IPB

Chào mừng khách viếng thăm diễn đàn ( Đăng nhập | Đăng ký thành viên )

Loading

Nội quy diễn đàn

 
Reply to this topicStart new topic
> cuộc đời và sự nghiệp của BÁC
post Nov 7 2007, 04:56 PM
Post #1



Cấp 1
*

Group: Members
Posts: 44
Thank(s): 4
Joined: 26-07-07
From: NAM DINH
Member No.: 73



Gia đ́nh và quê quán
Theo gia phả của ḍng họ Nguyễn ở làng Kim Liên tại Nam Đàn, Nghệ An th́:

"Hoàng sơ tổ khảo là Nguyễn Bá Phụ, tổ đời thứ hai là Nguyễn Bá Bạc, tổ đời thứ ba là Nguyễn Bá Ban, tổ đời thứ tư là Nguyễn Văn Dân,... tổ đời thứ năm, Nguyễn Sinh Vật là giám sinh đời Lê Thánh Đức (tức Lê Thần Tông) năm thứ ba..., tổ đời thứ sáu là Nguyễn Sinh Tài đỗ hiếu sinh khi 17 tuổi, năm 34 tuổi đỗ tam trường khoa thi Hội..., tổ đời thứ 10 là Nguyễn Sinh Nhậm[1])." Cả bốn đời đầu tiên của ḍng họ đều chưa lấy đệm là "Sinh" và không rơ năm sinh, năm mất[2].
Ông tên thật là Nguyễn Sinh Cung (阮生恭, giọng địa phương phát âm là Côông), tự là Tất Thành. Quê nội là làng Kim Liên (tên nôm là làng Sen). Ông được sinh ra ở quê ngoại là làng Hoàng Trù (tên nôm là làng Chùa, nằm cách làng Sen khoảng 2 km) và sống ở đây cho đến năm 1895. Hai làng này vốn cùng nằm trong xă Chung Cự, thuộc tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn. Quê nội của ông, làng Kim Liên[3] là một làng quê nghèo khó. Phần lớn dân chúng không có ruộng, phải làm thuê cấy rẽ, mặc quần ít, đóng khố nhiều, bởi thế nên làng này c̣n có tên là làng Đai Khố[4]. Vào đời ông, phần lớn ḍng họ của ông đều cơ hàn, kiếm sống bằng nghề làm thuê, và cũng có người tham gia các hoạt động chống Pháp[5].

Thân phụ ông là một nhà nho tên là Nguyễn Sinh Sắc, từng đỗ phó bảng[6]. Thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan. Ông có một người chị là Nguyễn Thị Thanh, một người anh là Nguyễn Sinh Khiêm (tự Tất Đạt, c̣n gọi là Cả Khiêm) và một người em trai mất sớm là Nguyễn Sinh Nhuận (1900-1901, tên khi mới lọt ḷng là Xin).

Theo lư lịch chính thức, Hồ Chí Minh sinh ngày 19 tháng 5 năm 1890, tuy nhiên có những thông tin khác không đồng nhất:

Trong đơn xin học Trường hành chính thuộc địa, năm 1911, ông tự ghi là sinh năm 1892.
Năm 1920, ông khai với một quận cảnh sát tại Paris ngày sinh của ḿnh là 15 tháng 1 năm 1894.
Theo một tài liệu do Pḥng nh́ Pháp lập năm 1931, có sự xác nhận của một số nhân chứng làng Kim Liên, quê nội của ông, th́ ông sinh tháng 4 năm 1894.
Trong tờ khai của ông tại Đại sứ quán Liên Xô ở Berlin, vào tháng 6 năm 1923, th́ ngày sinh là 15 tháng 2 năm 1895.

Tuổi trẻ

Trường Dục ThanhNăm 1895, Nguyễn Sinh Cung cùng cha mẹ và anh trai vào Huế lần đầu tiên. Sau khi mẹ ông mất (1901), ông được đưa về Nghệ An cho bà ngoại chăm sóc một thời gian ngắn rồi theo cha về quê nội. Khi về sống với cha ở làng Kim Liên năm 1901, ông lấy tên là Nguyễn Tất Thành. Tất Thành theo học cử nhân Hoàng Phạm Quỳnh (học tṛ của Hoàng Phạm Quỳnh có khoa thi đỗ sáu cử nhân, mười hai tú tài) và một số ông giáo khác. Nhưng Tất Thành th́ "ham đọc sách [...] nhưng ham nhất là các loại sách như Tam Quốc Chí hay Tây Du [...] văn bài th́ Thành không thích làm nhưng rất hay hỏi nghĩa [...] một ông đồ [...] sau khi dạy chú mấy tháng đă không dạy nữa"[7].

Năm 1906, Nguyễn Tất Thành theo cha vào Huế lần thứ hai và học ở trường tiểu học Pháp-Việt Đông Ba. Sau khi học xong tiểu học, tháng 9 năm 1907, Nguyễn Tất Thành vào học tại trường Quốc Học, Huế, nhưng bị đuổi học vào cuối tháng 5 năm 1908 v́ tham gia phong trào chống thuế ở Trung Kỳ[8].

Tháng 9 năm 1910, Nguyễn Tất Thành vào Phan Thiết (khi này cha ông vừa bị cách chức). Ông dạy chữ Hán và chữ Quốc ngữ cho học sinh lớp ba và tư tại trường Dục Thanh của hội Liên Thành[9][10]. Khoảng trước tháng 2 năm 1911, ông nghỉ dạy. Sau đó ông vào Sài G̣n. Tại đây,ông theo học trường Bá Nghệ là trường đào tạo công nhân hàng hải và công nhân chuyên nghiệp cho xưởng Ba Son. Ở đây, ông được nuôi ăn nhưng chỉ học 3 tháng (lệ thường là học 3 năm mới thành nghề)[11]


Hoạt động ở nước ngoài
Xem chi tiết tại Hồ Chí Minh/1911-1941

Thời ḱ 1911-1919
Ngày 5 tháng 6 năm 1911, từ Bến Nhà Rồng, ông lấy tên Văn Ba, lên đường sang Pháp với nghề phụ bếp trên chiếc tàu buôn Đô đốc Latouche-Tréville, với mong muốn học hỏi những tinh hoa và tiến bộ từ các nước phương Tây. Sau khi ở Hoa Kỳ một năm (cuối 1912-cuối 1913), ông quay trở lại nước Anh làm nghề cào tuyết, đốt ḷ rồi phụ bếp cho khách sạn. Cuối năm 1917, ông trở lại nước Pháp, sống và hoạt động ở đây cho đến năm 1923.


