc các thể loại lớn như: nhạc giao hưởng, nhạc kịch, đại hợp xướng, kịch hát mới, nhạc cho kịch múa, cho hàng trăm vở sân khấu, hàng trăm cuốn phim các loại...) cũng không chỉ ở số lượng của đội ngũ đông gấp bội so với khi Cách mạng Tháng Tám mới tạo nên thành công và tŕnh độ nghề nghiệp ngày càng được nâng cao, mà chủ yếu ở tác dụng xă hội rất tích cực của nó, đă góp sức hun đúc nên những giá trị tinh thần, đạo đức mới, những t́nh cảm cách mạng và nhân văn cao đẹp của nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh vĩ đại.

Mặc dầu hiện nay vẫn c̣n không ít khó khăn và tồn tại đ̣i hỏi tiếp tục nỗ lực phấn đấu khắc phục, nhưng với những ǵ đă đạt được, với những kinh nghiệm, niềm tự hào và ư thức trách nhiệm của người nghệ sĩ - chiến sĩ, những người hoạt động âm nhạc Việt Nam đang ra sức phấn đấu đưa nền nghệ thuật vừa có truyền thống lịch sử lâu đời lại vừa rất trẻ và đầy sức sống của ḿnh tiếp tục tiến lên, vươn tới những tầm cao mới, xứng đáng hơn nữa với sự nghiệp vinh quang của Đảng và nhân dân ta, xứng đáng hơn nữa với Tổ quốc và thời đại vẻ vang của chúng ta ngày nay.

Trích "50 NĂM XÂY DỰNG NỀN CÁCH MẠNG ÂM NHẠC" - tài liệu Bộ Văn hóa thông tin
Go to the top of the page
 
+Quote Post

Reply to this topicStart new topic
1 User(s) are reading this topic (1 Guests and 0 Anonymous Users)
0 Members:

 



Bản vắn tắt Giờ hiện tại:: 19th June 2019 - 03:40 PM
Skin IPB: Invisionpower.fr - IP.Board France