Thời ḱ ở Pháp

Tấm biển đồng gắn tại nhà số 9 ngơ Compoint, quận 17 Paris: "Tại đây, từ năm 1921-1923, Nguyễn Ái Quốc đă sống và chiến đấu v́ quyền độc lập và tự do cho nhân dân Việt Nam và các dân tộc bị áp bức"Ngày 19 tháng 6 năm 1919, nhân danh một nhóm người Việt Nam yêu nước, ông đă viết "Yêu sách của nhân dân An Nam" gồm tám điểm được viết bằng tiếng Pháp (Revendications du peuple annamite), kư tên Nguyễn Ái Quốc và gửi tới Hội nghị Ḥa b́nh Versailles. Từ đó ông dùng tên Nguyễn Ái Quốc.


Tranh biếm họa của Nguyễn Ái Quốc cho tờ Le Paria, đời sống người dân dưới ách thống trị của thực dân PhápNăm 1920, Nguyễn Ái Quốc đọc Luận cương về vấn đề dân tộc và thuộc địa của Lenin, từ đó ông đi theo chủ nghĩa cộng sản. Ông tham dự Đại hội lần thứ 18 của Đảng Xă hội Pháp tại Tours (từ 25 đến 30 tháng 12 năm 1920) với tư cách là đại biểu Đông Dương của Đảng Xă hội Pháp, ông trở thành một trong những sáng lập viên của Đảng Cộng sản Pháp và tách khỏi đảng Xă hội. Năm 1921, ông cùng một số nhà yêu nước của các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp Thuộc địa (Union intercoloniale - Association des indigènes de toutes les colonies) nhằm tập hợp các dân tộc bị áp bức đứng lên chống chủ nghĩa đế quốc. Năm 1922, ông cùng một số nhà cách mạng thuộc địa lập ra báo Le Paria (Người cùng khổ), làm chủ nhiệm kiêm chủ bút, nhằm tố cáo chính sách đàn áp, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc nói chung và thực dân Pháp nói riêng. Tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" bằng tiếng Pháp (Procès de la colonisation française) do Nguyễn Ái Quốc viết được xuất bản năm 1925, đă tố cáo chính sách thực dân tàn bạo của Pháp và đề cập đến phong trào đấu tranh của các dân tộc thuộc địa.


Thời ḱ ở Liên Xô lần thứ nhất
Tháng 6 năm 1923, Nguyễn Ái Quốc đến Moskva học tập tại trường Đại học Phương Đông. Tại đây ông đă dự Hội nghị lần thứ nhất Quốc tế Nông dân (họp từ ngày 12 đến ngày 15 tháng 10 năm 1923), ông được bầu vào Ban chấp hành và Đoàn Chủ tịch Quốc tế Nông dân. Tại Đại hội lần thứ 5 Quốc tế Cộng sản (họp từ ngày 17 tháng 6 đến ngày 8 tháng 7 năm 1924), ông được cử làm ủy viên Ban Phương Đông, phụ trách Cục Phương Nam.


Thời ḱ ở Trung Quốc (1924-1927)
Cuối năm 1924, Nguyễn Ái Quốc rời Liên Xô tới Quảng Châu, lấy tên là Lư Thụy, làm phiên dịch trong phái đoàn cố vấn của chính phủ Liên Xô bên cạnh Chính phủ Trung Hoa Dân quốc, do Mikhail Markovich Borodin làm trưởng đoàn.


Nguyễn Ái QuốcNăm 1925, ông thành lập tổ chức Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội ở Quảng Châu (Trung Quốc) để truyền bá chủ nghĩa Marx-Lenin (thường được phiên âm là Mác–Lê-nin) vào Việt Nam. Cuốn Đường Kách mệnh, mà ông là tác giả, tập hợp các bài giảng tại các lớp huấn luyện chính trị của Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội, được xuất bản năm 1927.

Trong thời gian ở Quảng Châu, ông đă kết hôn với một hộ lư Trung Quốc tên là Tăng Tuyết Minh, đảng viên Đảng Cộng sản Trung Quốc (ngày 18 tháng 10 năm 1926) và sống với nhau cho đến khi ông rời Quảng Châu, vào khoảng tháng 4 hoặc 5 năm 1927. Sau khi ông đă trở thành Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa, cả hai người đă t́m nhau thông qua tổ chức Đảng Cộng sản Trung Quốc và cơ quan ngoại giao Việt Nam tại Trung Quốc nhưng không thành công[12]. (Xem thêm bài Tăng Tuyết Minh)

Cùng năm 1925, ông tham gia thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông, do Liêu Trọng Khải, một cộng sự thân tín của Tôn Dật Tiên, làm hội trưởng và ông làm bí thư. Do Tưởng Giới Thạch khủng bố các nhà cách mạng cộng sản Trung Quốc và Việt Nam, ông rời Quảng Châu đi Hương Cảng, rồi sang Liên Xô. Tháng 11 năm 1927, ông được cử đi Pháp, rồi từ đó đi dự cuộc họp Đại hội đồng của Liên đoàn chống đế quốc từ ngày 9 đến ngày 12 tháng 12 năm 1927 tại Bruxelles, Bỉ.


Những năm 1928, 1929
Mùa thu 1928, ông từ châu Âu đến Thái Lan, với bí danh Thầu Chín để tuyên truyền và huấn luyện cho Việt kiều.

Cuối năm 1929, ông rời Thái Lan sang Trung Quốc.


Thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
Ngày 3 tháng 2 năm 1930, tại Cửu Long (九龍, Kowloon) thuộc Hương Cảng, ông thống nhất ba tổ chức đảng cộng sản thành Đảng Cộng sản Việt Nam (sau đó đổi tên là "Đảng Cộng sản Đông Dương", rồi đổi thành "Đảng Lao Động Việt Nam" và nay là "Đảng Cộng sản Việt Nam").

Tháng 3 năm 1930, ông trở lại Thái Lan trong một thời gian ngắn, sau đó quay lại Trung Hoa.


Những năm 1931 - 1933
Năm 1931, dưới tên giả là Tống Văn Sơ (Sung Man Ch'o), Nguyễn Ái Quốc bị nhà cầm quyền Hương Cảng bắt giam với ư định trao cho chính quyền Pháp ở Đông Dương. Nhờ sự biện hộ và giúp đỡ tận t́nh của luật sư Frank Loseby[13], Tống Văn Sơ được thả. Ông đi Thượng Hải rồi bí mật quay trở lại Liên Xô.


Thời ḱ ở Liên Xô lần thứ hai
Với bí danh Lin, Nguyễn Ái Quốc học ở Trường Quốc tế Lenin (1934-1935) và dự Đại hội lần thứ 7 Quốc tế Cộng sản (từ ngày 25 tháng 7 đến ngày 20 tháng 8 năm 1935). Theo tài liệu của một số nhà sử học, ông bị ép buộc phải đi Liên Xô và bị giam lỏng (hoặc nói nhẹ hơn là bị kỷ luật) ở đó, do bị nghi ngờ về lư do ông được nhà cầm quyền Hương Cảng trả tự do[14]. Trong những năm 1931-1935, ông đă bị Trần Phú và sau đó là Hà Huy Tập phê phán về đường lối cải lương, không đúng đường lối đấu tranh giai cấp của Quốc tế Cộng sản[15].


Từ năm 1938 đến đầu năm 1941
Năm 1938, ông trở lại Trung Quốc. Trong vai thiếu tá Bát Lộ quân Hồ Quang, Nguyễn Ái Quốc đến công tác tại văn pḥng Bát Lộ quân Quế Lâm, sau đó đi Quư Dương, Côn Minh rồi đến Diên An, căn cứ đầu năo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Hồng quân Trung Quốc mùa đông 1938.


Trở về Việt Nam
Ông trở về Việt Nam vào ngày 28 tháng 1 năm 1941[16], ở tại hang Cốc Bó, bản Pác Bó, tỉnh Cao Bằng với bí danh Già Thu. Tại đây, ông mở các lớp huấn luyện cán bộ[17], cho in báo, tham gia các hoạt động thường ngày... Tài liệu huấn luyện và tuyên truyền chủ yếu là sách do ông dịch và viết về nhiều chủ đề. Tại cuối một cuốn sách như vậy ông ghi "Việt Nam độc lập năm 1945"[18]. Ông cho lập nhiều hội đoàn nhân dân như hội phụ nữ cứu quốc, hội phị lăo cứu quốc, hội nông dân cứu quốc...

Tháng 5 năm 1941, hội nghị mở rộng lần thứ 8 của Trung ương Đảng họp ở Cao Bằng và quyết định thành lập Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội (Việt Minh). Ông là chủ tọa.


Giai đoạn từ khi bị giam ở Trung Quốc cho tới ngày 2-9-1945
Ngày 13 tháng 8 năm 1942, ông lấy tên Hồ Chí Minh, sang Trung Quốc với danh nghĩa đại diện của cả Việt Minh và Hội quốc tế phản xâm lược Việt Nam (một hội đoàn được ông tổ chức ra trước đó) để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Hoa Dân quốc. Đây là lần đầu tiên trong các giấy tờ cá nhân ông sử dụng tên Hồ Chí Minh, tuy vậy ông lại khai nhân thân là "Việt Nam-Hoa kiều"[19].

Ông bị chính quyền địa phương của Trung Hoa Dân quốc bắt ngày 29 tháng 8 khi đang đi cùng một người Trung Quốc dẫn đường và giam hơn một năm, trải qua khoảng 30 nhà tù. Ông viết Nhật kư trong tù trong thời gian này (từ tháng 8 năm 1942 đến tháng 9 năm 1943). Các đồng chí của ông (Phạm Văn Đồng, Vơ Nguyên Giáp, Vũ Anh...) ở Việt Nam tưởng lầm là ông đă chết (sau này nguyên nhân được làm rơ là do một cán bộ Cộng sản tên Cáp nghe và hiểu sai ngữ nghĩa)[20]. Họ thậm chí đă tổ chức đám tang và đọc điếu văn cho ông (Phạm Văn Đồng làm văn điếu) cũng như "mở chiếc va-li mây của Bác ra t́m xem c̣n những ǵ có thể giữ lại làm kỉ niệm" (lời của Vơ Nguyên Giáp). Vài tháng sau họ mới biết được t́nh h́nh thực của ông sau khi nhận được thư do ông viết và bí mật nhờ chuyển về.

Sau khi được trả tự do ngày 10 tháng 9 năm 1943, Hồ Chí Minh tham gia Ban Chấp hành Trung ương Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội. Từ trước đó, Việt Minh cũng đă ra tuyên bố ủng hộ Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội. Ông cũng cố gắng tranh thủ Trương Phát Khuê, tướng cai quản vùng Quảng Đông và Quảng Tây của Quốc Dân Đảng, nhưng kết quả là hạn chế.

Cuối tháng 9 năm 1944, ông trở về Việt Nam. Khi này các đồng chí của ông ở Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng như Vơ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng... đă quyết định tiến hành phát động chiến tranh du kích trong phạm vi liên tỉnh. Ông ngăn chặn thành công quyết định này[21]. Thay vào đó, ông ra lệnh tổ chức lập lực lượng vũ trang và căn cứ địa cho chặt chẽ và hiệu quả hơn. Ông trực tiếp ra chỉ thị thành lập một đội quân mang tính chính thống và chính quy là đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, với 34 đội viên là các tiểu đội trưởng, trung đội trưởng hoặc thành viên của các đội quân nhỏ bé và rải rác trước đó của Việt Minh. Cuối năm 1944, ông lại trở lại Côn Minh hoạt động cho tới đầu năm 1945.

Ngay trước khi Hội nghị Tân Trào họp vào tháng 8 năm 1945, ông ốm suưt chết[22].

Ngày 16 tháng 8 năm 1945, Tổng bộ Việt Minh triệu tập Đại hội quốc dân tại Tân Trào (Tuyên Quang), cử ra Ủy ban dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời, do Hồ Chí Minh làm chủ tịch.


Giai đoạn lănh đạo

Từ Ngày Độc lập tới Ngày Toàn quốc kháng chiến

Hồ Chí Minh và Phạm Văn Đồng tại Paris, 1946Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập vào ngày 2 tháng 9 năm 1945 trên quảng trường Ba Đ́nh tại Hà Nội, tuyên bố thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa. Ông trích dẫn bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ và bản Tuyên ngôn Dân quyền và Nhân quyền của Pháp để mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam[23]. Trước khi viết ông đă hỏi Dan Phelan, một trung úy Mỹ xem có nhớ đoạn mở đầu Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ không, bởi ông định sẽ đưa vào bản tuyên ngôn của Việt Nam. C̣n chính Phelan th́ kể lại: "Nhưng thực ra th́ có lẽ ông ấy biết về bản Tuyên ngôn c̣n rơ hơn tôi"[24].

Ông gửi thư cho nhiều nguyên thủ quốc gia trên thế giới kêu gọi công nhận nhà nước Việt Nam mới được thành lập cũng như tranh thủ sự ủng hộ nhưng không nhận được hồi âm (Tổng thống Hoa Kỳ Harry Truman[25], Stalin, Tổng thống Pháp Léon Blum, bộ trưởng Thuộc địa Pháp Marius Moutet và Nghị viện Pháp...).

Ngày 23 tháng 9 năm 1945, Pháp tấn công Sài G̣n. Quân dân Sài G̣n cấp tập chống cự. Ủy ban kháng chiến Nam Bộ được thành lập với Trần văn Giàu là chủ tịch. Xứ ủy và Ủy ban nhân dân Nam Bộ điện ra Trung ương xin cho được đánh. Chính phủ ra huấn lệnh, bản thân ông gửi thư khen ngợi "ḷng kiên cường ái quốc của đồng bào Nam Bộ"[cần chú thích].

Ngày 6 tháng 1 năm 1946, tổng tuyển cử tự do trong cả nước được tổ chức, bầu ra Quốc hội và Quốc hội thông qua Hiến pháp dân chủ đầu tiên của Việt Nam. Quốc hội khóa I của Việt Nam đă cử ra Chính phủ Liên hiệp kháng chiến do Hồ Chí Minh làm chủ tịch. Đại biểu quốc hội chủ yếu là nhân sĩ trí thức, người ngoài Đảng. Ông trở thành chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa, và với chức danh Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa, ông cũng đảm nhiệm luôn công việc của thủ tướng. Chính phủ này, cho tới cuối năm 1946, đă trải qua 3 lần thay đổi cơ cấu và nhân sự vào các thời điểm: ngày 1 tháng 1; tháng 3; và ngày 3 tháng 11.

Nhà nước và chính phủ của ông đối mặt với hàng loạt khó khăn cả về đối nội và đối ngoại. Về đối ngoại, khi này Việt Nam chưa được bất cứ quốc qia nào công nhận (Trung Quốc và Liên Xô công nhận Việt Nam lần lượt vào các ngày 18 và 20 tháng 1 năm 1950)[26], không phải thành viên Liên hiệp quốc[27] cũng như không nhận được sự ủng hộ nào về vật chất của các nước cộng sản khác. Ngoài 20 vạn quân của Tưởng Giới Thạch ở miền Bắc, c̣n có quân Anh và quân Pháp (vào thời điểm toàn quốc kháng chiến, tháng 12 năm 1946, Pháp có quăng 6 vạn quân), và khoảng 6 vạn quân Nhật. Về đối nội, "giặc đói, giặc dốt" - như chính cách ông gọi - và ngân quỹ trống rỗng là những vấn đề hệ trọng nhất[28][29].

Bởi thế ông thi hành một chính sách đối ngoại mềm dẻo và nhẫn nhịn. Ông nói "chính sách của ta hiện nay là chính sách Câu Tiễn, nhưng nhẫn nhục không phải là khuất phục"[30].

Với tập đoàn Tưởng Giới Thạch, ông chấp nhận sự hiện diện của Việt Cách, Việt Quốc trong các chính phủ liên tục được thay đổi, chấp nhận 70 ghế cho Việt Quốc, Việt Cách trong quốc hội không cần qua bầu cử. Ông cũng cung cấp gạo (ban đầu kiên quyết từ chối[31]) cho quân Tưởng. Quân Tưởng cũng được tiêu giấy bạc "kim quan" và "quốc tệ" tại miền Bắc. Trước đó, tháng 10 năm 1945, khi Hà Ứng Khâm, tổng tham mưu trưởng của quân đội Tưởng tới Hà Nội, hàng vạn người được huy động xuống đường, hô vang các khẩu hiệu "Ủng hộ chính phủ Hồ Chí Minh", "Ủng hộ chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa" để "đón tiếp".

Tháng 11 năm 1945, ông quyết định cho Đảng tự giải tán. Về mặt công khai, đảng của ông không c̣n hiện diện mà chỉ có một bộ phận hoạt động dưới danh nghĩa Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác ở Đông Dương[32].

Ông kêu gọi các đảng viên nếu tự xét thấy ḿnh không đủ phù hợp th́ nên tự rút lui khỏi hàng ngũ lănh đạo chính quyền[33]

Trước Quốc hội, ông tuyên bố: "Tôi chỉ có một Đảng - đảng Việt Nam"[34].

Theo Hiệp ước Pháp-Hoa, kư ngày 28 tháng 2 năm 1946, quân Pháp sẽ thay thế quân của Tưởng Giới Thạch. Một tuần sau, ngày 6 tháng 3 năm 1946, ông cùng Vũ Hồng Khanh kư với Jean Sainteny - Ủy viên Pháp ở miền bắc Đông Dương - bản Hiệp định sơ bộ với Pháp, với 3 nội dung chủ chốt:

Pháp công nhận Việt Nam "là một nước tự do, là một phần tử trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp". Trước đó, đàm phán căng thẳng khi ông muốn Việt Nam được công nhận là quốc gia độc lập và phản đối kịch liệt khi Pháp muốn dùng chữ "Quốc gia Tự trị" để mô tả tổ quốc của ông.
Pháp được đưa 1,5 vạn quân ra Bắc thế cho quân Tưởng, nhưng phải rút trong 5 năm, mỗi năm rút 1 phần 5 quân số.
Ngừng xung đột, giữ nguyên quân đội tại vị trí cũ.
Ngày 31 tháng 5 năm 1946, ông lên đường sang Pháp theo lời mời của chính phủ nước này; cùng ngày, phái đoàn chính phủ do Phạm Văn Đồng dẫn đầu cũng khởi hành. Trước khi đi, ông bàn giao quyền lănh đạo đất nước cho Huỳnh Thúc Kháng[35] với lời dặn "Dĩ bất biến, ứng vạn biến"[36]. Tại Việt Nam, ông dự đoán thời gian ở Pháp là "...có khi một tháng, có khi hơn"[37] nhưng cuối cùng ông ở Pháp 4 tháng (Hội nghị Fontainebleau diễn ra từ 6 tháng 7 tới 10 tháng 9 năm 1946) mà không tránh khỏi thất bại chung cuộc.

Ngày 14 tháng 9 năm 1946, ông kư với đại diện chính phủ Pháp, bộ trưởng Thuộc địa Marius Moutet, bản Tạm ước (Modus vivendi), quy định đ́nh chỉ chiến sự tại miền Nam, và thời gian tiếp tục đàm phán vào đầu năm 1947.

Thế nhưng những nhân nhượng đó cũng không tránh nổi chiến tranh. Sau khi nhận được liên tiếp 3 tối hậu thư của Pháp trong ṿng chưa đầy một ngày,ông kí lệnh kháng chiến. Tối ngày 19 tháng 12 năm 1946, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến do ông chấp bút được phát trên đài phát thanh. 20h tối cùng ngày, kháng chiến bùng nổ.


Giai đoạn kháng chiến chống Pháp
Tháng 3 năm 1947, ông và Trung ương Đảng chuyển lên Việt Bắc. Ông kêu gọi nhân dân tiêu thổ kháng chiến, tản cư cũng là kháng chiến, phá hoại (cho Pháp không lợi dụng được) cũng là kháng chiến.

Ngày 2 tháng 2 năm 1950, Hồ Chí Minh kí sắc lệnh tổng phản công trong năm 1950. Tuy vậy, sau đó nội dung của sắc lệnh này đă bị bác bỏ. Những lệch lạc trong công tác so sánh lực lượng hai bên tham chiến của phía Việt Nam cũng như sự chủ quan trong chỉ đạo đă bị kiểm điểm và uốn nắn.

Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 2 được tổ chức vào trung tuần tháng 2 năm 1951 tại Tuyên Quang, ông quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai trở lại. Tuy nhiên, khi này tên gọi không c̣n là Đảng Cộng sản nữa mà có tên mới là Đảng Lao động Việt Nam. Ông tuyên bố:

"Chính v́ Đảng Lao động Việt Nam là đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động, cho nên nó phải là đảng của dân tộc Việt Nam."[38]
Cuộc Chiến tranh Đông Dương kết thúc vào năm 1954, khi người Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ - sự kiện báo hiệu sự cáo chung của chủ nghĩa thực dân trên phạm vi toàn thế giới[39] - và dẫn đến Hiệp định Genève. Kết quả mà đoàn Việt Nam thu nhận được kém hơn nhiều so với mục tiêu đề ra ban đầu. Tuy vậy, trên các phương tiện truyền thông chính thức, Hồ Chí Minh tuyên bố "Ngoại giao đă thắng to![40]

Cuộc cải cách ruộng đất, phát động vào cuối năm 1953 (khởi sự tại Thái Nguyên)[41] cho tới khoảng cuối năm 1957, phạm nhiều sai lầm nghiêm trọng, nhất là trong việc lạm dụng đấu tố và xử tử những người bị liệt vào thành phần địa chủ, phú nông thậm chí vu oan và giết nhầm cả những đảng viên trung kiên. Từ tháng 2 năm 1956, công cuộc sửa sai được khởi sự. Những nhân vật cốt cán của cải cách bị đưa xuống:

Trường Chinh mất chức Tổng bí thư Đảng,
Hoàng Quốc Việt mất vai tṛ ủy viên Bộ Chính trị[42],
Lê Văn Lương bị buộc thôi ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị[43] và
Hồ Viết Thắng không c̣n là ủy viên dự khuyết của Ban chấp hành Trung ương Đảng nữa[44].
Cuối tháng 10 năm 1956, Vơ Nguyên Giáp - người không trực tiếp can hệ tới Cải cách ruộng đất - thay mặt Hồ Chí Minh (ở tư cách Chủ tịch nước) đọc báo cáo tại Hội nghị lần thứ 10 Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Nhà hát lớn Hà Nội. Báo cáo kê khai sai lầm và phục hồi chức vụ, tài sản và danh dự cho các cán bộ bị đấu tố. Bản thân Hồ Chí Minh đă viết thư nhận lỗi trước đồng bào từ tháng 8. Trường Chinh sau đó được bầu làm trưởng ban sửa sai cải cách ruộng đất. Ở hội nghị toàn quốc, ông lại nhận lỗi một lần nữa. Ông khóc, nhưng các chức vụ của ông không bị thay đổi.

Năm 1959, Hồ Chí Minh tới thăm Bắc Kinh nhân dịp kỷ niệm 10 năm cách mạng Trung Quốc. Trong những cuộc đàm phán riêng, ông nhận được sự hứa hẹn của cả Bắc Kinh lẫn Moskva để viện trợ thêm vũ khí và dân sự, nhưng đă khôn khéo từ chối những đề nghị gửi quân t́nh nguyện hay cố vấn quân sự đến Việt Nam[45].


Giai đoạn cuối đời
Từ khoảng nửa đầu thập niên 1960, Hồ Chí Minh được coi như chỉ c̣n nắm giữ vai tṛ biểu tượng của cách mạng. Quyền lực khi này đă tập trung về tay bí thư thứ nhất Lê Duẩn và một số nhân vật gần gũi trong Đảng Lao động Việt Nam[46], những người này đă chủ trương tích cực thúc đẩy quá tŕnh thống nhất đất nước bằng cách đẩy mạnh cuộc chiến tranh ở miền Nam. Theo lời ông Vũ Kỳ kể lại, Hồ Chí Minh chỉ biết sự kiện Tết Mậu Thân 1968 đă nổ ra khi nghe đài trong lúc đang dưỡng bệnh tại Trung Quốc.[47]

Hồ Chí Minh bắt đầu viết di chúc vào dịp sinh nhật ông năm 1965, và sửa lại trong những dịp sinh nhật trong những năm tiếp theo[48]

Ông liên tục ốm nặng trong khoảng hơn 3 năm cuối đời và từ trước đó, trong một số lần tiếp xúc ngoại giao, chẳng hạn như khi nói chuyện với Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô Alexey Nikolayevich Kosygin từ năm 1963, ông nói rằng ḿnh sẽ bàn giao mọi công việc cho Bí thư thứ nhất Lê Duẩn.


Qua đời

Hồ Chí Minh đang tăng gia, khi đă là chủ tịch nước
Lăng Chủ tịch Hồ Chí MinhHồ Chí Minh mất vào hồi 9 giờ 47 phút sáng ngày 2 tháng 9 năm 1969, tức ngày 21 tháng 7 âm lịch[49], hưởng thọ 79 tuổi.

Hà Nội đă nhận được hơn 22.000 bức điện chia buồn từ 121 nước trên khắp thế giới][50]. Nhiều nước trong khối xă hội chủ nghĩa đă tự tổ chức truy điệu và đưa ra những lời ca ngợi ông. Một tuyên bố chính thức từ Moskva đă gọi Hồ Chí Minh là một "người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng, nhà lănh đạo xuất chúng của Cộng sản quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc, và một người bạn lớn của Liên bang Xô Viết". Từ các nước Thế giới thứ ba, người ta ca ngợi ông trong vai tṛ của người bảo vệ những con người bị áp bức. Một bài báo xuất bản ở Ấn Độ miêu tả ông là sự kết tinh của "nhân dân và hiện thân của khát vọng đấu tranh cho tự do và cho sự đấu tranh bền bỉ của nhân dân"[51]. Những bài báo khác đề cao phong cách giản dị và đạo đức cao của ông. Một bài xă luận trên một tờ báo của Uruguay viết: "Ông có một trái tim bao la như vũ trụ và t́nh yêu trẻ thơ vô bờ bến. Ông là h́nh mẫu của sự giản dị trong mọi mặt"[52].

Phản ứng từ các nước phương Tây dè dặt hơn. Nhà Trắng và các quan chức cấp cao của Mỹ từ chối b́nh luận. Báo chí phương Tây đặt sự chú ư cao đối với cái chết của Hồ Chí Minh. Các tờ báo ủng hộ phong trào phản chiến có xu hướng miêu tả ông như là một đối thủ xứng đáng và là người bảo vệ cho những con người bị áp bức. Ngay cả những tờ báo đă từng phản đối mạnh mẽ chính quyền Hà Nội cũng ghi nhận ông là người đă cống hiến cả cuộc đời cho công cuộc kiếm t́m độc lập và thống nhất đất nước Việt Nam của ông, đồng thời là tiếng nói nổi bật trong việc bảo vệ những dân tộc bị áp bức trên toàn thế giới[53].

Tang lễ được tổ chức vào ngày 8 tháng 9 tại quảng trường Ba Đ́nh với hơn 100.000 người đến dự, trong đó có các đoàn đại biểu từ các nước xă hội chủ nghĩa. Hàng ngàn người đă khóc. Điếu văn truy điệu ông do Bí thư thứ nhất Lê Duẩn đọc, có đoạn viết:

"Hồ Chủ tịch kính yêu của chúng ta không c̣n nữa. Tổn thất này vô cùng lớn lao. Đau thương này thật là vô hạn ! Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đă sinh ra Hồ Chủ tịch - Người anh hùng dân tộc vĩ đại. Và chính Người đă làm rạng rỡ dân tộc ta, nhân dân ta và non sông đất nước ta..."[54].
Trong di chúc, ông muốn được hỏa táng và đặt tro tại ba miền đất nước[55][56]. Tuy nhiên, từ đó đến nay, thi hài ông được bảo quản ở Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Hà Nội để mọi người có thể đến viếng, tương tự như đối với thi hài Lenin ở Moskva[57].

Trong bài thơ "Bác ơi" của Tố Hữu, sáng tác ngày 6 tháng 9 năm 1969, có đoạn:

Bác để t́nh thương cho chúng con
Một đời thanh bạch, chẳng vàng son
Mong manh áo vải hồn muôn trượng
Hơn tượng đồng phơi những lối ṃn.[58]

Các câu nói

Các câu nói nổi tiếng

Wikiquote sưu tập danh ngôn về:
Hồ Chí MinhTôi nói, đồng bào có nghe rơ không?[59]
Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành[60]
Tôi chỉ có một Đảng: Đảng Việt Nam.[61]
Không có ǵ quư hơn độc lập, tự do!
Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một; sông có thể cạn, núi có thể ṃn, song chân lư ấy không bao giờ thay đổi.
V́ lợi ích mười năm th́ phải trồng cây, v́ lợi ích trăm năm th́ phải trồng người.[62]
H́nh ảnh miền Nam luôn ở trong trái tim tôi.
Nhiệm vụ của thanh niên không phải là đ̣i hỏi Nước nhà đă cho ḿnh những ǵ, mà phải tự hỏi ḿnh đă làm ǵ cho Nước nhà? Ḿnh phải làm thế nào cho ích lợi Nước nhà nhiều hơn? Ḿnh đă v́ lợi ích Nước nhà mà hy sinh phấn đấu đến chừng nào?[63]

Các câu nói khác

1945 - 1946
Bọn ấy sang th́ chả tử tế ǵ đâu. Chúng sẽ ăn hại, báo hại, đưa phản động về phá ta, làm những điều chướng tai gai mắt.[64]
Các ông giết 10 người của chúng tôi, chúng tôi giết 1 người của ông, nhưng cuối cùng các ông sẽ là người kiệt sức[65]

Thập niên 1960
Chủ nghĩa Mác-Lênin Việt Nam là chủ nghĩa Mác-Lênin có lí có t́nh![66]
Tôi xin mời Johnson tới Hà Nội như là khách của chúng tôi. Ông hăy đến với vợ và con gái, người thư kí, người bác sĩ và người đầu bếp của ḿnh. Nhưng đừng mang theo tướng lĩnh và đô đốc![67]
Mĩ phải cút đi! Chúng tôi trải thảm đỏ cũng được, nhưng Mĩ phải cút đi! Mĩ phải chấm dứt xâm lược. Johnson miệng nói ḥa b́nh tay lại kí những lệnh điều động quân. Chúng tôi không bác bỏ ǵ hết, nhưng nhân dân chúng tôi phải được yên ổn. Chúng tôi không muốn trở thành người chiến thắng. Chúng tôi chỉ muốn Mĩ cút đi! Gút-bai![68]
Tôi nói với nhân dân Việt Nam rằng họ là con cháu tôi, v́ vậy tôi sống rất b́nh yên và giản dị, tôi ngủ rất ngon, ngay cả khi có việc ném bom của các ông.[69]
Tôi là người đa nghi và tôi có lí do để ngờ vực. Người Mĩ các ông ít nhiều đều là nhà kinh doanh. Tôi cũng là nhà kinh doanh... Khi việc ném bom chấm dứt, câu chuyện bắt đầu. Chúng ta sẽ xem các mặt hàng.[70]
Chúng tôi và nhân dân chúng tôi sẵn sàng nói chuyện với nhà cầm quyền Mĩ và nhân dân Mĩ. Nhưng với Johnson và Mc Namara th́ hoặc là trải thảm đỏ hoặc đá đít ra ngoài cửa.[71]
Chúng tôi sẵn sàng đem hoa và nhạc tiễn họ và mọi thứ khác họ thích, nhưng ông biết đấy, tôi thích tiếng lóng của các ông: qu'ils foutent le camp! ("qu'ils foutent le camp" có nghĩa là "hăy cút đi")[72]
Đế quốc Mỹ chán rồi, nhưng rút ra như thế nào. Thua mà danh dự. Đó là điều Mỹ muốn![73]

H́nh ảnh cộng đồng

Phủ Chủ tịch và Bảo tàng Hồ Chí Minh

Các thiếu nhi khóc trong lễ tang Hồ Chí Minh năm 1969Sau khi cuộc kháng chiến chống Pháp kết thúc, phủ toàn quyền Đông Dương bên cạnh Quảng trường Ba Đ́nh, nơi ông đă đọc Tuyên ngôn độc lập được chọn là nơi làm việc của Đảng, Nhà nước và đồng thời là nơi ở, nơi làm việc của Chủ tịch nước. Từ đó trở đi, nơi đây trở thành Khu di tích Phủ Chủ tịch. Khu này là nơi sống và làm việc lâu nhất trong cuộc đời hoạt động cách mạng của ông - từ 19 tháng 12 năm 1954 đến 2 tháng 9 năm 1969 (đây cũng là khoảng thời gian ông có những đóng góp quan trọng nhất trong lịch sử Việt Nam). Khu di tích Phủ Chủ tịch, hàng năm đón nhiều khách tham quan trong và ngoài nước.

Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh được thành lập theo quyết định của Bộ Chính trị ngày 12 tháng 9 năm 1977.


Thành phố Hồ Chí Minh
Năm 1976, kỳ họp Quốc hội đầu tiên sau ngày Việt Nam được thống nhất đă thống nhất quyết định đổi tên thành phố Sài G̣n thành Thành phố Hồ Chí Minh nhằm tôn vinh ông.


Giải thưởng và Huân chương
Tên của ông được Nhà nước Cộng ḥa Xă hội Chủ nghĩa Việt Nam đặt cho giải thưởng cao quư nhất dành cho những cống hiến trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ của công dân Việt Nam: Giải thưởng Hồ Chí Minh. Huân chương Hồ Chí Minh là huân chương bậc cao thứ nh́ của Nhà nước.


H́nh ảnh khác

Mọi tờ tiền giấy tại Việt Nam hiện nay đều in h́nh chủ tịch Hồ Chí MinhTại Việt Nam ngày nay, ông được xem là nhân vật chính trong công cuộc giải phóng dân tộc. Đối với nhiều người, ông là một nhà yêu nước đă vận dụng chủ nghĩa cộng sản vào công cuộc giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân và đế quốc. H́nh ảnh và tượng ông hiện diện tại nhiều nơi công cộng, cũng như trên tất cả các đồng tiền giấy đang lưu hành tại Việt Nam. Tượng bán thân và h́nh của ông cùng với quốc kỳ là thứ gần như bắt buộc phải có tại tất cả các cơ quan nhà nước, trường học, bệnh viện tại Việt Nam. Tên của ông, tên của thành phố lớn nhất Việt Nam, cũng được đặt cho nhiều công tŕnh công cộng, như đường quốc lộ, quảng trường. Tính giản dị và kiên cường của ông được nhiều người kính mến.


"Bác Hồ"
Nhiều người dân Việt Nam yêu quư ông, gọi ông bằng cái tên thân mật "Bác Hồ". Trong văn thơ, ông c̣n được gọi là "Người Cha già của dân tộc". Ông c̣n được thờ trong một số đền chùa và gia đ́nh. Một số dân tộc thiểu số Việt Nam, như Vân Kiều, Pa Cô, Kor, đă lấy họ Hồ v́ yêu quư ông[74].


Bộ tem đầu tiên của Việt Nam phát hành ngày 2 tháng 9 năm 1946




Một trong những con tem đầu tiên của Việt Nam (Tem giấy dó)




Một số mẫu tem bưu chính nước ngoài về Hồ Chí Minh




Hồ Chí Minh trên b́a Tuần báo Time năm 1954






Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới
Ông được xem là một danh nhân không chỉ của dân tộc Việt Nam mà c̣n của thế giới. UNESCO đă tôn vinh ông là Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa và khuyến nghị các nước thành viên tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông[75]. Tuần báo TIME của Hoa Kỳ đánh giá Hồ Chí Minh là một trong 100 nhân vật có tầm ảnh hưởng lớn nhất trong thế kỷ 20.

Là một người lănh đạo cuộc đấu tranh của Việt Nam giành độc lập khỏi chế độ thực dân Pháp, với chiến thắng quyết định ở trận Điện Biên Phủ, ông được người dân ở những nước thuộc địa trước đây của Pháp, chủ yếu ở Bắc Phi và Tây Phi, kính trọng, và được coi như tấm gương cho cuộc giải phóng tại đất nước họ. Tên ông đă được đặt cho các đại lộ tại Luanda (Angola), tại Ouagadougou (Burkina Faso) và tại Maputo (Mozambique). Nhiều nước trên thế giới đă phát hành tem bưu chính kỷ niệm ông: Liên Xô, Ấn Độ, Lào, Madagascar, Algérie, Cuba, Đông Đức, Triều Tiên, Quần đảo Marshall, Dominica...


Bàn căi
Tuy thế, nay vẫn c̣n có nhiều bàn căi về sự nghiệp của ông. Là một trong những người đưa chủ nghĩa cộng sản đến với Việt Nam, ông là một mục tiêu chống đối của những người theo chủ nghĩa chống cộng. Đối với những người chống cộng, ông là một kẻ tranh thủ thời cơ để giành chính quyền và tạo ra một chế độ cực quyền.
Đă có những ư kiến[cần dẫn chứng] cho rằng h́nh ảnh của ông đă được Đảng Cộng sản Việt Nam lạm dụng một cách quá đáng để duy tŕ chế độ cộng sản tại Việt Nam.

Thần tượng hóa
Ở Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh được ca ngợi như một người toàn đức toàn tài mà ai cũng cần noi theo. Nhiều khẩu hiệu được sử dụng khắp nơi, nhiều nhất là:

Đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại
Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống măi trong sự nghiệp chúng ta
Nhiều phát biểu, câu nói của Hồ Chí Minh được đăng tải trên các phương tiện truyền thông như là những câu danh ngôn, chân lư. Học sinh tiểu học thường học thuộc năm điều Bác Hồ dạy:

Yêu tổ quốc, yêu đồng bào
Học tập tốt, lao động tốt
Đoàn kết tốt, kỷ luật tốt
Giữ ǵn vệ sinh thật tốt
Khiêm tốn, thật thà, dũng cảm
Không phải chỉ những người khác đă thần tượng hóa ông, chính bản thân ông cũng tự viết về ḿnh trong vai người khác (các cuốn Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch và Vừa đi đường vừa kể chuyện). Có quan điểm cho rằng các tác phẩm này có nội dung tự khen ngợi.


Tác phẩm
Bản án chế độ thực dân Pháp (1925)
Đường kách mệnh (1927)
Nhật kư trong tù (1942, thơ)
Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch[8] (bút danh Trần Dân Tiên [76] [77] [78][79])
Vừa đi đường vừa kể chuyện (bút danh T. Lan[80],[81])
T. Lan trong sách là một cán bộ trong đoàn tùy tùng, đi bên cạnh Hồ Chí Minh trong rừng núi Việt Bắc và được Hồ Chí Minh vui miệng kể chuyện cho nghe nhiều chuyện.
Hồ Chí Minh toàn tập, ấn bản I: NXB Sự thật (1980-1989), ấn bản II: NXB Chính trị Quốc gia (1995-1996)

Tên gọi, bí danh, bút danh
Ngoài tên gọi Hồ Chí Minh (dùng từ 1942), và tên Nguyễn Tất Thành (阮必成) do gia đ́nh đặt, trong cuộc đời ḿnh, ông c̣n có nhiều tên gọi và bí danh khác như Paul Tất Thành (1912); Nguyễn Ái Quốc (阮愛國, từ 1919); Văn Ba (khi làm phụ bếp trên tàu biển, 1911); Lư Thụy (李瑞, khi ở Quảng Châu, 1924-), Hồ Quang (1938-40), Vương (Wang) (1925-27, 1940), Tống Văn Sơ (1931-33), Trần (1940) (khi ở Trung Quốc); Chín (khi ở Thái Lan, 1928-30) và được gọi là Thầu (ông cụ) Chín; Lin (khi ở Liên Xô, 1934-38); Chen Vang (trong giấy tờ đi đường từ Pháp sang Liên Xô năm 1923); ông cũng c̣n được gọi là Bác Hồ, Bok Hồ, Cụ Hồ. Khi ở Việt Bắc ông thường dùng bí danh Thu, Thu Sơn và được người dân địa phương gọi là Ông Ké, Già Thu,. Tổng thống Indonesia Sukarno gọi ông là "Bung Hồ" (Anh Cả Hồ).

Ông c̣n dùng hơn 50 bút danh khi viết sách, báo: Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn, Nguyễn A.Q, Ng A.Q, Ng. Ái Quốc, N.A.Q, N., Wang, N.K., A.N; P.C. Lin, P.C. Line (1938, Trung Quốc), Line (1938, Trung Quốc), Q.T, Q.TH, Lê Quyết Thắng (1948-50), A.G, X.Y.Z (1947-50), G., Lê Nhân, Lê, Lê Ba, Lê Nông, Lê Thanh Long, L.T., T.L. (1955-69), T.Lan (1955-69), Tuyết Lan, Thanh Lan, Đin (1950-53), Tân Trào, Đ.X (trong chuyên mục "Thường thức chính trị" trên báo Cứu quốc năm 1953), C.B (trên báo Nhân Dân 1951-57), V.K., K.C., C.K., Trần Lực (1948-61), C.S, Chiến Sĩ, Chiến Đấu, La Lập, Nói Thật, Thu Giang, K.V., Thu Giang, Trầm Lam, Luật sư TH. Lam, Nguyễn Kim, K.O, Việt Hồng...


Hồ Chí Minh trong văn học, nghệ thuật

Âm nhạc

Hồ Chí Minh và em béBài hát "Bác Hồ, một t́nh yêu bao la" của nhạc sĩ Thuận Yến
...Bác thương các cụ già xuân về gửi biếu lụa, Bác yêu đàn cháu nhỏ trung thu gửi cho quà. Bác thương đoàn dân công đêm nay ngủ ngoài rừng, Bác thương người chiến sĩ đứng gác ngoài biên cương..."
Bài hát "Hồ Chí Minh đẹp nhất tên người" của nhạc sĩ Trần Kiết Tường:
...Trên cánh đồng miền Nam, đau thương mây phủ chân trời. Khi ca lên Hồ Chí Minh, nghe ḷng phơi phới niềm tin...
Bài hát The Ballad of Ho Chi Minh (Bài ca Hồ Chí Minh) [9] của nhạc sĩ người Anh Ewan MacColl
...From VietBac to the SaiGon Delta. Marched the armies of Viet Minh. And the wind stirs the banners of the Indo-Chinese people. Peace and freedom and Ho Chi Minh...
Bài hát Teacher Uncle Ho (Bác Hồ - Thày giáo) của Pete Seeger:
...I'll have to say in my own way. The only way I know, that we learned power to the people and the power to know. From Teacher Uncle Ho!

Thơ, văn
Bài thơ "Người đi t́m h́nh của nước" của nhà thơ Chế Lan Viên:
...Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba-lê
Một viên gạch hồng Bác chống lại cả một mùa băng gi
Go to the top of the page
 
+Quote Post
The Following 2 Users Say Thank You to nguoi yeu nhac do For This Useful Post:
bocapscorpion, dangnhan08

Reply to this topicStart new topic
1 User(s) are reading this topic (1 Guests and 0 Anonymous Users)
0 Members:

 



Bản vắn tắt Giờ hiện tại:: 21st October 2019 - 01:52 AM
Skin IPB: Invisionpower.fr - IP.Board France